Thứ Năm, 22/08/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

23/07/2019 09:07 162
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
1.Vài nét giới thiệu về lịch sử hai làng gốm Bát Tràng và Bàu Trúc
1.1. Làng gốm Bát Tràng
Bát Tràng là một làng nghề sản xuất đồ gốm đã có lịch sử hơn 500 năm. Đây là một làng cổ nằm bên sông Hồng, phía bắc kinh đô Thăng Long xưa, nay là Thủ đô Hà Nội . Nơi đây đã từng làm ra nhiều vật phẩm gốm quý mang sắc thái riêng mà trong nhiều thế kỷ qua được ưa dùng từ làng xã đến Cung đình, từ quà tặng biếu dân gian đến đồ cống phẩm ngoại giao. Sách Dư địa chí, bộ sách địa lý cổ quý giá của nước ta còn lại đến nay , do Nguyễn Trãi soạn năm 1435, đã cho biết: “Trong đồ cống nạp phong kiến phương Bắc, làng Bát Tràng phải cung ứng 70 bộ bát đĩa”.
 
 
Làng Bát Tràng xưa và nay (nguồn ảnh: Internet)

Bát Tràng là nơi còn bảo tồn nhiều di tích lịch sử văn hóa như mọi làng quê Việt Nam xưa gồm Văn chỉ, Đình , Chùa, Đền, Miếu, là  những dấu hiệu chứng minh về một làng quê văn hiến. Văn chỉ làng Bát Tràng ở phía sau Đình, ngay trên tam quan có 3 chữ đại tự Ngưỡng di cao (Trông lên vời vợi). Mỗi khi họp làng văn, các quan viên coi việc Văn chỉ lại đem 2 bức trướng vóc ghi đủ tên họ của 364 vị khoa bảng của làng treo lên trang trọng để mọi người chiêm ngưỡng. Đây là nét tự hào riêng của người Bát Tràng và là nguồn động viên khuyến khích các thế hệ con cháu đời đời chuyên tâm học hành tấn tới. Đình làng Bát Tràng nay đã được khôi phục theo bản vẽ thiết kế còn lưu giữ được của Trường Viễn Đông Bác cổ. Đây cũng là ngôi đình lớn của xứ Kinh Bắc xưa. Theo tài liệu bia ký, đình Bát Tràng đã được trùng tu , lợp ngói với quy mô đồ sộ vào tháng chạp năm Canh Tý, niên hiệu Bảo Thái (1720), đời vua Lê Dụ Tông. Đình xây theo kiểu chữ Công, phía trong là tòa hậu cung gồm 3 gian , phía ngoài là tòa đại bái gồm 5 gian 2 chái. Cột đình làm bằng gỗ lim to hàng người ôm. Các gian bên được lát bục gỗ để làm chỗ ngồi. Đình trông ra dòng Nhị Hà mênh mông, xa  xa là núi Tam Đảo, Ba Vì, phong thủy thật là đẹp đẽ. Đến nay, trong đình còn lưu giữ được hơn 50 đạo sắc phong thành hoàng làng của các triều Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Đặc biệt có nhiều đạo sắc của vua Quang Trung và Cảnh Thịnh. Đây là những di vật vô cùng quý giá của đình làng. Trong đình còn đôi câu đối nói về việc chuyển cư từ Bồ Bát (Ninh Bình) như sau:
Bồ di thủ nghệ khai đình vũ ;
 Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần
Dịch nghĩa ;
Đem nghề nghiệp từ làng Bồ ra đây để xây dựng đình miếu;
Lòng dân thành kính tựa hương lan dâng lên cúng tạ thánh thần.
Ngòai di tích Văn chỉ, đình làng, ở Bát Tràng còn các ngôi chùa Kim Trúc, chùa Bảo Minh. Trong chùa còn giữ được quả chuông đồng rất quý, đúc năm Ất Mão, niên hiệu Cảnh Thịnh 3 (1795). Chùa Tiêu Giao còn quả chuông đồng, đúc năm Giáp Thân (1824) đời vua Nguyễn Minh Mệnh.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, bài viết về làng cổ Bát Tràng. ( Nguyễn Mỹ Thanh, 2012). Không chỉ làm rõ về mặt khảo cổ học, sử học, các nhà khoa học còn đi sâu nghiên cứu nhiều khía cạnh khác về văn hóa làng nghề. Những câu chuyện huyền thoại kể về những Ông tổ nghề gốm đã từng lưu truyền như một kiểu đề cao nghề nghiệp theo quan điểm phong kiến đã được các nhá khảo cổ chứng minh sự phi lý và siêu thực tế. Đó là câu chuyện kể về ba vị đỗ Thái học sinh thời Trần (như Tiến sỹ ở thời Lê - Nguyễn) được triều đinh cử đi sứ Bắc quốc là Hứa Vĩnh Kiều (hay Cảo, vì 2 chữ này giống nhau) người làng Bát Tràng cùng với Đào Trí Tiến người làng Thổ Hà và Lưu Phương Tú người làng Phù Lãng. Sau khi hoàn tất công việc ngoại giao, trên đường về nước qua vùng Triều Châu gặp bão lớn phải dừng lại nghỉ. Nơi đó có xưởng Khai Phong. Ba ông bèn học lấy nghề gốm rồi đem về nước truyền bảo cho dân quê mình. Do vậy mà làng Bát Tràng chuyên chế các hạng gốm men có sắc trắng, làng Thổ Hà chuyên chế các hạng gốm men có sắc đỏ, còn làng Phù Lãng chuyên chế các hạng gốm men có sắc vàng thẫm. .Thực tế là tới nay không có ai ở Bát Tràng thừa nhận Hứa Vĩnh Kiều là ông tổ nghề mình.( Đỗ Thị Hảo, 1989,tr 51-53)
