Thứ Hai, 22/07/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

26/06/2019 15:13 75
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Ngói và các bộ phận trang trí trên ngói là thành phần vật liệu quan trọng trong một công trình kiến trúc hoàn chỉnh. Trang trí trên ngói góp phần làm cho công trình kiến trúc thêm đẹp và trang trọng.


Các phát hiện khảo cổ học ở Bắc Việt Nam cho thấy các bộ phận trang trí trên ngói giai đoạn 10 thế kỷ đầu Công nguyên đều được trang trí hoa văn. Chúng được phát hiện trong các công trình quan trọng của nhà nước như các di tích Luy Lâu (Bắc Ninh), Hoa Lư (Ninh Bình), Cổ Loa, Thăng Long (Hà Nội) và Tam Thọ (Thanh Hóa). Thông qua các phát hiện khảo cổ học, bài viết nêu vài nét khái quát về trang trí trên ngói 10 thế kỷ đầu Công nguyên nhằm tìm hiểu đặc trưng nghệ thuật trang trí trên ngói, giao lưu văn hóa và bản sắc riêng của nghệ thuật trang trí kiến trúc giai đoạn này.

Ngói lợp 10 thế kỷ đầu Công nguyên gồm hai loại: ngói cong và ngói phẳng. Ngói cong gồm ngói ống, ngói âm - dương và ngói bò nóc. Ngói có trang trí giai đoạn 10 thế kỷ trước Công nguyên phổ biến trang trí trên ngói cong. Trang trí trên ngói phẳng chưa thấy xuất hiện. Trang trí trên ngói cong gồm các bộ phận: đầu ngói ống, đầu ngói âm, tượng uyên ương và hình lá đề. Trong đó, đầu ngói ống và đầu ngói âm lợp ở diềm mái. Tượng uyên ương và lá đề gắn trên lưng ngói và lợp ở bờ nóc bờ dải mái.

Trang trí trên đầu ngói ống

Đầu ngói ống có hai loại: đầu ngói ống hình tròn và đầu ngói ống hình bán viên. Đầu ngói ống có phần mặt ngói tròn quay ra phía ngoài và được trang trí hoa văn. Loại hình này ở Trung Quốc gọi là ngói “câu đầu” chỉ vị trí của viên ngói được sử dụng ở hàng cuối cùng trong mái kiến trúc để liên kết hai viên ngói âm lại với nhau và giải quyết thoát nước cho bộ mái. Đầu ngói ống 10 thế kỷ đầu Công nguyên ở Việt Nam phổ biến được trang trí trên đầu ngói hình tròn. Đầu ngói hình bán viên có xuất hiện nhưng không phổ biến. Toàn bộ mặt ngói tròn được chia thành hai phần: phần diềm và phần trung tâm. Phần diềm thường để trơn. Hoa văn trang trí ở trung tâm đầu ngói gồm hình mặt người, hoa sen, vân mây và chữ Hán.

     Hình mặt người

Ngói ống có trang trí hình mặt người chủ yếu xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ 2-3 trước Công nguyên và kéo dài cho đến các thế kỷ sau. Loại hình này trước thế kỷ 10 có mặt trong các di tích Tam Thọ (Thanh Hóa), Luy Lâu (Bắc Ninh) và Thăng Long (Hà Nội). Nhìn chung, hoa văn hình mặt người đều được thể hiện theo chiều nhìn thẳng chính diện với nhiều biến thể khác nhau.


Hình 1. Đầu ngói hình mặt người,  Luy Lâu (Bắc Ninh) (Nguồn: Viện Khảo cổ học)


Hình 2. Đầu ngói hình mặt người, Thăng Long (Hà Nội)   Ảnh. Nguyễn Hữu Thiết

Hình mặt người trang trí trên đầu ngói ống ở Luy Lâu (Bắc Ninh) có điểm chung là mặt người được thể hiện rõ hai mắt to cân xứng, dưới mắt có gân nổi và bao quanh mắt. Mũi to dài, mồm mang tính cách điệu cao với những vạch to và thưa. Đầu ngói thể hiện chấm tròn ở giữa trán, sống mũi chạy dọc với 3 lỗ mũi mở rộng, hai má có hai đường chỉ vạch ngang (Hình 1). Kiểu khác cho thấy không có chấm tròn ở trán, các b phận như mắt, mũi, mồm râu, má, răng… được thể hiện rõ. Tuy nhiên các nét chạm khắc đơn giản, cách điệu được thể hiện thần thái vui nhộn.

