Thứ Hai, 18/11/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

28/08/2019 09:45 822
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Trong khi các mộ táng thời kỳ phong kiến độc lập ở Việt Nam như Trần – Lê – Nguyễn tìm thấy không ít, khiến có thể phần nào nhận định và khôi phục được táng thức của từng thời đại – cho dù chỉ ở tầng lớp trên của xã hội đương thời – thì mộ táng thời Lý vẫn còn một khoảng trống lớn, gây bao nỗi băn khoăn cho giới nghiên cứu khảo cổ học nói chung và khảo cổ học lịch sử nói riêng. Chẳng lẽ đó là một thực tế, khi mà triều đại lịch sử này tồn tại đến hai trăm năm có lẻ? Vì lý do ấy, tôi mong được giãi bày suy nghĩ tuy còn nặng về giả thiết của mình về mộ táng thời Lý để các đồng nghiệp quan tâm, cùng nhau tìm thêm tư liệu khả dĩ và chắc chắn hơn, đặng làm sáng tỏ nỗi băn khoăn đã đeo đẳng theo tôi suốt mười mấy năm qua.

I. NHỮNG TƯ LIỆU ÍT ỎI VÀ MỜ NHẠT.

Năm 1974 “ngôi mộ” ở xã Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc được khai quật. Cấu trúc của nó như sau:

Huyệt mộ không còn nhận rõ vì đất bị xáo trộn. Huyệt dài 14m, rộng từ 13 – 15m, sâu nhất 6m. Thành huyệt hơi thu nhỏ ở đáy, nhiều chỗ dùng đá dăm đóng vào thành dải dài.

Nền mộ hình chữ nhật, dài 12m, rộng 8m, sâu 24,8m so với mặt đất nền.

Ba mặt bắc, đông, tây của tường mộ được xẻ rãnh sâu hơn nền mộ 0,8m để xây tường. Ngoài cùng sát vách huyệt là tường đá hộc dài 14m, cao 2,6m, rộng 1,2m – 1,5m. Xếp khá phẳng, các lỗ hổng trát kín bằng đất sét. Trong tường đá là tường đất sét, dày 0,2m, cao và dài bằng tường đá. Giữa tường đất sét và nền mộ là gạch (41 hàng) cỡ 0,40 x 0,4 x 0,05m. Phía Đông và Tây dài 11m, dày 0,409m và lên độ cao 2,5m thì dùng gạch múi bưởi bắt vòm (từ đỉnh vòm tới nền là 3,6m). Lớp thứ tư là bức tường áp sát tường gạch, dài 11,3m, cao 3,1m gồm những viên đá lớn mài nhẵn, vuông vắn được xếp khít nhau từ chân tường lên. Mặt đông và tây phía trong tường đá còn một hàng đá kè dưới chân, dài 8,8m, rộng 0,1m. Tường phía bắc còn nguyên vẹn, xây bằng đá, có gia công mặt tường phẳng, cao 2,4m, dài 0,40m. Giữa tường có đục một khám hình chữ nhật.

Lòng mộ rộng 5,6m, dài 8,8m, bị lấp dày đất sét và đá vôi xanh. Không còn dấu vết quan tài, xương cốt và đồ tùy táng. Chính giữa lòng mộ có một hàng đá cao 0,71m, dài 5,8m, xếp từ ngoài vào, và dừng lại, cách vách bắc 2,9m, chia mộ làm hai phần bằng nhau. Chín viên đá có kích thước lớn, mài trơn xếp khít.

Mộ có hai cửa lấy hàng đá giữa làm trục. Cửa rộng 1,2m. Hai đầu có đá hình khối hộp mài nhẵn xếp hai bên. Một hàng gạch chôn đứng nhô cao 0,1m làm ngạch cửa.

Tường phía sau còn lại vết tích vòm mộ dưới là đá tảng xếp cong hình nấm, trên có trát đất sét. Ngoài cùng có gạch phủ, lên cấp.

