Thứ Tư, 23/10/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

24/07/2019 12:30 169
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Sau trống loại I, trống loại II Heger là một hiện tượng khá nổi nét của khảo cổ học Việt Nam. Nổi nét bởi những bí ẩn chứa đựng trong đó, mà lâu nay, dường như chưa được giải đáp. Cũng nổi nét bởi số lượng phát hiện hàng năm ngày càng tăng lên, với con số tương đương với trống loại I, mà đến nay, chưa được quan tâm là bao.

Tình hình như thế dẫn đến tình trạng nghiên cứu trống loại II còn lẻ tẻ, chưa hệ thống, cho dù, đã có một đôi bài tạp chí, căn cứ vào những sưu tập trống phát hiện được ở vùng Mường Hòa Bình (cũ), Vĩnh Phú, Nghệ Tĩnh… đi sâu nghiên cứu các mặt của trống loại II, nhưng vẫn không vượt quá được những điều cảm nhận, như những lời tự thú của các tác giả.

Trong bối cảnh đó, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chủ trương đặt trống loại II trong hệ thống nghiên cứu chung của trống đồng Việt Nam là hoàn toàn đúng hướng, nhằm khắc phục những hiện tình nêu trên, nhằm giải quyết các vấn đề về trống đồng nói chung, trống loại II nói riêng, dưới quan điểm toàn diện và cụ thể.

Nói như thế, chúng tôi không hề nghĩ rằng, mọi vấn đề về trống đồng, sau đây, sẽ được giải quyết. Hẳn là, có những vấn đề chỉ được xới lên để đặt hướng cho tương lai.

Với ý nghĩ ấy, tác giả bài này, như đầu đề đã thú nhận, góp một vài suy nghĩ về chủ nhân trống loại II, thông qua khảo sát ở một vùng Mường Hòa Bình (cũ), may chăng, gợi bàn với một số tác giả đi trước, cho trống loại II là của người Mường1.

Trống loại II2 phát hiện ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu niên đại, cho thấy, chúng nằm trong một khung khá dài, khoảng trước Công nguyên vài thế kỷ, cho đến tận thế kỷ 17, 18. Đương nhiên đây cũng chưa phải là ý kiến đã được thống nhất. Dù vậy, khung niên đại trên, nói chung cũng là khá phù hợp với trống loại II Heger.

Về diện phân bố, nếu xét địa bàn lấy gianh giới Quốc gia hiện tại làm tiêu chuẩn thì chủ yếu ở vùng Hoa Nam và Bắc Việt Nam - khu vực cư trú ở vùng Bách Việt thời cổ. Một khu vực văn hóa lịch sử thời tiền, sơ sử. Đó là xét trên diện rộng với những trống loại II có niên đại trước hoặc trong thiên niên kỷ I.

Nếu xét trên diện hẹp - Bắc Việt Nam ngày nay, với không chỉ trống loại II sớm, và cả muộn, mà theo tác giả bài này, là một biến thể của loại II, có niên đại sau thiên kỷ I, thì hầu hết, chúng chỉ nằm ở vùng Hòa Bình cũ, vùng núi Vĩnh Phúc, Tây Nghệ Tĩnh và một phần Tây Thanh Hóa. Địa bàn phân bố ấy thuộc vùng tụ cư của đồng bào Mường nước ta ngày nay. Có lẽ, đó là lý do cơ bản nhất, để có ý kiến, cho chủ nhân trống loại II Heger là người Mường.

Vấn đề có thể hoàn toàn đúng khi cho người Mường đã sử dụng những trống đó. Nếu vậy có lẽ cũng chẳng còn điều gì để bàn thêm. Thế nhưng khi nói đến chủ nhân, chúng tôi muốn đề cập tới những người đã chế tạo ra chúng. Điều này, thiết tưởng cũng không phải nhắc lại, khi từ xa xưa đến nay giới nghiên cứu đêu thừa nhận như thế.

Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh ở đây lại là vấn đề mang tính phương pháp, bởi, khi đề cập tới những người sử dụng, hay chủ nhân chế tạo ra trống, đặc biệt trong bối cảnh của hai dân tộc Mường - Việt (Kinh), thì việc trước hết phải phân loại, dựa trên những tiêu chí cụ thể và chi tiết.

Đương nhiên, đó là công việc của những người phân loại và các nhà nghiên cứu niên đại. Nhưng trong giới hạn bài viết của mình, chúng tôi muốn lưu ý việc phân định trống loại II dưới hai khung niên đại chính sau đây:

1. Những trống có niên đại trước hoặc trong thiên niên kỷ I.

2. Những trống có niên đại sau thiên niên kỷ I.

Sở dĩ, chúng tôi coi việc phân loại trống loại II Heger theo hai khung niên đại lớn trên đây vì, ai cũng biết rằng, dân tộc Mường, khi tách ra khỏi Việt - Mường chung, để hình thành với tư cách là một dân tộc độc lập thì phải đến cuối thời Bắc thuộc. Niên đại của sự tách biệt đó, cho đến nay, được một số nhà dân tộc học lịch sử, ngôn ngữ học lịch sử, thừa nhận3. Trước thời điểm đó, chỉ được coi là một quá trình. Quá trình diễn ra ở khối Việt - Mường có một khối nền ngôn ngữ chung.

Nếu tình hình như thế, thì, các trống đồng loại II Heger có niên đại sớm, trước hoặc trong thiên niên kỷ I, thiết nghĩ là Kinh (Việt) hay là Mường đều có thể chấp nhận. Tuy nhiên, có lẽ, để cho chính xác, nên gọi chủ nhân của những trống đồng đó là người Việt - Mường, khi tên gọi Mường lúc đó chưa có.

Chúng tôi nghĩ, phải phân định được như thế mới có thể giải quyết được những vấn đề lớn hơn của trống đồng, mới có thể hiểu được chủ nhân trống loại II trên một vùng văn hóa lịch sử rộng lớn, mà trong đó có cả trống loại II Hoa Nam (Trung Quốc). Dường như, trống đồng loại I và loại II sớm ở khu vực này chủ nhân của chúng hoàn toàn là của người Việt - dù cho, họ là Bách Việt. Và từ đó, có tác dụng lan tỏa và phân phát đi các dân tộc khác.

Quay trở lại vấn đề trống loại II muộn của Việt Nam. Những chiếc trống: Dân Hạ, Xóm Rậm I, Thôn Đúng, Làng Mét… tức là những trống xuất hiện từ sau khi Mường tách ra khỏi khối Việt - Mường chung.

Những chiếc trống đó của ai? Mường hay Việt (Kinh)? Để gợi hướng trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi xin bước đầu đưa ra những tư liệu, mang tính tham khảo, may chăng phản ảnh được mối quan hệ cặp ba đó.

Trống đồng ở Mường, theo những khảo sát dân tộc học4 được biết, cho tới nay, hoàn toàn nằm trong tay những quý tộc cao cấp nhất của xã hội Mường cổ truyền. Đó là những Lang Cun lớn, đại diện cho một đẳng cấp quý tộc, dựa trên chế đố nhà Lang. Đẳng cấp đó sinh ra trên một nền tảng kinh tế sản xuất nông nghiệp có kỹ thuật phát triển cao. Một nền nông nghiệp ruộng nước, giống hệt người Việt (Kinh) nhưng lại có một ít nương rẫy bổ sung.

Để hiểu rõ hơn thế nào là chế độ Lang Đạo, thiết tưởng cũng cần giành một đôi lời nói thêm về thiết chế của nó, để từ đó, nhìn nhận cái gì trong đó mà trống đồng có liên quan.