Thư tịch cổ còn cho biết về tên gọi của làng Bát Tràng có từ thời trần. Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ,q 7, kỷ nhà Trần) có chép vụ lụt lội xảy ra vào tháng 7 năm Nhâm Thìn, năm 12 niên hiệu Thiệu Phong (1352)” Mùa thu, tháng 7, nước sông  lớn tràn lan, vỡ đê Bát - Khối, lúa má bị ngập, châu Khóai, châu Hồng và phủ Thuận An hại nhất” (Đại Việt sử ký toàn thư,1972, tr154). Đê Bát- Khối nói ở đây là chỉ đê Bát Tràng và Cự Khối. Vào tháng 12 năm Bính Thìn, năm thứ 4 niên hiệu Long Khánh (1376) sử chép việc vua Trần Nhân Tông mang 12 vạn quân có đi qua bến sông xã Bát (Đại Việt sử ký toàn thư,1972, tr186).. Như vậy, xã Bát đã xuất hiện trong đơn vị hành chính từ thời Trần. Cho đến giữa thế kỷ 15, Bát Tràng chắc chắn đã có tên gọi trong chính sử thời Lê- Sơ.
Quá trình thành lập làng Bát Tràng dường như liên quan đến sự tụ cư và chuyển cư đã diễn ra qua thời gian khá dài. Nghiên cứu các tài liệu văn hóa dân gian cho thấy Bát Tràng có hơn 20  dòng họ lớn đã có mặt ở Bát Tràng như họ Trần, Lê, Nguyễn, Đỗ…Nơi đây còn giữ được nhiều nét văn hóa riêng của làng nghề truyền thống. Đó là những tập tục, sinh hoạt văn hóa riêng như phương châm xử thế theo Hương ước của làng , lệ làng phép họ, tục kết chạ, lệ ma chay, lệ cưới xin…Đặc biệt có thơ ca dân gian gắn với làng nghề. Đây là sáng tác của những người thợ nhằm bộc lộ tâm tư tình cảm của minh đồng thời đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội.  Bát Tràng là làng quê có truyền thống về văn học và dấu ấn nghề nghiệp thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ. Nhiều thành ngữ nói về kinh nghiệm sản xuất gốm như: Nhất xương nhì da thứ ba dạc lò ; kinh nghiệm làm men gốm: nhỏ gio to đàn;  nói về khuyết tật sản phẩm :Thắt vách rách lợi là nói thân sản phẩm bị thắt còn phía trên miệng bị nứt ra hay chỗ dày chỗ mỏng có câu : lành canh lợi đuối. vv…
Ở Bát Tràng còn truyền tụng đôi câu đối gắn liền với nghề gốm:
Bạch lĩnh chân truyền nê tác bảo;
Hồng lô đào chú thổ thành kim
Dịch nghĩa:
Núi đất trắng truyền nghề bùn thành vật quý;
Lò lửa hồng hun nặn đất hóa nên vàng.
Bát Tràng cũng là làng có nhiều vị đỗ khoa bảng của vùng Kinh Bắc xưa. Đến nay đã thống kê được những tên tuổi làm rạng rỡ quê hương Bát Tràng là Trạng nguyên Giáp Hải, một vị Tể tướng tài danh triều Mạc. Dưới triều Lê có Tiến sỹ Vương Thời Trung, Tiến sỹ Lê Hoàn Hạo (tk 16),Tiến sỹ Trần Thiện Thuật, Tiến sỹ Nguyễn Đăng Liên. Tiến sỹ Lê Hoàn Viện, (tk 17), Tiến sỹ Nguyễn Đăng Cẩm, Tiến sỹ Lê Danh Hiển (tk 18), Tiến sỹ Vũ Văn Tuấn (tk 19).  Nhiều vị tiến sỹ còn lưu danh trên bia Tiến sỹ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Bát Tràng còn có những võ quan có công với nước như Quốc công Vũ Ngang , khai quốc công thần triều Lê, Cơ Quận công Nguyễn Thành Trân ( tk 17) có con nuôi là Nguyễn Thành Chương làm Hoài viễn tướng quân Tổng binh sứ ty Tổng binh Thiêm sự, tước Lâm Thọ hầu. Trong gia phả chi họ Nguyễn Thành ở Bát Tràng soạn vào ngày 24 tháng giêng năm thứ 18 niên hiệu Chính Hòa (1697) cho biết người vợ cả của Nguyễn Thành Chương là con Mỹ Quận công nước Nhật Bản. Bà họ Lý tên húy là Trước, tên hiệu là Quỳnh Quang, sinh ngày 25 tháng 7 năm Tân Hợi (1671) sinh hạ được 2 con trai là Thành Giáp và Thành Uy cùng ba người con gái (Đỗ Thị Hảo, 1989,tr 49-50). Đây cũng là tư liệu góp vào lịch sử quan hệ Việt Nam –Nhật Bản. Ngoài ra là các nhân vật khác như Quận công Nguyễn Tuấn (tk 17), Bùi Hối Trai (tk18). Trong thập niên cuối thế kỷ 19, nhiều con em Bát Tràng đã tham gia trong đội ngũ nghĩa quân Bãi Sậy của Thủ lĩnh Trần Thiện Thuật. Một người làng gốm Bát Tràng tham gia tích cực phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục là cụ Lê Thiện. Khi Thực dân Pháp đàn áp, cụ cùng nhiều hội viên khác bị chúng bắt đầy ra Côn Đảo. Năm 1912, Phạm Văn Tráng  một người yêu nước cảm tử quê ở  Bát Tràng từng  tham gia  trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục hoạt động ở Trung Quốc , đã được tổ chức phái về nước thi hành án tử hình tên toàn quyền Đông Dương và tay sai đầu sỏ là Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Duy Hàn… Trái tạc đạn từ tay Phạm văn Tráng đã giết tên Nguyễn Duy Hàn trưa ngày thứ bẩy ,12 tháng 4 năm 1913 ở gần tỉnh lỵ Thái Bình . Cùng với trái tạc đạn của Nguyễn Khắc Cần tung giữa phố Tràng Tiền diễn ra cùng ngày, giết chết tại chỗ 2 viên sỹ quan Pháp đã làm cho giặc Pháp càng lo sợ và điên cuồng khủng bố. Phạm Văn Tráng bị thực dân Pháp bắt và tuyên án tử hình cùng 7 chiến sỹ Việt Nam quang phục hội vào tháng 9 năm 1913. Liệt sỹ Phạm Văn Tráng đã treo một tấm gương sáng cho mọi thế hệ thanh niên làng gốm noi theo.(Đỗ Thị Hảo, 1989,tr 81-83).