Những người khai quật căn cứ vào gạch xây mộ, ngói chèn ở tường mộ, chất liệu, kỹ thuật xây dựng và đặc biệt là chất kết dính bằng đất, cho rằng niên đại mộ thuộc thời Lý. Chủ nhân của ngôi mộ có thể là thái sư Lê Văn Thịnh, ông đã xây cất “ngôi nhà” của mình ở thế giới bên kia lúc còn là vị quan đầu triều, nhưng đến khi chết lại không được chôn vào đó vì mắc tội phải đi đầy (Trịnh Cao Tưởng, Trần Đình Luyện và Phan Tiến Ba 1976: 93 - 95).

Ba năm sau, 1977, Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Vĩnh Phú khai quật ngôi mộ ở Gò Lăng Cấm, xã Hương Nộn, huyện Tam Nông.

Huyệt mộ đã bị xe ủi phá vỡ ba mặt đông, tây, nam nên không thể xác định được kích thước.

Quách mộ có hình khối hộp chữ nhật, dài 3,8m, rộng 2,4m không xác định được chiều cao vì mộ đã bị phá hoại. Vách quách còn lại, chỗ cao nhất là 1,4m. Quách được xây bằng đá cuội có kích thước lớn. Và, tuy thành quách phẳng phiu, góc cạnh vuông vắn nhưng kỹ thuật xây rất đơn giản: những viên đá cuội được xếp lên nhau một cách khéo léo, không có chất kết dính tham gia.

Bên trong vách không có quan tài và đồ tùy táng, khâm liệm. Toàn bộ chỉ là lớp than tro dày đặc, lẫn lộn với đất, chứng tỏ mộ đã bị xáo trộn. Trong lớp than tro tìm thấy mấy mảnh tiền đồng rỉ nát, không nhận dạng được.

Nhân dân địa phương cho biết rằng khi xe ủi đất chạm vào mộ, đã làm bật ra một số vật bằng đồng, trông giống như hình mũi tên, hình miếng cau; Song tất cả đều đã thất lạc.

Căn cứ vào truyền thuyết và văn bia ở chùa Phúc Thánh, gần ngôi mộ, những người khai quật cho đây là mộ Lê Lan Xuân, vợ thứ tư của vua Lý Thần Tông. Bia ghi “Phụng thánh phu nhân Lê thị mộ chí”, trong bia có đoạn: “tu tạo đại danh lam cổ tích linh thiêng là chùa Diệu Linh - Phúc Thánh ở phía đông mộ”. Lời trong văn bia phù hợp với vị trí mộ ngày nay.

Người chết được hỏa táng ngay trong mộ vì những vết ám khói ở thành quách còn rõ (Đặng Kim Ngọc 1977: 195-196).

Như vậy, hai tư liệu còn quá ít ỏi, so với lịch sử dài lâu của thời kỳ này – cũng cho ta thấy một kiểu thức cấu trúc của mộ táng thời Lý và phong tục hỏa thiêu đã hé sáng qua tư liệu ở một ngôi, dù đó là của vợ thứ vua, thuộc tầng lớp quý tộc sùng đạo Phật. Dẫu cho những người khai quật đã có công so sánh, đối chiếu, thu thập, và gạn lọc mọi tư liệu có liên quan để khẳng định chủ nhân và niên đại mộ, thì người đọc vẫn còn cảm thấy một điều gì đó chưa ổn khi tư liệu vật chất trực tiếp trong hai ngôi mộ này không còn hoặc không có gì. Ngoại trừ ngôi mộ thứ hai, có nhiều tàn tích chứng tỏ đó là ngôi mộ hỏa thiêu và lối kiến trúc có liên quan ít nhiều tới những ngôi mộ mà chúng tôi sẽ giải thích ở phần dưới đây, thì ngôi mộ thứ nhất, quả thật, có nhiều mối liên hệ với loại hình mộ quách gạch đầu Công nguyên hơn là những gì có liên quan tới kiến trúc thời Lý, tức sự tham gia của vật liệu đá. Tuy nhiên, nếu thừa nhận đây là ngôi mộ giả của thái sư Lê Văn Thịnh, thì chỉ riêng điều ấy, tự nó đã không đủ tính chất của một ngôi mộ chân chính.