 

Xã hội Mường cổ truyền chiếm lĩnh những thung lũng lớn vùng chân núi làm cơ sở kinh tế của mình, nên, trong mỗi thung lũng (hay nhiều thung lũng) có một dòng họ cai quản tất cả các dòng họ. Khung tổ chức của nó là dòng họ. Dòng họ này có những tộc danh khác nhau (Đinh Công, Đinh Thế Quách, Quách Đình…)

Nhiều thung lũng như thế sẽ thành một vùng (hay = một Mường). Người đại diện cai quản cả Mường là Lang Cun (Họ là con trai trưởng của chi nhánh trưởng).

Một Mường, nếu có một thung lũng (hoặc nhiều thung lũng) đều là những làng nhỏ. (Làng, trước cách mạng không có từ Mường nào để chỉ), cho nên, Làng cũng là Mường. Cơ cấu này hoàn toàn khác Thái, với bản là cơ sở hành chính nhỏ nhất.

Mỗi một làng (chúng ta tạm gọi như thế), đôi khi, hai, ba làng gần nhau lại có một quý tộc thống trị. Quý tộc ấy là con trai trưởng của chi nhánh phụ (nhánh em). Họ là Lang Đạo.

Như vậy đẳng cấp quý tộc thống trị Mường là các Lang Cun, Lang Đạo. Nhưng, việc sở hữu trống đồng chỉ nằm trong tay Lang Cun lớn, Lang Cun nhỏ, đặc biệt là Lang Đạo không có quyền sở hữu. Chế độ sở hữu đó hoàn toàn khác với Lô Lô, một dân tộc thuộc ngữ hệ Tạng – Miến cư trú ở một phần thuộc vùng núi đá vôi phía bắc nước ta5.

Do tính chất sở hữu như thế, làm cho chúng ta nghĩ đến một sự hiếm quý của trống đồng trong xã hội Mường cổ truyền khiến ngờ ngợ có một sự du nhập từ bên ngoài vào, để rồi chỉ nằm trong tay những người có quyền lực cao nhất trong đẳng cấp thống trị Mường?

Sự ngờ ngợ ấy đã được những ghi chép thực địa dân tộc học Mường ủng hộ.

Cũng như đã đề cập tới ở phần đầu, cơ sở kinh tế của xã hội Mường là ruộng nước, cộng thêm một ít canh tác nương rẫy bổ sung, không hề có mặt kinh tế phụ ngoài nghề dệt cổ truyền. Ở đây hoàn toàn vắng bóng kỹ nghệ rèn, đúc và làm đồ gốm6. Đây cũng là một đặc điểm hoàn toàn khác Thái và một số dân tộc Tây Nguyên.

Sự vắng bóng của kỹ nghệ rèn đúc ở Mường, buộc người nghiên cứu không thể nghĩ đến khả năng có mặt tại chỗ của những chiếc trống đồng mà ngày nay lại hiện diện trên đất cư trú của họ.

Vì vậy, chúng ở đâu đến, và đến trong trường hợp nào?

Không một văn bản nào nói đến sự du nhập của những trống loại II muộn vào xứ Mường từ khi nào, và bằng cách nào, từ đâu đến? Chỉ có đôi, ba dòng sử biên niên nói về việc vua nhà Lý có đúc trống đồng để phân phát cho các tù trưởng địa phương. Họ là những ai? Cũng không hay biết. Và, nếu như biết được, thì, hẳn ngày nay không phải tốn nhiều giấy mực.

Tuy nhiên, các tài liệu đã gián tiếp gợi mở khả năng xem xét vấn đề này.

Trong những đợt khai quật, khảo sát khảo cổ học dài ngày ở vùng Mường Hòa Bình (cũ), các nhà khảo cổ học đã gặp, trên những hòn mồ, trong nghĩa địa của dòng họ Lang Cun những dòng ghi chép sau đây:

Thổ tù xã Ngọc Lâu, huyện Phong Hóa, Phủ Thiên Quan, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Tả đô đốc, Đô chỉ huy sứ (ở) Ty đô chỉ huy sứ Vệ Cẩm y (tước) Vĩnh Lộc Hầu (tên là) Quách Phúc Thiêm7.