Bảo tàng lịch sử quốc gia là một trong số các bảo tàng Việt Nam  cùng nhiều sưu tập tư nhân còn lưu giữ những bộ sưu tập gốm cổ Bát Tràng rất quý hiếm  bao gồm nhiều loại hình đặc biệt thuộc các dòng men trắng , men rạn , men lam. Trong đó nhiều đồ gốm có khắc hay viết minh văn bằng chữ Hán , cho ta biết nhiều thông tin về gần 30 tác giả làm gốm là người Bát Tràng thời Lê –Mạc. Đó là ông sinh đồ đỗ tam trường đến ông xã trưởng. Đó là cả gia đình ông Đỗ Phủ với vợ và con trai, con gái, con dâu. Họ và tên những người đặt hàng gốm từ Phò mã, Công chúa đến các tầng lớp bình dân, trải dài trên nhiều tỉnh thành vùng đồng bằng Bắc Bộ. (Nguyễn Đình Chiến, 1999, tr 6-7 ). Nhiều chiếc có ghi niên hiệu của triều vua, rất có thể là sản phẩm lò quan ở Bát Tràng hay hàng đặt của Cung đình dưới các vương triều Lê- Mạc - Nguyễn. Dưới triều Lê Sơ , cùng với trung tâm sản xuất gốm ở Chu Đậu (Hải Dương) và Thăng Long (Hà Nội) gốm Bát Tràng đã từng tham gia xuất khẩu ra khu vực Đông Nam Á góp phần vào con đường tơ lụa trên biển. Ngày nay nhiều bảo tàng trên thế giới đã xây dựng sưu tập riêng về gốm Việt Nam như Nhật Bản, Philippine, Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ…mà trong đó có nhiều sản phẩm xuất xứ nơi sản xuất là lò gốm Bát Tràng. Sản phẩm gốm Bát Tràng là mặt hàng được nhiều nước ưa chuộng vì vẻ đẹp hài hòa độc đáo của hình dáng, màu men và nét vẽ. Theo ông A si li ce, chuyên gia gốm Nhật Bản từng nhận xét, trong khoảng 1597-1863, nhiều nghệ nhân lỗi lạc của Nhật Bản đã làm theo gốm “Kô Chi “(Giao Chỉ), nhất là các mẫu lọ lộc bình, bát trà đạo vẽ chuồn chuồn của Bát Tràng và ông bình luận rằng: ”Họ học hỏi với sự trân trọng và khiêm tốn , nhưng hoa đào núi Phú Sĩ, đường vân hoa văn như những vết nứt nặng nề của miệng núi lửa trên gốm Nhật Bản vẫn không sao hòa trộn được với  những cánh sen, tàu chuối, văn mây của vùng đất cận Đông Nam Á này”.Chính là nhờ những bàn tay tài hoa của người thợ gốm Bát Tràng mà biết bao sản phẩm gốm đã trở thành món lợi lớn cho các thương nhân Nhật Bản, Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha, Pháp và Trung Quốc…Không chỉ phục vụ xuất khẩu, gốm Bát Tràng còn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước với các chủng loại đồ gốm tôn giáo, gốm gia dụng và gốm trang trí kiến trúc. Bao nung gốm Bát Tràng cũng là một mặt hàng giá trị cao. Đó là loại gạch vuông Bát Tràng, đã đi vào ca dao Việt Nam :
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Triều đình nhà Nguyễn đã đặt ra lệ :” Làng Bát Tràng phải nộp thuế thân bằng gạch. Hạng tráng đinh phải nộp 300 viên gạch vuông mỗi năm, còn hạng lão chỉ phải nộp một nửa.” (Đỗ Thị Hảo, 1989, tr 35). Ngày nay có dịp qua thăm các di tích của kinh đô Huế, chúng ta sẽ thấy những con đường, sân điện, sân lăng đều lát gạch vuông Bát Tràng.
1.2. Làng gốm Bàu Trúc
Là người tham gia nghiên cứu về 3 trung tâm làm gốm ở miền Bắc Việt Nam là Bát Tràng (Hà Nội), Phù Lãng (Bắc Ninh) và Thổ Hà (Bắc Giang), chúng tôi đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu công bố. Nhưng làng gốm Bàu Trúc (Ninh Thuận) lại chưa từng có dịp đến thăm cho nên rất mong được học hỏi thêm từ các nhà nghiên cứu khác. Hơn nữa , cho đến nay tài liệu khảo cổ học về làng gốm này cũng rất thiếu vắng. Hiểu biết của chúng tôi về làng gốm Bàu Trúc (Ninh Thuận) rất hạn chế, chỉ thông qua những thông tin trên mạng báo chí truyền thông, xin được tóm tắt như sau:
Làng gốm Bàu Trúc ở Ninh Thuận nằm ở ven quốc lộ 1A, thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, cách thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 10km về phía Nam, là một trong hai làng gốm cổ xưa nhất Đông Nam Á, và được xem như một bảo tàng gốm truyền thống của dân tộc Chăm. Ngôi làng có tên Chăm là Paley Hamu Trok, còn người Việt gọi là Ma Tró, có địa danh xưa là làng Vĩnh Thuận từ đời vua Minh Mạng (1832). Sau trận lụt lớn năm Giáp Thìn (1964), làng di dời về nơi cao ráo hơn - nơi có nhiều khóm trúc vây quanh những cái ao khá lớn nên gọi là Bàu Trúc (trong tiếng Chăm bàu có nghĩa là ao - hồ).Theo truyền thuyết dân gian ở địa phương, người được vinh phong Tổ nghề của nghề gốm Bàu Trúc là vợ chồng ông bà Pô klông Chanh, một quan cận thần của vua Chăm Pô Klông Giarai (1151-1205). Người ta kể rằng ông từ chối làm quan triều đình về làng dạy cho phụ nữ cách lấy đất sét, vuốt nặn rồi nung thành những dụng cụ, vật dụng bằng gốm nhằm phục vụ cho cuộc sống hàng ngày trong mỗi gia đình. Từ đó khai sinh ra nghề gốm sản xuất ở nơi đây.( https//khamphaninhthuan.com, ngày16/6/2018). Nhớ ơn tổ nghề, bà con Chăm ở làng gốm Bàu Trúc đã lập đền thờ, tổ chức cúng tế Pô klông Chanh rất long trọng vào dịp lễ hội Katê được tổ chức vào ngày 21 tháng 10 hàng năm (nhằm ngày mùng 3 tháng 7 Chăm lịch).