Do đó, cho dù những người khai quật cho rằng “việc phát hiện và khai quật ngôi mộ Hương Nộn đã cho chúng ta biết thêm về một loại hình mộ táng mà còn đang rất hiếm thấy ở Việt Nam” (Đặng Kim Ngọc 1977: 195-196), thì theo tôi hai ngôi mộ trên đây – chứ không chỉ một, vẫn chỉ là những tư liệu rất mờ nhạt, khó có thể thông qua chúng để hiểu được cấu trúc, táng thức mộ táng của một thời đại dài lâu trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Phải chăng bài viết này sẽ tô đậm cho nét mờ nhạt ấy? Hoàn toàn không đủ tư liệu để làm một việc quá sức như thế. Tác giả bài này chỉ dám thu gom những đốm sáng, với mục đích làm cột tiêu cho những ai quan tâm, đang mò tìm mộ táng thời Lý, trong một đường hầm tưởng như không có lối ra, từ mấy chục năm qua.

II. NHỮNG ĐỐM SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM.

Những bận tâm nhiều năm về mộ táng thời Lý khiến cho tôi và không ít đồng nghiệp truy tìm, dù chỉ là những gợi ý hay những tín hiệu mang nặng giả thiết công tác.

May thay, Lê Đình Phụng và Phan Tiến Ba đã có một nhận xét đáng quan tâm sau khi khai quật khu mộ Mường ở Đống Thếch, Kim Bôi (Hòa Bình). “Đồ gốm sứ mai táng dù có khoảng thời gian dài từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 17, nhưng xét tổng thể, vẫn thấy hiện vật thuộc thế kỷ 17 chiếm đa phần” (Lê Đình Phụng, Phan Tiến Ba 1986: 49). Dẫu có nhiều điểm đáng bàn rút ra từ nhận xét này, nhưng ghi nhận trên đây của hai tác giả, đã hé ra nhiều tư liệu rất đáng quan tâm.

 

Khu mộ cổ Đống Thếch nằm lõm sâu trong thung lũng xóm Chiềng

 

Những văn tự được tạc khắc vẫn còn lưu giữ trên các cột đá xếp xung quanh các ngôi mộ

Sau đó Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới, dù khai quật ở một khu mộ Mường khác, nhưng lại có những ghi chú khá phù hợp với nhận xét trên: “Bộ sưu tập gốm ở khu mộ này (Nhuận Trạch và Phù Cát – P.Q.Q) phần lớn là gốm Trần điển hình, có một số gốm thời Lý (Trần Anh Dũng, Lại Văn Tới 1986: 32)”.

Từ hai nhận xét này, đương nhiên là có kết hợp với tư liệu khác nữa, tôi đã cho rằng, niên đại của mộ Mường còn sớm đến tận thời Lý, mà các tác giả trên đã quan sát được qua tư liệu gốm sứ, dù cho những vết tích cấu trúc hoàn toàn không có khả năng khôi phục.

Tháng 7/1992, tôi có dịp đi công tác ở huyện Lương Sơn (Hòa Bình). Nghe tin gia đình ông Nhiễu, ở cách thị trấn Lương Sơn khoảng 3km, trong khi đào đất làm nhà, có phát hiện được một số hiện vật gốm sứ khá hấp dẫn. Không chù chừ, tôi đã đến tìm hiểu vì sợ rằng số hiện vật trên chẳng còn lưu lại được bao lâu, do việc buôn bán và săn lùng đồ cổ.

Bộ sưu tập khá thuần nhất về niên đại, gồm:

- 1 chiếc thạp hoa nâu chân tiện trổ thủng, riềm miệng cánh sen thon đúc nổi, cong vồng, cánh to xen cánh nhỏ, thân thạp chia 4 ô dọc, trong ô vẽ hoa nâu bốn cánh mảnh nhọn, nền hoa nâu là men vàng chanh.

- 1 chiếc chậu gốm đáy bằng để mộc, men phủ mầu vàng chanh, có rạn nhỏ, thân được chia 4 ô, trong vẽ hoa bốn cánh như trên thạp.

- 1 chiếc chậu nhỏ hơn, có màu men tương tự như chậu và thạp, nhưng không trang trí hoa văn.