Bản mệnh Nhâm Ngọ tuế, thọ lục thập lục, Đinh Hợi niên, thập nguyệt, thập tam, nhật sửu thời chung, phụng cữu linh xa, cung tế huynh đệ nghiêm hòa, Dực vận tán tri công thần, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Cẩm y vệ thự sự, Uy lộc hầu, tăng chưởng vệ sự điện tiền đô hiệu điểm Ty đề đốc, Uy quân công, Đinh Quý Công, húy Kinh Thành…8.

Những dòng chữ trên hòn mộ đó đã phản ảnh chính sách phong cấp tước rất lớn của chính quyền Trung ương Lê – Mạc9 và sự thừa hưởng những chế độ ấy của các Lang Cun vùng Mường.

Phải chăng, việc phong chức tước lớn cho các tù trưởng vùng biên viễn đi liền với việc phong tặng trống đồng? Có lẽ, đúng thế, vì, trống đồng, sau này đã trở thành sở hữu chỉ của các Lang Cun lớn. Và, có lẽ, đúng thế vì, sau này, việc sử dụng trống đồng của các Lang Cun Mường chỉ giành trong 13 ngày cúng mo của chính đám tang của họ10. Trống đồng dường như là một biểu tượng quyền lực của Lang Cun Mường.

Cũng chính vì thế, mà Giáo sư Trần Quốc Vượng đã nhận xét tinh nhậy qua cảm quan rằng: Trống đồng phải chăng đã chuyển từ chỗ “Là biểu tượng của quyền uy tù trưởng thành biểu tượng của quyền uy nhà Vua”11.

Khi đặt bút ghi những nhận xét trên đây, chúng tôi có nghĩ đến một sự mâu thuẫn giữa những điều nhận xét ấy về cách sử dụng trống đồng của các Lang Cun thông qua những ghi chép dân tộc học sau này12. Phải chăng, những nghi thức thời xưa cũ, còn đọng lại dưới dạng tư liệu dân tộc học hiện nay, hẳn nó đã bao lần tự vỡ vụn, rồi lại được gắn chắp bao lần, để rồi, lắm khi, không còn phản ánh được điều gì trong chức năng nguyên ủy của nó. Tất nhiên, đó cũng chỉ một biệt lệ hiếm hoi. Tư liệu dân tộc vẫn là một nguồn sáng lớn, chiếu rọi vào những xã hội quá khứ bị lãng quên.

Xin trở lại với chế độ phong cấp tước. Thực ra, chính sách phong cấp tước lớn cho các tù trưởng vùng biên viễn không chỉ xảy ra ở thời Lê. Từ thời Lý đã có, nhưng chưa phải là một quốc sách. Chỉ đến thời Nguyễn, kể từ khi Minh Mạng cải cách, ông đã có những chính sách làm suy yếu chế độ nhà Lang.

Nét nổi bật của chính sách Minh Mạng là đưa đơn vị hành chính cấp xã áp đặt xuống các Mường, phần nào phá vỡ cơ sở hành chính Mường thời Lê, Mạc13. Chính sách này giảm bớt quyền hành của các Lang Cun. Việc phong tước cho các Lang Cun vùng Mường giảm rõ rệt so với các triều đại phong kiến trước đó. Tuy nhiên, nó vẫn đảm bảo được sự thống nhất và độc lập của từng Mường.

Phải chăng, do bối cảnh lịch sử như thế, nên nhà Nguyễn đã không đúc trống đồng ban thưởng cho các tù trưởng Mường. Đó cũng là lý do để có sự kết thúc từ từ của trống loại II vào thế kỷ 18 – như niên đại của những trống đồng loại II hiện còn mách bảo.