 
Cổng vào làng nghề gốm Bàu Trúc(nguồn ảnh: Internet)

Nghề gốm của người Chăm tại làng Bàu Trúc có một sự tôn thờ, nhớ ơn sâu sắc với người đã tạo ra nó. Điều này thể hiện qua lễ nghi rước và cúng lễ trong  một ngày trọng đại. Trước khi bắt đầu buổi lễ, các vị chức sắc và đông đảo người dân làng Bàu Trúc tập trung tại nhà làng thực hiện nghi thức rước y trang tổ nghề gốm. Lễ rước y trang do vị thủ đền Pô klông Chanh dẫn đầu với đội nhạc lễ và đội vũ công truyền thống. Lễ rước di chuyển từ khu dân cư đến đền thờ Pô klông Chanh cách làng khoảng 2km về hướng Tây- Bắc. Thực hiện nghi lễ giỗ tổ sẽ do thầy kò ke, bà bóng, ông thủ đền thực hiện trước sự chứng kiến của các vị chức sắc Bà la môn. Cũng như lễ hội Kate, ông thủ đền và bà bóng sẽ dùng nước để tắm tượng thờ, mặc trang phục, sắp đặt phẩm vật lên bàn thờ tổ. Sau nghi thức cúng mở cửa đền, thầy kò ke vừa đàn kanhi vừa hát ngợi ca công đức tổ nghề Pô klông Chanh và cầu mong ông phù hộ cho dân làng một năm mới bình an, may mắn, thịnh vượng. Kế đến, dân làng bày vật phẩm cúng tổ, cầu mong nghề gốm truyền thống ngày càng phát triển, thành đạt.

Nơi đây còn bảo lưu kỹ thuật làm gốm hoàn toàn thủ công, người thợ xoay quanh chiếc trụ đá hay chiếc bình úp ngược, đôi tay vuốt nặn tạo hình sản phẩm. Mỗi vòng xoay, hình dạng sản phẩm gốm dần hiện ra dưới đôi bàn tay khéo léo, thêm những họa tiết đơn giản và mộc mạc nhưng khi thành phẩm thì đầy sức cuốn hút. Trong quá trình làm gốm, thợ gốm Chăm thực hiện nhiều khâu kĩ thuật khá phức tạp. Từ khâu làm đất, tạo hình đến nung gốm, họ hoàn toàn sử dụng bằng tay.Theo đó việc vuốt nặn gốm đòi hỏi thợ gốm phải có tay nghề cao, đạt đến độ tinh xảo thì mới có thể cùng một lúc kết hợp nhiều thao tác phức tạp để tạo thành một sản phẩm gốm có dáng tròn đều đặn. Các loại hình sản phẩm gốm Bàu Trúc bao gồm đồ gia dụng có kích thứơc nhỏ, hình dáng tương đối đơn giản; chủ yếu là đáy tròn miệng loe, miệng khum; đồ gốm thường là đồ dùng để đun nấu, đồ đựng như loại lu , thạp , nồi , niêu có chiều cao 20 cm, đường kính miệng 10 cm .Đồ gốm có kích thước lớn nhất là lu có chiều cao 120 cm, đường kính miệng gốm 50 cm .Loại đáy bằng chỉ được khắc phục trong những năm gần đây với số lượng đáy bằng không đáng kể .

 
Nét độc đáo trong nghệ thuật tạo sản phẩm gốm Bàu Trúc (nguồn ảnh: Internet)

Nhìn chung gốm cổ truyền của người Chăm Bầu Trúc, ngoài những đặc điểm riêng mang tính địa phương, còn mang những đặc trưng chung cuả loại hình gốm cổ ở vùng Đông Nam Á. Đó là gốm làm bằng tay, có sử dụng bàn đập, hòn kê; ngoài ra họ còn sử dụng kĩ thuật chải, miết láng và đặc biệt gốm trang trí các loại hoa văn khắc vạch, in chấm, vỏ sò, hoa thực vật và hoa văn văn móng tay. Từ kĩ thuật tạo hình dáng gốm, đến từng kiểu loại gốm, cách trang trí hoa văn, cho thấy gốm Chăm Bầu Trúc có mối quan hệ với gốm Sa Huỳnh và mang đặc tính chung của gốm khu vực lục địa và ven biển – hải đảo. Ngày nay gốm Bàu Trúc vẫn là vật dùng phổ biến trong cộng đồng Chăm và còn được họ đem trao đổi buôn bán, phục vụ đời sống cư dân nông thôn ở miền trung Việt Nam.

 

Nhiều mẫu mã gốm được tạo ra từ các bàn tay lành nghề (nguồn ảnh: Internet)

 

Mẫu mã sản phẩm gốm Chăm Bàu Trúc (nguồn ảnh: Internet)

II.Những điểm tương đồng và dị biệt giữa hai làng gốm Bát Tràng và Bàu Trúc

2.1. Những điểm tương đồng

Nếu so sánh giữa hai làng sản xuất đồ gốm Bát Tràng và Bàu trúc, chúng tôi thấy điểm tương đồng thứ nhất là cả hai làng gốm này đều nằm cạnh sông để khai thác điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nghề. Sông cung cấp nguồn nước dồi dào cho khâu lọc xử lý nguyên liệu, nhào nặn tạo nên cốt gốm. Sông là tuyến đường giao thông thuận tiện cho việc chuyên chở nguyên liệu đất đá để làm gốm, rơm củi để nung đốt gốm và chuyên chở sản phẩm gốm đem bán ra thị trường. Chính vì vậy, làng gốm Bát Tràng định cư bên tả ngạn sông Hồng phía dưới Kinh thành Thăng Long, ở khoảng giữa Thăng Long và Phố Hiến, trên đường thủy nối liền hai đô thị này và là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài. Làng gốm Bàu Trúc nằm bên sông Quao, thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Điểm tương đồng thứ hai là quá trình tạo cốt gốm và trang trí hoa văn ở cả hai làng gốm Bát Tràng và Bàu trúc đều do phụ nữ đảm nhiệm là chính.