- 1 chiếc ống nhổ hình giỏ cua, cũng có mầu men và trang trí hoa như chiếc chậu và thạp.

- 1 chiếc ấm, miệng tì bà, men màu trắng đục như nước gạo nếp, không hoa văn.

-1 chiếc đĩa gốm lớn men trắng đục, để mộc, trong lòng trang trí đồ án hoa sòi.

- 3 chiếc bát Céladon Tống, trôn nhỏ lòng sâu, ngoài vuốt cánh cúc nổi, trôn nổi vồng lên như chũm cau.

Theo gia đình số hiện vật này lấy lên từ một chỗ, lẫn với tro than, nằm sâu 3,5m.            

Tôi cố tình gạn hỏi từng lớp đất và tình hình phân bố số hiện vật trên ra sao trong lớp than tro, cùng những dấu tích trên mặt đất, để biết được nơi đó có mộ, trước khi đào? Tất cả chỉ là ngẫu nhiên khi đào móng nhà. Mọi thành viên trong gia đình đều trả lời như thế. Do vậy, mọi quan sát của gia đình cũng chẳng đưa lại một thông tin gì nhất quán, trừ hiện tượng than tro dày đặc. Than tro còn dính vào hiện vật khi chúng tôi đến xem.

Như vậy, dù nhiều điều chưa rõ, nhưng chắc chắn đây là ngôi mộ, mà chí ít, hiện tượng than tro là khá phổ biến của mộ Mường cổ, đã biết từ trước tới nay. Tuy nhiên ngôi mộ này có cột đá bao quanh, có chồng xếp đá, lon sành, rải cuội hay không và là mộ hung táng hay hỏa táng… sẽ là điều bí ẩn chẳng bao giờ được giải đáp khi nơi đây đã từ lâu trở thành thổ cư, khiến ngày nay, chẳng ai biết rằng, xưa kia nó là nghĩa địa cổ. Và người “khai quật” lại chẳng có mấy ý thức về việc tìm hiểu những vấn đề trên, ngoài thu hiện vật.

Dẫu là như thế, người đi thăm hỏi điều tra điền dã, qua quan sát sưu tập hiện vật trên, có thể chắc chắn rằng, có niên đại Lý trong phức hợp mộ Mường cổ. Và những lưu ý trước đây của các tác giả Trần Anh Dũng, Lại Văn Tới, Lê Đình Phụng, Phan Tiến Ba, có thể bị bỏ qua, và may chăng có được chiếu cố xem xét tới, lại lý giải như một hiện tượng chơi cổ ngoạn của người đời sau.

Tôi hoàn toàn phản đối giả thiết này, bởi những hiện vật chôn theo, thuần là những đồ gia dụng, chứ không phải là đồ thờ cúng, cung đình. Chúng hoàn toàn phản ánh đời sống sinh hoạt hàng ngày, mà người sống đã chia cho người quá cố mang sang thế giới bên kia. Chỉ có trống đồng- hiện vật biểu tượng quyền uy trong xã hội Việt - Mường lúc bấy giờ, do vua ban phát cho các tù trưởng, được truyền tử lưu tôn qua các thế hệ mới ít nhiều mang ý nghĩa cổ ngoạn mà thôi.

Nói đâu xa, ngay xã hội ta ngày nay, thưởng thức cổ ngoạn vẫn là một hiện tượng “xa xỉ” chẳng mấy ai ưa thích. Huống chi, một xã hội Mường lạc hậu, cư trú trên nhà sàn, đồ dùng tre nứa là chủ yếu trong dân gian - làm sao có thể giữ được cổ vật qua hàng bao nhiêu thế kỷ, như chúng ta tưởng tượng.

Lương Sơn, không phải là hiện tượng duy nhất.