Như vậy, chúng ta phần nào đã phục dựng được con đường du nhập của trống đồng vào vùng Mường thông qua chính sách của chính quyền phong kiến. Đương nhiên, đó mới chỉ là những tư liệu gián tiếp, mang nặng tính suy diễn, khi tư liệu có trong tay không quá một khu vực Mường cư trú thuộc tỉnh Hòa Bình (cũ). Dẫu vậy, chúng tôi vẫn không nản lòng, gạn lọc trong đám tư liệu ít ỏi của văn học Mường, may chăng có dính líu gì đến những chiếc trống đồng đang bàn. Rất may mắn, trong cái ít ỏi đó, thấy được một áng mo mà trong đó trống đồng có mặt.

Mo trống đồng14 (klong-dông) với tích kể lại về hai nhân vật (một là chú Khóa, và một là thằng Lồi). Tên hai nhân vật hoàn toàn vắng bóng trong văn học Mường cũng như trong vốn từ vựng Mường. Hai nhân vật này, đi suốt từ đầu áng mo đến cuối áng mo, với một công việc: đem trống đồng từ xuôi lên bán ở các Mường.

Tích mo phản ánh một sự thật là: trống đồng đã đi từ vùng xuôi lên vùng Mường. Tuy nhiên, khi khai thác tích mo, chúng tôi liên hệ ngay đến những chiếc Cồng Tây Nguyên, cũng được mang từ dưới xuôi đem bán ở những vùng dân tộc thiểu số, vào những năm tháng trước cách mạng Tháng Tám. Vậy thì, trống đồng lên Mường, có đúng như tích mo kể và có giống như số phận của những chiếc Cồng Tây Nguyên không? Hẳn không thể loại trừ được con đường thứ hai này, mà những thương nhân làm nhiệm vụ chuyển tải là người Kinh (Việt = chú Khóa) và người Chàm (= thằng Lồi).

Tuy nhiên, như chúng tôi đã tìm hiểu, một trong những đặc điểm của văn học Mường là tính thiếu chặt chẽ, khiến đến đây, trong khi phân tích nhân vật trong mo và việc làm của họ, sẽ thấy, hình như có một sự chắp vá trong kết cấu. Hẳn không sao tránh được điều này, vì mo nói chung và mo trống đồng nói riêng, xuất hiện khá muộn mằn, trong khi sự xuất hiện trống đồng lại có quá sớm trong đời sống của dân tộc Mường, đó là chưa kể từ thời cha ông họ.

Vì lẽ đó, mo trống đồng, hẳn là sự gắn chắp từ một sự kiện có thật (những trống đồng du nhập vào Mường), rồi văn học hóa, để đến đây, chúng ta chỉ có thể tham khảo từng mảnh vụn, may chăng có liên quan đến những điều chúng ta đang bàn.

Nhìn nhận như thế, vì chúng tôi vẫn nghĩ nhiều đến việc du nhập của trống đồng từ miền xuôi lên vùng Mường thông qua con đường phong tặng là chính yếu. Con đường mà chúng tôi đã giành nhiều công phân tích ở đoạn trên.

Cuối cùng, để vạch rõ hơn con đường mà trống đồng đã du nhập vào Mường thì không thể bỏ qua những tư liệu mà chính thông tin của những chiếc trống đó cho phép.

Trên những trống đồng loại II có niên đại sau thiên niên kỷ I, hay, những trống đồng loại II biến thể - như quan niệm của tác giả bài này, chúng ta đã nhận ra những đồ án hoa văn quen thuộc trên những trang trí kiến trúc, hay trên những đồ sành, sứ thời Lý, Trần, Lê.

Mô típ trang trí chủ yếu trên mặt và thân trống của những trống kiểu này là lá đề đơn, lá đề kép, cánh sen, hoa cúc dây, hoa chanh các loại, với bố cục tròn, dường như là một bản sao chụp nguyên si những dạng thức trên đồ sứ, sành của thời đại phong kiến độc lập tự chủ Việt Nam. Phải chăng, chúng ta còn phải dày công trên bước đường tìm hiểu mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng? Tuy vậy, sự giống nhau như thế, cũng đủ khẳng định tính đồng nhất, mà không ai không thừa nhận, là sản phẩm của một dân tộc, chứ không thể là sự đồng quy như một số văn hóa khác đã biết.