Khác với đầu ngói ống ở Luy Lâu, hình mặt người trên đầu ngói ở Thăng Long (Hà Nội) được thể hiện chi tiết, khỏe khoắn. Tuy các nét không thể hiện to, thưa như trên đầu ngói ở Luy Lâu nhưng chúng ta bắt gặp ở đây những hình mặt người rất ngộ nghĩnh, khuôn gọn trên đầu ngói tròn hoặc hình gần tròn. Bao xung quanh là hình răng cưa hoặc chấm tròn nổi. Mặt người thể hiện mắt, mũi, mồm, có khi trên trán có ba đường gạch nổi hình chữ “tam. Hàm răng cười nổi cao. Một kiểu khác cho thấy má nổi cao, miệng rộng, sống mũi cao, hai mắt to, tóc, râu được cách điệu bằng các đường gân nổi tỏa đều ra xung quanh, có khi miệng hơi bị lệch sang trái, mắt lớn hơn, xếch, xung quanh có các đường chỉ ngắn, nổi tròn (Hình 2).

Hoa sen

Hoa sen trang trí trên đầu ngói ống trước thế kỷ 10 có đặc điểm chung là hoa sen thể hiện theo chiều nhìn chính diện, cánh hoa đặc, nổi khối. Theo cách thể hiện này, hoa sen được diễn tả thành hình tròn, chính giữa là gương sen với chấm nổi tròn, xung quanh là cánh hoa sen tỏa đều ra bốn phía. Cánh sen là cánh nổi đặc, in nổi cao thành một khối. Hoa sen kiểu này thấy ở các di tích Luy Lâu (Bắc Ninh), Hoa Lư (Ninh Bình) và Thăng Long (Hà Nội). Hoa sen trên đầu ngói ống có diễn biến khá phức tạp. Hoa sen trang trí trên đầu ngói ống giữa các di tích cũng có sự khác biệt.

       

 
Hình 3. Đầu ngói trang trí hoa sen, Luy Lâu ( Bắc Ninh), ảnh: Ngô Thị Lan 

Hoa sen trang trí trên đầu ngói ống ở Luy Lâu (Bắc Ninh) có cánh đặc, nổi khối. Cánh hoa đặc với đường chỉ nổi bao quanh hoặc cánh hoa nhỏ, thon dài kiểu hoa thị. Cánh hoa có từ 6 đến 8 cánh với cánh phụ xen giữa. Nhụy hoa là chấm tròn nổi cao (Hình 3).

Hoa sen thời Đại La ở Thăng Long cũng có loại cánh hoa nhỏ, thon dài như ở Luy Lâu nhưng phong phú hơn với nhiều cách thể hiện khác nhau: dáng ngắn, dáng thon dài, dáng mập có các tia nổi xen giữa, dáng thon có đường gờ xen giữa. Nhụy hoa là chấm tròn nổi cao hoặc chấm tròn kết hợp đường chỉ nổi. Cách thể hiện cũng tương tự như trên đầu ngói trang trí hình mặt người giữa Luy Lâu và Thăng Long là thường chi tiết và khỏe khoắn.  

Hoa sen trang trí trên đầu ngói di tích Hoa Lư có điểm chung là hoa sen có cánh nổi đặc và hoa sen có cánh nổi đặc kết hợp đường chỉ bao quanh như hoa sen trên đầu ngói ống ở Thăng Long. Tuy nhiên hoa sen ở di tích Hoa Lư có cánh ngắn, tròn hơn, cánh hoa mềm mại, thưa hơn, đầu cánh tròn, vuốt nhọn và mềm mại.

Hình vân mây

Hình vân mây xuất hiện khá phổ biến trong nghệ thuật trang trí trên ngói diềm mái thời Đông Hán ở Trung Quốc. Ở Việt Nam, loại hoa văn này trang trí trên ngói ở di tích Cổ Loa (Hà Nội)khu vực Luy Lâu (xã Đại Lai, Bắc Ninh). Hình vân mây có đặc điểm chung là 4 hình vân mây uốn cong bao xung quanh đầu ngói tròn. Chính giữa là chấm tròn nổi cao

Chữ Hán

Trang trí văn tự hoặc chữ Hán trên đầu ngói chính là biểu hiện trực tiếp nhất ý thức tư tưởng của con người trong hình thức nghệ thuật và phản ánh văn tự đang dần trở thành một hiện tượng phổ cập trong xã hội đương thời. Đầu ngói trang trí chữ Hán xuất hiện đầu tiên vào thời Tần ở chỉ chỉ Thành Ung (Thiểm Tây, Trung Quốc) và phát triển mạnh trong thời Tây Hán. Ở Việt Nam, trang trí chữ Hán trên đầu ngói sớm nhất được biết ở di tích Tam Thọ (Thanh Hóa) và Luy Lâu (Bắc Ninh).

Chữ Hán trang trí trên đầu ngói có nhiều cách diễn tả khác nhau. Đầu ngói được trang trí từ một đến bốn chữ Hán. Các chữ Hán thể hiện bằng những nét chạm nổi, hình kỷ hà choán gần hết mặt ngói. Đôi khi các chữ Hán ghép lại thành câu có nghĩa như “Chúc ngài sẽ làm quan”, “Chúc mừng ngài sống muôn năm. ..  