Tại Sơn Tây, sát chân núi Ba Vì, trên đường đi Ao Vua, trong chuyến đi công tác với công an Quận Đống Đa, xe bị hỏng, cách Ao Vua khoảng 8km về phía Hà Nội, tôi lững thững ven đường, thì một cậu bé đưa tôi đến một ngôi nhà ở một làng ven lộ. Mấy thanh niên có cho tôi xem một sưu tập hiện vật đẹp đến ngỡ ngàng. Đó là chiếc thạp Lý men xanh trắng ngả lục, riềm miệng đúc nổi cánh sen, cao khoảng 0,80m. Một chiếc ấm men tương tự, miệng đấu dáng tì bà, vòi hình đầu phượng. Ba chiếc đĩa và 1 chiếc bát Céladon Tống. Hai chiếc âu Celadon Tống, men đã ngả màu vàng do đất đỏ xâm thực trang trí ám hoa sòi gấm bên trong.

Tất cả hiện vật trên được đào lên từ một chỗ, tại khu vườn mía của gia đình, cách nhà không xa. Tình trạng hiện trường cũng được miêu tả như ở Lương Sơn. Do vậy, người viết những dòng này cũng chỉ may mắn hơn độc giả, là được quan sát trực tiếp sưu tập hiện vật ấy và khẳng định chắc chắn rằng, chúng có cùng niên đại, và nằm trong một ngôi mộ.

Dẫu hiện tượng thấy ở hai nơi cách xa nhau hàng trăm kilômét, song người đi điền dã không khỏi liên tưởng đến một nghi chép dân tộc học nổi tiếng từ một áng mo tuyệt tác “Vườn hoa núi Cối” của vùng Mường Hòa Bình. Đó là một bi tình sử đầy nước mắt giữa ông Lang Cun Mường với một cô công chúa Lý, do sự hiểu lầm, mà cả hai đều đi đến một cái chết đau thương. Ngôi mộ của hai nhân vật cùng những cung lầu nguy nga của họ còn được áng mo truyền lại đến nay, tới mức mà, mỗi người già ở Dũng Phong, Kỳ Sơn, không ai là không biết đến.

Truyền thuyết đã làm sáng tỏ thêm cho hai hiện tượng khảo cổ học nêu trên, để từ đó, càng tin rằng: mộ thời Lý ở Hòa Bình là có thật.

Lật dở các trang sử biên niên, chỉ một bộ Đại Việt sử ký toàn thư, cũng đủ thấy triều Lý có quan hệ rất mật thiết với các tù trưởng, đồng thời cũng hướng phần mộ của mình lên vùng núi cao.

Vua Lý đã tiến hành nghi lễ mai táng ở vùng rừng Lục Ngạn (Hà Bắc) ngày nay: “Ngày Ất Dậu, Vua bắt đầu ngự điện Thiên An coi chầu. Xuống chiếu cho các quan bỏ áo trở. Ngày hôm ấy, vua ngự ra Na Ngạn, xem các cung nữ lên dàn thiêu để chết theo Đại Hành Hoàng đế” (Ngô Sĩ Liên: 1967: 158).

Việc xây dựng phần mộ của mình cũng được thể hiện ở vùng núi. Đương nhiên, ngoài yếu tố phong thủy, còn có một ý tưởng, hẳn là vậy - trở về nguồn của các bậc cao minh. “Sai gián nghị đại phu Mậu Du Đô đến phủ Thiên Đức chọn đất tốt xây sơn lăng của Nhân Tông” (Ngô Sĩ Liên 1967; 158).

Tiền của cung đình hẳn không thiếu để có thể đắp núi giả, xây lăng mộ ở vùng đồng bằng cho các tổ phụ các triều của vua Lý. Hoàng tộc đã không làm, hẳn phải có lý do. Một trong những lý do ấy, phải chăng mối quan hệ với Mường khá sâu nặng. Tầng lớp quý tộc đã vậy, chắc hẳn dân dã cũng có quan hệ sâu nặng hơn.

Thế kỷ 11 được dân tộc học lịch sử, ngôn ngữ lịch sử, văn hóa lịch sử, xem như là thời điểm mới tách ra của hai khối cộng đồng Mường và Việt từ một khối nền và một nguồn ngôn ngữ Việt - Mường chung (Nguyễn Lương Bích 1974: 11; Trần Quốc Vượng 1981: 219), do đó giữa hai khối dân tộc này có nhiều mối liên hệ với nhau về nguồn gốc.