 

Nghề gốm gắn liền với phụ nữ Chăm từ nhỏ cho đến lúc về già  (nguồn ảnh: Internet)

Ở Bát Tràng xưa kia, người phụ nữ cả đời làm lụng vất vả với nghề gốm để nuôi chồng con học hành đỗ đạt, làm rạng rỡ cho gia đình và làng nước. Vì thế phong dao xứ Kinh Bắc xưa có câu: “Sống muốn được làm trai Bát Tràng”. Do mọi việc trong nhà có phụ nữ lo toan gánh vác nên trai Bát Tràng:” Bé thì cơm mẹ cơm cha, Những những (tức tuổi trung niên 45-59) cơm vợ, về già cơm con”. Ca dao xưa còn phác họa một cách sinh động về cuộc đời của người nữ thợ gốm Bát Tràng: “Em là con gái Bát Tràng, Mười lăm mười tám đi làm xuất thân, Cái khăn trắng ngẩn ngần ngần, Cái sành, cái giẻ, cái nồi nước trong, Cái bàn thì chạy long tong, Làm hai mươi ván thì xong một ngày”.

Trong khâu tạo hình sản phẩm đồ gốm Bát Tràng, kỹ thuật vuốt nặn do bàn tay người thợ nữ rất nổi bật. Đất làm gốm được vò nhuyễn, cuốc thành thơi rồi ném (bắt nẩy) cho ngắn lại. Sau vài lần như vậy họ đặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho dính chặt.Tiếp theo, người thợ lại nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo mới định cỡ đất và ra hương chủ yếu bằng 2 ngón tay bên phải. Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết, người thợ sẽ dùng sành dằn để định hình sản phẩm, xén lợi và bắt lợi xong thì đưa vào bửng. Ở công đoạn này, người thợ nữ dùng bàn xoay bằng chân. Họ ngồi cao hơn mặt bàn trên một cái ghế, thợ đàn ông dùng bàn xoay quay bằng tay nặng đà hơn. Hồi xưa vuốt bát đĩa đều do thợ nữ làm. Khi vuốt với tư thế ngồi dùng chân đạp bàn xoay, vì mặc váy họ phải dùng lạt buộc 2 gấu váy phía trước và sau lại tạo thành 2 ống, chân thì quấn sà cạp. Do cách vận hành bàn xoay, thợ đàn ông dùng tay để giật bàn xoay, thợ đàn bà thì dùng chân để đạp. Cả 2 động tác này đã gây ra sự dị dạng nghề nghiệp: nữ thì đi” vòng kiềng”, nam thì đi “vặn mình xà”.

Nghề gốm của người Chăm Bầu Trúc là một nghề của phụ nữ. Qui trình sản xuất gốm Chăm Bầu Trúc bắt đầu từ khâu đào nguyên liệu, tạo hình, nung gốm đến trao đổi sản phẩm phần lớn là do phụ nữ đảm nhiệm. Người phụ nữ Chăm ở Bàu Trúc làm gốm không dùng bàn xoay. Người ta gọi kỹ thuật làm gốm Bàu Trúc bằng cái tên rất dân dã “làm bằng tay, xoay bằng mông”. Đất được đặt lên một cột đá tròn hay chiếc bình úp gọi là trụ, người phụ nữ cứ đều đều bước chân quanh cột đá hay bình úp đó, đôi tay vuốt nặn gốm. Qua bàn tay khéo léo của mình, những khối đất biến thành lọ hoa, bình nước, thành khương… Nhìn thì rất đơn giản, nhưng không được học, được rèn thì không ai làm được. Trước đây, dân Bàu Trúc sống nhờ nghề gốm. Con gái trong làng lớn lên 12,13 tuổi đã biết nhào đất, nặn gốm… thiếu nữ về nhà chồng phải biết nung gốm, nấu nước bằng nồi cơm, nồi đất nung do chính tay mình làm ra. Gốm Chăm hầu hết do phụ nữ làm bằng tay và “mẹ truyền con nối” từ đời này sang đời khác. Gốm làm bằng loại đất sét có độ kết dính khá cao, được thợ gốm lấy từ một loại đất ruộng gần bờ sông Quao do phù sa bồi tụ lâu năm mà thành.

2.1. Những điểm dị biệt

Nếu xem xét trên quy trình sản xuất đồ gốm giữa hai làng gốm chúng ta sẽ thấy có nhiều điểm dị biệt từ khâu chọn, xử lý đất đến khâu nung đốt. Làng gốm Bát Tràng sản xuất đồ gốm có men còn gốm Bàu Trúc sản xuất đồ gốm không phủ men. Do điều kiện tự nhiên quy định mà ngay từ khâu chọn đất đã có sự khác biệt.