Cũng như họa tiết hoa lá, những họa tiết rồng, phượng, chim, cùng trong một bố cục tròn, cùng, hoặc ngược chiều với kim đồng hồ, tuy có ít nhiều biến thể, nhưng cũng không sao tách ra khỏi nghệ thuật Lý – Trần – Lê.

Có lẽ, cũng chính vì sự khác lạ của những loại đồ án hoa văn này trên tiến trình phát triển của trống loại II Heger, mà đã có tác giả phân ra giai đoạn tiền Phật giáo và Phật giáo15.

Khái niệm trên chắc còn phải bàn, tuy nhiên, những yếu tố để có thể định ra hai phong cách cho trống loại II Heger ở Việt Nam là chắc chắn. Và, do đó, theo chúng tôi, phong cách sau gắn rất chặt với cư dân Việt (Kinh). Họ là chủ nhân của những đồ sành sứ. Họ là chủ nhân của nền nghệ thuật kiến trúc Đại Việt. Họ là chủ nhân của những chiếc trống đồng đang bàn tới ở trên.

Như thế, không thể không nghĩ tới những chiếc trống đồng ở Mường là được đưa từ dưới xuôi lên.

Nhận định ấy của chúng tôi, không chỉ được thông tin của chính những chiếc trống đồng gợi mở, mà còn, được sự mách bảo của những mô típ hoa văn Mường, dưới cách nhìn sâu sắc và tinh nhậy của dân tộc học nghệ thuật.

Dường như hoa văn Mường hiện nay, không một chút gì gắn với hoa văn trên trống đồng chúng ta đang bàn. Đó là cơ sở để chúng ta, không thể nghĩ, người Mường là chủ nhân trực tiếp của những chiếc trống đồng đó. Hoa văn Mường giờ đây là phản chiếu một cách vụng về và sống xít nền nghệ thuật đồng thau Đông Sơn16. Nó tiếp thu nghệ thuật Đông Sơn trên cả hai phương diện: phong cách và bố cục. Phải chăng, đó là những “hóa thạch” Đông Sơn còn sót lại, nay chúng ta còn nhận được qua nền nghệ thuật tạo hình Mường và ít nhiều trên nền nghệ thuật Tây Nguyên.

Nói như thế, chúng ta không phủ nhận sự tiếp thu nghệ thuật Đông Sơn trong nghệ thuật Lý – Trần, mà trên trống đồng, còn đọng lại những hoa văn: vòng tròn đồng tâm, hoa văn răng cưa, hoa văn xương cá… Trên trống đồng là như thế, trên đồ sành, sứ kiến trúc càng thấy nhiều hơn17.

Như vậy, chúng ta càng thấy mối quan hệ Việt (Kinh) – Mường là có cơ sở. Trống đồng cũng là sản phẩm biểu trưng cho mối quan hệ đó.

Và, từ những phân tích trên, có thể đi đến một sơ đồ sau đây:

 

Trên sơ đồ này, chúng tôi coi Đông Sơn như một khối nền vật chất cho sự phát triển của hai dân tộc chủ thể hiện nay ở Việt Nam. Lẽ đương nhiên, còn một dân tộc thứ 3, cũng ảnh hưởng khá đậm Đông Sơn, là Chàm. Và Chàm cũng một thời quan hệ mật thiết với Việt (Kinh). Tuy nhiên, đó lại là phạm vi của những vấn đề khác mà chúng tôi sẽ có dịp bàn đến sau.