Sự quan hệ ấy được triều Lý đặc biệt quan tâm, qua những mối dây ràng buộc từ việc gả bán công chúa Lý cho các tù trưởng địa phương. “Tháng 3 ngày mồng 7 đem công chúa Bình Dương gả cho châu mục châu Lạng là Thân Thiện Thái” (Ngô Sĩ Liên 1967: 207). “Tháng 3 đem công chúa Kim Thành gả cho châu mục Phong Châu là Lê Thuận Tông” (Ngô Sĩ Liên 1967: 213). “Mùa thu, tháng 8, đem công chúa Tường Ninh gả cho châu mục châu Thượng Oai là Hà Thiên Lâm” (Ngô Sĩ Liên 1967: 209).

Phong Châu, ngày nay là đất Vĩnh Phú và Thượng Oai, có thể là miền Sơn Tây - có quan hệ với Quảng Oai, Quốc Oai đời sau, đều là khu vực phân bố của người Mường cách đây không lâu, nay nằm trọn trong khu vực phân bố của mộ Mường cổ thuộc các tỉnh Hòa Bình, Hà Tây và Vĩnh Phú.

 Tất cả những lý do trên, cho phép tôi nghĩ rằng, vùng rừng núi nói chung và Hòa Bình, Sơn Tây, Vĩnh Phú nói riêng, là những địa điểm quan trọng cho việc mai táng, không chỉ trong hoàng tộc, mà cả trong dân gian bách tính, khiến đến nay, chúng ta khó bề tìm thấy những ngôi mộ có niên đại Lý ở vùng đồng bằng ô trũng.

III. NHỮNG GIẢ THIẾT CÒN NHIỀU ƯỚC ĐOÁN.

Trên đây, tôi đã cố công hướng đồng nghiệp cùng độc giả truy tìm mộ thời Lý ở vùng núi rừng, mà những ngôi mộ Mường ở vùng Hòa Bình đã gợi mở nhiều tư liệu lạc quan. Tuy nhiên, đó mới chỉ đơn thuần nhìn nhận dưới góc độ niên đại. Cấu trúc và táng thức còn là điều trống vắng không dễ gì khỏa lấp, khi tư liệu không được xử lý khoa học.

Tuy nhiên, cứ logic mà suy, thì mộ Mường đã hiện diện cấu trúc mộ quách gỗ hình cũi ở Nhuận Trạch (Phạm Quốc Quân 1983: 99 - 105), xuất hiện mộ có đặt những mô hình tháp ở bên trên, giống như ở Xuân Hồng, Hà Tĩnh (Võ Văn Tuyển và Nguyễn Thị Vang 1983: 224), và Dưỡng Phú, Hải Hưng, (Phạm Quốc Quân 1977: 77 - 81), có niên đại thuộc thời Trần (Trần Anh Dũng, Lại Văn Tới 1986: 41), và cũng thấy xuất hiện những tín hiệu kè đá ở Kim Truy và Vĩnh Đồng (Phạm Quốc Quân 1987; Trần Anh Dũng, Lại Văn Tới 1986: 37).

Về táng thức, chúng ta cũng đã biết tục hỏa thiêu tại chỗ, thông qua tư liệu một ngôi mộ ở Dũng Phong (Phạm Quốc Quân 1983: 87- 91) và tục hung táng trong quan tài thân cây khoét rỗng, qua một ngôi mộ ở Kim Truy (Phạm Quốc Quân 1987).

Như vậy, cấu trúc và táng thức của mộ Mường khá đa dạng. Sự đa dạng ấy phần nào phản ánh trật tự niên đại sớm muộn của từng mộ và từng khu mộ ở vùng Mường Hòa Bình.

Tuy nhiên, trong những điều đã biết về cấu trúc và táng thức, cũng còn nhiều vấn đề chưa rõ về cấu trúc bên trên. Cho đến nay, ai cũng biết rằng, những mộ Mường cổ hiện diện những huyệt mộ, những nhà mồ bằng khung gỗ lợp ngói mà nay còn vết tích (hầu hết nhà mồ bằng khung tre gỗ lợp lá nay không còn). Những ngôi mộ như thế đã được khai quật và niên đại của nó, thuộc thế kỷ 16 - 17.