Gốm Bát Tràng, tương truyền lúc đầu , người thợ gốm khai thác đất sét trắng ngay tại chỗ nên có tên gọi Bạch Thổ phường. Chất liệu này có tính dẻo, ít bã và ít phải gia cố trước khi tạo hình. Đến khoảng cuối thời Lê, các gò đất sét trắng của phường Bạch Thổ đã cạn, người thợ gốm Bát Tràng phải dùng đất sét lấy ở Rau (Sơn Tây), Cổ Điển (Phúc Yên) và đặc biệt là đất Dâu Canh (Đông Anh). Sau đó là đất sét trắng Hổ Lao và Trúc Thôn (Đông Triều) (Đỗ Thị Hảo, 1989,tr 54-55).Quy trình sản xuất đồ gốm ở làng gốm Bát Tràng gồm 3 công đoạn chính là quá trình tạo cốt gốm, trang trí hoa văn, phủ men và nung. Vai trò của người phụ nữ chủ yếu chỉ trừ khâu nung đốt do thợ đàn ông. Trong quá trình tạo cốt gốm phải trải qua  4 khâu: chọn đất, xử lý pha chế đất, tạo dáng sản phẩm, phơi khô và sửa hàng mộc. Quá trình trang trí hoa văn và phủ men phải làm qua 4 khâu: trang trí hoa văn, chế tạo men, tráng men và sửa hàng men. Quá trình nung phải có sự chuẩn bị lò nung, bao nung, nhiên liệu đốt lò, chồng lò và đốt lò. Trong khâu tạo hình gốm ở Bát Tràng trước đây gồm 5 công đoạn: tạo hình sản phẩm, sửa hàng mộc, trang trí hoa văn, làm men và sửa hàng men. Ngoài kỹ thuật vuốt nặn trên bàn xoay, ở làng gốm Bát Tràng còn có các kỹ thuật tạo hình khác là be chạch, đắp nặn và in. Kỹ thuật be chạch cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà. Ống đất trước khi ra hương được lần lượt tách ra từng phần tương ứng với mỗi sản phẩm vuốt nặn. Người thợ vừa be, vừa kéo, vừa định hình sản phẩm trên từng khoảnh đất. Kỹ thuật đắp nặn chỉ để tạo hình loại sản phẩm không có dáng tròn xoay như hình bầu dục, hình đa giác. Công việc đắp nặn chỉ dành cho thợ giỏi, thợ khéo để làm hàng đơn chiếc hay hàng mẫu để làm khuôn. Kỹ thuật in là tạo hình sản phẩm theo khuôn gỗ hay khuôn thạch cao. Với loại sản phẩm in khuôn , người thợ phải dùng loại đất đã pha chế đủ độ dẻo nhất định. Với loại sản phẩm dùng khuôn thạch cao , loại đất phải pha loãng như một loại hồ. Tùy theo cỡ sản phẩm to hay nhỏ mà sau thời gian nhất định  họ phải đổ phần hồ còn lại trong khuôn .

Sau khi kết thúc khâu tạo hình, sản phẩm cần chuyển qua khâu sửa hàng mộc trước khi trang trí đắp nổi, khắc chìm hay vẽ bằng men hoặc phủ men chảy, men rạn.. Sản phẩm gốm Bát Tràng được nung đốt bằng các kiểu lò khác nhau. Kiểu ló ếch có hình dáng giống như một con ếch nằm, dài khoảng 7m, bề ngang rộng nhất khoảng 3-4m, cửa lò rộng khoảng 1,2m, cao 1m, đáy lò phẳng nằm ngang, vòm lò cao từ 2m-2,7m. Bên hông lò có một cửa ngách rông 1m, cao1,2m, phục vụ cho việc chồng lò và dỡ sản phẩm sau nung. Lò có 3 ống khói thẳng đứng, cao 3-3,5m. Trong mỗi bầu lò người ta chia thành 5 khu vực xếp sản phẩm như hàng dàn, hàng gáy, hàng giữa, hàng chuột chạy và hàng mặt. Đến thế kỷ XX, ở Bát Tràng xuất hiện kiểu lò đàn, dài 9m, rộng 2,5m, cao 2,6m được chia làm 10 bích bằng nhau. Sau đó, lại xuất hiện kiểu lo bầu (còn gọi lò rồng) dài khoảng 13m. Lò có từ 5 đến 7 bầu hay 10 bầu. Các kiểu lò này cho phép độ nung đến 1250- 1300 độ C. Nhiên liệu đốt lò là củi phác và củi bửa. Theo kinh nghiệm, các loại gỗ đều dùng đốt lò được, chỉ trừ các loại gỗ sung, đa, gạo vối. Vì phải vận hành trên nóc lò nóng bỏng nên những người thợ phải đi loại guốc đặc chế bằng gỗ mực hay gỗ sung có mũi cong như mũi hài, đế móng trâu, cao 15cm, quai bện bằng sợi mây. (Đỗ Thị Hảo, 1999, tr 67). Thời gian đốt lò kéo dài khoảng 3 ngày 3 đêm. Quá trình làm nguội trong lò kéo dài 2 ngày 2 đêm, sau đó mới mở cửa lò, rồi 1 ngày 1 đêm nưa mới ra lò dỡ sản phẩm.Vào những năm cuôi thế kỷ XX, với sự ra đời và phát triển sản xuất gốm tư nhân, ở Bát Tràng phát triển loại lò hộp dùng nhiên liệu đốt là than cám, còn củi chỉ để gây lò. (Phan Huy Lê và nnk, 1995, tr 22-25).  Đến nay, ở Bát Tràng lại chuyển sang dùng lò ga nên đã giảm mức độ ô nhiễm môi trường đáng kể.

Sản phẩm gốm Bát Tràng vừa đa dạng về chủng loại, vừa phong phú về kích cỡ và số lượng. Về cơ bản, không kể các sản phẩm theo đơn đặt hàng đơn chiếc, có thể phân thành 4 loại chủ yếu là: Đồ gốm dân dụng gồm loại sản phẩm cỡ nhỏ là bát cơm, chén, tách và be rượu; loại cỡ vừa có bát chiết yêu,bát nắp, ấm chuyên, ấm tích,liễn, phạng, âu, ang…Đồ gốm thờ có chân đèn, chân nến, lư hương , đỉnh trầm, lọ lộc bình, lọ hoa, các loại chóe…Đồ gốm trang trí nội thất và vườn cảnh có các loại chậu hoa, đôn thống, các loại phù điêu, tranh treo tường, các tượng con giống chim thú vv…Đồ gốm kiến trúc có gạch lát nền, ngói lợp, gạch trang trí vv…