Như vậy là, trong những thông tin nêu trên, chúng tôi đã đưa những tư liệu, cố chứng minh cho sự lan tỏa và du nhập trống đồng từ miền xuôi lên Mường. Thế nhưng, những tài liệu khảo cổ học dường như không ủng hộ; mật độ phân bố của những trống loại II muộn, như chúng tôi đã nêu, khá tập trung ở vùng tụ cư của người Mường, trong khi đó, ở miền xuôi lại khá hiếm hoi.

Vấn đề như thế, hẳn phải có lý do của nó buộc chúng ta phải trở lại với lịch sử đầy biến động của vùng đồng bằng với sự tàn phá văn hóa ghê gớm của kẻ thù, với sự chống trả quyết liệt của nhân dân đối với những chính sách tàn phá đó. Không kể thời Mã Viện, Gia Cát Lượng, Lan Khâm thu bao trống đồng của dân Việt đem về Trung Quốc đúc ngựa, đã xưa cũ lắm rồi so với những trống đồng chúng ta đang bàn, nhưng cũng không phải thế, không ảnh hưởng đến văn hóa dân tộc. Nói chi đến, thế kỷ của những trống Dân Hạ, Xóm Rậm I… với chính sách phá sạch, đốt sạch của Minh Thành Tổ, thì hẳn trống đồng cũng là một trong những đối tượng không thể bỏ qua đối với kẻ thù.

Đương nhiên, những chính sách như thế của quân xâm lược, chỉ gây tổn thất ở vùng xuôi. Miền núi, đặc biệt là xứ Mường, không có chiến tranh nội bộ18, kẻ thù lại khó bề với tới, cùng với sự cất giấu kín đáo của các Lang Cun, là những lý do khiến chúng bảo tồn đến ngày nay, không bị chung số phận với đồng loại ở vùng xuôi.

Một lý do khác, làm chúng tôi ngờ ngợ rằng, trống đồng khi đó cũng như một số đồ đồng khác chỉ được dùng để ban phát cho các tù trưởng, như những gợi bảo của sử biên niên và các thần phả19. Nếu tình hình đúng như thế, thì việc vắng bóng những chiếc trống đồng loại II muộn ở dưới xuôi cũng là một lẽ đương nhiên.

Tất cả vẫn chỉ là những phỏng đoán còn đầy tính tự biện.

Trên đây, chúng tôi mới chỉ làm được một nhiệm vụ phát quang, để tìm lần con đường mà trống đồng đã đi vào Mường – một con đường hẳn đã quá rậm rạp với bề dày thời gian nghìn năm có lẻ. Công việc phát quang đó lại nằm trong tay một người “đi rừng” không chuyên, chưa có người đưa đường giúp sức, nên không tránh được sự lầm đường, lạc lối. Dẫu vậy, chúng tôi vẫn muốn cắm một “cột mốc”, để, nếu có người đi tiếp, hoặc cùng chúng tôi đi tiếp, cho những thông tin định hướng nhiều hơn, để từ đó khai phá thêm những con đường mà trống đồng đã đi vào Mường. Nếu không phải với mục đích ấy, thì “cột mốc” chúng tôi cắm cũng là để đánh dấu một sự lạc hướng, mong những người đi tiếp đừng đi sâu thêm.

Còn đương nhiên, việc vạch tìm những con đường như thế, là cần thiết, để giải thích không chỉ riêng cho những vấn đề trống đồng, mà cho tất cả những vấn đề khác nữa, mà trong đó có hai dân tộc chủ thể đang sống, đang xây dựng tổ quốc Việt Nam.

TS. Phạm Quốc Quân

 

           

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 175

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Những điểm tương đồng và dị biệt giữa hai làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) và Bàu Trúc (Ninh Thuận)

Những điểm tương đồng và dị biệt giữa hai làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) và Bàu Trúc (Ninh Thuận)

  • 23/07/2019 09:07
  • 476

1.Vài nét giới thiệu về lịch sử hai làng gốm Bát Tràng và Bàu Trúc