Thế nhưng, những ngôi mộ có niên đại Lý, mà chúng tôi nêu trên, thì việc xử lý, hoàn toàn ngẫu nhiên, không khoa học, nên những vết tích bên trên được dân miêu tả, lại không có những đặc điểm tương tự những ngôi mộ đã biết, khiến không thể hay chúng có huyệt mộ và nhà mồ hay không? Những xử lý ở khu mộ Lương Sơn, Nhuận Trạch (Hòa Bình), dù các tác giả đã nhìn ra các yếu tố sớm trong bộ sưu tập chôn theo, không sao tránh khỏi tình trạng “chữa cháy”, nên thông tin toàn diện về chúng quá thiếu thốn. Trong khi ấy ở Đống Thếch, Kim Bôi lại không được xem xét đầy đủ trong bối cảnh còn khá nguyên lành hiện trạng bên trên.

Vậy thì, cấu trúc bên trên của những mộ có niên đại Lý có giống như những ngôi mộ có niên đại Lê không? Còn là ẩn số, chừng nào khảo cổ học chưa được tận tay xử lý. Phải chăng chúng được kè đá như ở Hương Nộn (Vĩnh Phú) hay kiểu thức như ở Thiên Thai (Hà Bắc)?

Tục hỏa thiêu ở những ngôi mộ có niên đại Lý có hay không? Cũng thật khó trả lời khi tư liệu còn thiếu thốn.

Tuy nhiên, các tài liệu sử sách và khảo cổ học mà chúng ta trích dẫn bên trên và còn nhiều nữa, không thể lược trích- sợ không ích gì cho độc giả- có thể khẳng định rằng, thời Lý, phong tục hỏa thiêu là phổ biến, nếu không muốn nói là quốc thức.

Những điều thăm hỏi dân tộc ghi nhận được về khu mộ Kim Truy, còn cho biết rằng, Lang Cun khi chết, còn hỏa thiêu theo nhiều nô tì ở dưới hầm mồ, mà tiếng kêu khóc thảm thiết còn vang vọng mấy ngày trời.

Nếu gạt bỏ những chi tiết huyền thoại, do sự phóng đại của dân gian, qua các đoạn ngắt của thời gian 7,8 thế kỷ, thì cốt lõi của chuyện, phản ánh của phong tục hỏa thiêu ở đây và có chôn theo nô tỳ, như thế cũng ít nhiều trùng hợp với đoạn ghi trong chính sử về phong tục này ở Trung ương: “Đại Hành Hoàng đế có thiêu theo mình nhiều cung nữ”.

Tôi không dám thăng hoa mỹ luận của mình, nhưng hẳn rằng, tục hỏa thiêu đã tồn tại ở những ngôi mộ có niên đại Lý và kéo dài đến tận thời Lê. Song song với nó là tục hung táng trong quan tài bằng thân cây khoét rỗng.

Tuy nhiên, cho đến nay, ở Hòa Bình, để kiểm chứng cho giả thiết của tôi là hoàn toàn vô phương, vì sự triệt phá của dân địa phương đối với những khu mộ địa, khiến cho chúng dường như không còn vết tích gì đáng kể.

Giáo sư Viện trưởng Viện Khảo cổ học Hà Văn Tấn mấy năm trước có gợi ý cho tôi tìm hiểu những nghĩa địa ở Phù Yên (Sơn La) có cấu trúc bên trên tương tự mộ Mường, mà người Thái nhận là của dòng tộc mình. Người Mường sống xen cài với người Thái ở đây cũng nhận là của họ. Tìm hiểu chúng chắc sẽ có nhiều điều lý thú, chẳng những về tộc thuộc, mà nhiều vấn đề sâu xa, có liên quan tới tín ngưỡng cự thạch, mà người Thái phải chăng, lãnh trách nhiệm chuyển tải, thậm chí là trực tiếp ảnh hưởng tới Mường (Nguyễn Ngọc Thanh 1991: 5) nếu công việc nghiên cứu khảo cổ học ở đây làm được khoa học, kỹ lưỡng.