Gốm Bàu Trúc được làm từ đất sét sông Quao trộn với cát nhưng kết quả tạo ra loại nguyên liệu làm gốm không nơi nào có. Điều đặc biệt là loại đất sét này khi cho ra thành phẩm luôn lên màu đẹp, bề mặt láng mịn. Nước hay thức ăn để trong đó giữ được chất lượng và luôn mát hơn nhiệt độ bên ngoài. Ðất sét được lọc kỹ kết hợp với cát mịn, hạt nhỏ li ti nên dẻo lạ lùng . Điều đáng chú ý là đất sét nguyên liệu này chỉ được lấy một lần trong năm, mỗi lần kéo dài nửa tháng.  Lượng đất sét được lấy nhiều hay ít tùy thuộc vào khả năng của người chủ sản xuất. Vì vậy cứ tới mùa lấy đất, hầu như mọi người trong làng đều mang đất về trữ sẵn tại nhà để dùng đủ theo nhu cầu trong năm. Đất sét được đập thành những cục nhỏ, phơi khô, loại bỏ những tạp chất rồi ngâm nước trong hố đất đã đào sẵn. Cát cũng được sàng lọc kỹ, và lượng cát pha cũng phải tuỳ thuộc vào hình dạng và kích thước của loại hình sản phẩm gốm định làm. Đất được rửa sạch, đập nhuyễn, ngâm nước và nhồi với cát trắng hạt nhỏ theo tỷ lệ: 2 đất sét /1 cát. Sản phẩm gốm dù lớn hay nhỏ cũng được các nghệ nhân làm một cách tỉ mỉ, cận thận.  Đó cũng là kinh nghiệm truyền đời của người làng gốm. Đầu tiên, những người nghệ nhân ở làng nghề gốm Bàu Trúc dùng chân để nhồi đất và cát mịn, rồi cuộn thành từng đống hình trụ và phủ kín bằng tấm vải để ủ qua đêm. Sau đó, họ còn phải nhồi và lăn lại đất nhiều lần bằng tay, rồi vo tròn thành cục, đặt lên hòn kê hay dùng  chiếc bình úp ngược làm trụ để tạo dáng cho các sản phẩm theo yêu cầu. Người làng gốm Bàu Trúc vẫn giữ cách làm gốm nguyên sơ của mình từ bao đời, họ không làm bằng bàn xoay như những nơi khác mà người thợ phải hoàn toàn sử dụng bằng tay.

Câu chuyện rất thú vị của nghệ nhân Đàng Thị Phan người làng gốm Bàu Trúc cho ta thấy rõ về tính ưu việt riêng có của loại đất sét sông Quao. Nghệ nhân Đàng Thị Phan lớn lên trong gia đình có 3 đời làm gốm, từ năm 18 tuổi, bà đã biết nung gốm. Năm nay bước vào tuổi 66 tuổi, bà Phan vẫn thoăn thoắt đi quanh trụ để những khối đất biến hóa thành đủ hình dạng dưới bàn tay bà. Gia đình bà cũng là điểm đến hấp dẫn nhất làng Bàu Trúc mỗi khi có du khách đến làng. Với tình yêu nghề gốm,năm 2006 bà Phan đã đem cái lạ, cái đặc biệt của gốm Bàu Trúc đi Malaysia, Ấn Độ, Nhật Bản trong vòng 2 tháng để thi tay nghề vàđoạt giải nhất khi đó...Chia sẻ về niềm tự hào của nghề gốm Bàu Trúc, bà Phan bảo: “Cái độc đáo nhất của nghề là không có bàn xoay. Thực ra, tôi cũng mong có bàn xoay, để làm nghề đỡ cực chứ, nhưng đó mới là điều độc đáo của nghề gốm Bàu Trúc. Cũng chỉ có đất ở đây mới làm được gốm không có bàn xoay”. Bà Phan cũng kể, một lần ra Hà Nội làm triển lãm năm 2000, các làng nghề gốm Bát Tràng, Phù Lãng đều có bàn xoay, riêng Bàu Trúc không có bàn xoay. Ở Hà Nội nửa tháng, tôi thử làm bàn xoay nhưng không ra được sản phẩm, đất gốm Bàu Trúc không làm bàn xoay được, cứ đưa lên bàn xoay thì dính lại”.Tương tự, lần đến Nhật biểu diễn theo chương trình hợp tác văn hóa của nước bạn mời, bà Phan cũng bảo, chỉ có đất ở sông Quao mới làm được gốm mà không cần bàn xoay. “Tôi lấy đất của tôi lên bàn xoay của Nhật thử làm sản phẩm nhưng không được. Rồi tôi lấy đất của Nhật làm thử bằng tay như kỹ thuật của gốm Bàu Trúc thì nó sụp xuống, còn đất của tôi lên được đến 2m. Người Nhật họ ngạc nhiên lắm” (Dạ Minh. Bí ẩn gốm Chăm Bàu Trúc. https//toquoc.vn, ngày18/2/2013).

Sau khi được tạo hình xong, sản phẩm gốm được chuyển tiếp cho người thợ đảm nhiệm vai trò trang trí hoa văn. Khác với những nơi khác, hoa văn trên những vật dụng bằng gốm nơi đây được tạo hình bằng những dụng cụ đơn giản đến nỗi, ai chưa tận mắt thấy bàn tay thoăn thoắt của người thợ làm gốm tạo những chiếc bánh xe đồ chơi, cây gậy, chiếc lá, vỏ sò, vỏ ốc…trên những chiếc bình, vật dụng bằng gốm... thì sẽ tưởng đó là những thứ đồ chơi “ bỏ đi” của trẻ con chứ không phải là dụng cụ làm gốm. Những vật dụng thô sơ ấy, qua bàn tay tài hoa của những người thợ, những bông hoa, đồi núi, cây cối, sóng biển… dần hiện lên mang những nét đẹp rất riêng, vừa dịu dàng như một cô gái Chăm, vừa mạnh mẽ, sừng sững như những ngọn tháp của vùng đất này.

Gốm làng Bàu Trúc không nung trong lò cũng là điểm khác biệt. Các sản phẩm gốm Bầu Trúc được nung ngoài trời, (nung lộ thiên). Do đó nhiệt độ nung gốm sẽ không ổn định. Vì lò nung ngoài trời nên nó còn phụ thuộc vào thời tiết nắng, gió mà nhiệt độ trong lò có sự thay đổi. Trước khi nung các sản phẩm hàng mộc phải phơi khô trước một ngày. Khi nung, củi được xếp thành hình chữ nhật (4mx3m) dày khoảng 0.2m-0.3m, phía trên người ta xếp úp 2-3 lớp gốm, trong đó phía dưới xếp những sản phẩm gốm lớn hơn. Tiếp đó toàn bộ khối hàng gốm mộc được phủ một lớp rơm rạ dày khoảng 0.2m, và bên trên là một lớp trấu mỏng. Người thợ làng gốm Chăm Bầu Trúc chỉ bắt đầu nung đốt gốm vào buổi chiều ít gió hoặc gió nhẹ, và đốt theo chiều ngược gió. Nhiệt độ nung gốm khoảng 500-600 độ C với thời gian nung khoảng 6 giờ đồng hồ là dừng khi  gốm chín. Sau đó gốm được lấy ra để phun màu (loại màu này được chiết xuất từ trái dông, trái thị ở trên rừng) rồi được tiếp tục nung lại trong vòng 2 giờ nữa. Các sản phẩm gốm Bàu Trúc nung xong đều mang màu nâu đỏ tự nhiên của đất hoặc vàng đỏ, đỏ hồng, đen xám, hay có vệt nâu độc đáo...