Gợi ý ấy thật là hấp dẫn ít nhất với riêng tôi, khi tôi đã từng có chủ trương rằng, tín ngưỡng cự thạch đã từng tồn tại ở Mường (Phạm Quốc Quân 1989: 65 - 73) mà chưa tìm được lý do trực tiếp. Còn đối với việc nghiên cứu mộ táng nói chung, thì khu mộ Phù Yên - cùng với nó là Thanh Sơn (Vĩnh Phú), miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An… hẳn sẽ đóng góp nhiều tư liệu để giải quyết nhiều vấn đề khác quanh mộ Mường cổ, nếu được đầu tư nghiên cứu. Vì ở đó, tình hình đào phá mộ cổ của dân địa phương mới chỉ bắt đầu.

TS. Phạm Quốc Quân

 

Tài liệu dẫn:    

1. Đặng Kim Ngọc 1977. Khai quật ngôi mộ ở Hương Nộn (Vĩnh Phú), Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1977.

2. Lê Đình Phụng và Phan Tiến Ba 1986. Khu mộ Mường Đống Thếch (Hà Sơn Bình), Khảo cổ học, số 3.

3. Ngô Sĩ Liên 1967. Đại Việt sử ký toàn thư, Hà Nội.

4. Nguyễn Lương Bích 1974. Trong lịch sử người Việt và người Mường là hai dân tộc hay là một dân tộc, Dân tộc học, số 2.

5. Nguyễn Ngọc Thanh 1991. Góp thêm tư liệu dân tộc học về tục chôn cất của người Mường, Khảo cổ học, số 1.

6. Phạm Quốc Quân 1997. Một ngôi mộ thời Trần đáng chú ý ở Dưỡng Phú (Hải Hưng), Khảo cổ học, số 1.

7. Phạm Quốc Quân. Mộ Mường Thàng. Kim Truy (Hà Sơn Bình), Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

8. Phạm Quốc Quân 1983. Nhìn lại táng tục Mường cổ, Thông báo Khoa học, số 1, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam xuất bản, Hà Nội.

9. Phạm Quốc Quân 1983. Từ những chiếc đinh đồng suy dựng một kiểu kiến trúc mộ. Thông báo Khoa học, số 2, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam xuất bản, Hà Nội.

10. Phạm Quốc Quân 1989. Một vài ý kiến góp bàn về mộ Mường cổ. Khảo cổ học, số 3.

11. Trần Quốc Vượng 1981. Việt Nam thế kỷ X. Văn hóa - Văn minh. Thế kỷ X, những vấn đề lịch sử, Hà Nội.

12. Trần Anh Dũng, Lại Văn Tới 1986. Mộ Mường cổ - Cấu trúc và táng tục. Khảo cổ học, số 3.

13. Trịnh Cao Tưởng, Trần Đinh Luyên, Phan Tiến Ba 1976: Ngôi mộ thời Lý trên núi Thiên Thai, Khảo cổ học, số 16.

 

 



 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 204

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Hướng tới xây dựng bản đồ văn hoá Sa Huỳnh trước thách thức Bảo tồn và phát triển

Hướng tới xây dựng bản đồ văn hoá Sa Huỳnh trước thách thức Bảo tồn và phát triển

  • 12/08/2019 09:59
  • 115

Sa Huỳnh - một văn hoá khảo cổ phát triển rực rỡ vào thời Sơ sử ở miền trung Việt Nam. Những di tích và di vật đầu tiên nền văn hoá này được phát hiện cách đây hơn một thế kỷ (1909 - 2019). Trải hơn 110 năm nghiên cứu, nhiều phương diện của văn hoá Sa Huỳnh đã được làm rõ, qua đó cho thấy nó chính là cơ sở vật chất của một nhà nước sơ khai ở miền Trung Việt Nam. Song, vẫn còn đó nhiều vấn đề cần tiếp tục được đầu tư nghiên cứu, bởi nội hàm của nền văn hoá này hết sức đa dạng và phong phú. Nghiên cứu về Sa Huỳnh không chỉ giúp chúng ta nhận thức rõ giá trị vô giá của khối di sản văn hoá phản ánh một giai đoạn lịch sử dân tộc xa xưa, mà qua đó còn góp phần định hướng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội hôm nay.