Đây chính là lí do vì sao mà khi quan sát các sản phẩm gốm Bàu Trúc ta có thể thấy rõ vẻ đẹp riêng bí ẩn của nền văn hóa Chămpa cổ xưa. Mỗi sản phẩm gốm Bàu Trúc làm ra đều có nét riêngmang tính độc bản dù nung chung một ngọn lửa. Đây chính là yếu tố quan trọng để nghề làm gốm của người Chăm nổi tiếng, vang xa.

III. Kết luận và kiến nghị

3.1. Bài viết này làm một sự so sánh giữa hai làng sản xuất gốm ở hai vùng có những đặc điểm tự nhiên khác nhau, chúng tôi muốn giới thiệu những điểm tương đồng và dị biệt. Làng gốm Bát Tràng có nhiều thuận lợi, quá trình tồn tại và phát triển với bề dày lịch sử đã hơn 500 năm. Đây cũng là một trung tâm sản xuất đồ gốm nổi tiếng của miền Bắc Việt Nam. Làng gốm Bàu Trúc cũng có lịch sử tồn tại và phát triển từ lâu đời. Song ,do nhiều nguyên nhân mà đến nay chúng ta còn thiếu nhiều tài liệu chứng minh. Hơn nữa, các tài liệu khảo cổ học cũng chưa được đề cập tới. Điều này rất cần được phối hợp tăng cường mối liên kết nghiên cứu liên nghành, đa nghành trong thời gian tới. Cũng thông qua so sánh quy trình sản xuất đồ gốm ở hai làng gốm này, chúng ta càng thấy rõ tính độc đáo của dòng gốm Chăm Bàu Trúc. Những điểm đôc đáo này cũng rất cần nghiên cứu để phát huy trong thời kỳ kinh tế hội nhập quốc tế hiện nay. Với chủ trương báo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, nghề làm gốm Chăm Bàu Trúc vừa được Bộ VHTTDL đưa vào danh mục 12 Di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia và trình UNESCO xét duyệt, công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại, ngày 20/10/2018. Đây là một bước cần thiết để góp phần bảo tồn một làng nghề thủ công truyền thống độc đáo, cũng là cách để quảng bá hữu hiệu sản phẩm gốm Chăm Bàu Trúc ra thế giới..

3.2. Muốn gốm Bầu Trúc trên con đường hội nhập và phát triển bền vững thì trước hết nghệ nhân phải nâng cao tay nghề, đa dạng hoá hình thức gốm Chăm kể cả mẫu mã và hoa văn trang trí. Điều này, làng  gốm Bầu Trúc có điều kiện thuận lợi, vì hầu hết người dân có năng khiếu bẩm sinh về nghệ thuật nặn gốm, điêu khắc, làm tượng. Nếu như ngày xưa, gốm cổ truyền chỉ do người phụ nữ đảm nhiệm theo cách “mẹ truyền con nối”thì ngày nay gốm mỹ thuật trang trí của người Chăm Bầu Trúc lại là những nghệ nhân nam. Việc bồi dưỡng, đào tạo bài bản là rất cần thiết, cộng với năng khiếu bẩm sinh nghệ thuật của một làng nghề, kết hợp với vốn văn hoá dân gian Chăm đặc sắc và kho tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm phong phú, đa dạng thì các người thợ gốm Chăm Bầu Trúc sẽ dễ dàng nâng cao tay nghề và tạo bước chuyển biến mới cho làng gốm. Bên cạnh các loại hình gốm cổ truyền, các nghệ nhân gốm Chăm Bầu Trúc đã làm ra một số mẫu mã mới khác nhau theo cảm hứng như các loại tượng, phù điêu bằng gốm, sáng tác mô phỏng từ kho tàng văn hóa truyền thống của người Chăm như tượng Apsara, Shiva, Garuda…; một số tượng sáng tác về chủ đề mới như tượng Bà Mẹ Chăm, tượng Phụ nữ đội nước và tượng động vật như trâu, dê, rắn,rùa..vv…Song, sản phẩm gốm Chăm Bầu Trúc mới chỉ bước khởi đầu trên con đường chuyển mình từ gốm truyền thống đến gốm trang trí hiện đại. Người thợ gốm Chăm cần mạnh dạn tìm kiếm mẫu mã, kiểu trang trí và kĩ thuật sản xuất, đặc biệt là tìm thị trường tiêu thụ. Hướng phát triển bền vững của làng nghề  gốm Bầu Trúc  là làm thế nào để có thể vừa bảo tồn di sản văn hoá vừa tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của người dân. Đó đang là ước mơ của người dân Bầu Trúc cũng là những trăn trở của chính quyền địa phương.

 TS. Nguyễn Đình Chiến
 
Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 95

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Trống Vạn Gia Bá – Nhìn từ phát hiện ở Việt Nam

Trống Vạn Gia Bá – Nhìn từ phát hiện ở Việt Nam

  • 11/07/2019 13:59
  • 141

Trống Gillet II do Lêodol Gillet sưu tầm, được Fr. Heger công bố trong sách “Trống kim loại cổ Đông Nam Á” năm 1902, và định danh là trống Gillet II (Hà Nội) (Đông Kinh Gillet II). 115 năm trôi qua, đến nay đã có 50 chiếc trống tương tự như trống Gillet II (Hà Nội) được phát hiện. Chúng phân bố trên đất Việt Nam, Nam Trung Quốc và trên đất Thái Lan. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận định về loại trống này.