Có khi mỗi chữ Hán được đặt trong một ô ngăn cách bởi đường chỉ nổi như trên đầu ngói có chữ Vị trí tam công.  Đầu ngói có bốn chữ “Quân nghi cao quan” bao quanh đầu ngói tròn xen giữa hai chữ là hình mây cuốn đối xứng nhau qua nhụy hoa tròn ở giữa đầu ngói. Chữ  Hán trên đầu ngói có khi thể hiện kiểu chữ triện, xung quanh là những chấm tròn nổi cao (Hình 4).


Hình  4. Đầu ngói trang trí chữ Hán,  Luy Lâu (Bắc Ninh). Ảnh: Ngô Thị Lan

Trang trí trên đầu ngói âm

Hoa văn trang trí trên đầu ngói âm hiện chỉ thấy ở Thăng Long, thời Đại La. Hoa văn trên ngói âm thường là những chấm tròn cân xứng hoặc những đường khắc tự do dạng văn hình học kết hợp với nhau. Hoa văn được tạo bằng tay trực tiếp lên mép viên ngói từ khi đất còn ướt, sử dụng các dụng cụ nhỏ khác nhau với các kỹ thuật: khắc vạch tạo răng cưa, trổ thủng và ấn dẹo tạo hình sóng nước sâu hoặc nông.

          Hình ba chấm tròn: hoa văn tương đối đơn giản chỉ là hình ba chấm tròn tương đối cân xứng trên đầu ngói. Hoa văn được vẽ bằng chạm khắc tay trực tiếp với những nét chìm sâu hình vòng tròn nhỏ. Hoa văn hình ba chấm tròn xuất hiện trang trí trên đồ gốm trong các văn hóa thời tiền sử như văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Gò Mun hoặc trên các đồ đồng thuộc văn hóa Đông Sơn. Đây cũng có thể coi là sáng tạo của người Việt trong trang trí trên ngói thời Đại La.

       Các hình khắc khác nhau kết hợp với nhau: loại hoa văn này được chạm khắc trực tiếp bằng tay những đường lượn sóng hình sin uốn lượn kết hợp với nhiều hình khắc khác nhau: ba đường cong chụm thành từng cụm theo chiều ngang được phân cánh bằng các vạch sâu theo chiều dọc; hai đường diềm để trơn, giữa là các vạch gấp khúc; mép ngoài là hình răng cưa, giữa là những đường gấp khúc hình chữ U lộn ngược; Những vệt trổ thủng hình 5 cánh trên hai đường chỉ nổi song song, mép ngoài là hình răng cưa (Hình 5).


Hình 5. Đầu ngói ống và đầu ngói âm, Thăng Long (Hà Nội). Ảnh: Ngô Thị Lan

     Tượng uyên ương

Trang trí gắn trên lưng ngói thường có hai loại: tượng uyên ương và các tượng linh thú như tượng rồng, tượng phượng và tượng nghê. Tuy nhiên, trang trí trên ngói 10 thế kỷ đầu Công nguyên chủ yếu là tượng uyên ương được gắn thêm trên ngói bò nóc và lợp ở vị trí bờ nóc, bờ dải mái. Tượng uyên ương có đặc điểm chung là đầu ngẩng cao, mỏ dẹt, mắt tròn, thân tượng có dáng thon lẳn và dài hoặc béo mập và ngắn, uốn cong song song với hướng đuôi. Hai cánh khép sát thân thể hiện từ hai đến ba lớp lông vũ bằng các đường vạch ngang. Chân không thể hiện rõ. Đuôi ngắn vuốt nhọn uốn cong lên phía trên từ một đến hai lớp. Lớp lông thể hiện bằng các vạch dọc theo thân đuôi. Nhìn tổng thể các chi tiết cấu trúc và đường nét tượng uyên ương thể hiện to mập, khỏe mạnh, các chi tiết được chạm khắc đơn giản bằng những đường khắc vạch thưa (Hình 6). Hình thức trang trí này xuất hiện trong thế kỷ 10 ở Hoa Lư (Ninh Bình) và Thăng Long (Hà Nội). Tượng uyên ương có dáng chung là nhìn thẳng về phía trước theo chiều viên ngói. Tuy nhiên, tượng uyên ương ở Hoa Lư còn có cách thể hiện ngoảnh mặt về phía sau.


Hình 6. Tượng uyên ương và hình ngọn lửa, Thăng Long (Hà Nội). Ảnh: Ngô Thị Lan

Hình ngọn lửa

Hình ngọn lửa gắn trên ngói bò nóc chỉ thấy phát hiện ở Thăng Long (Hà Nội). Hoa văn thể hiện là một ngọn lửa lớn tỏa sáng với những đường khắc hình răng cưa ở mép ngoài (Hình 6). Đây có thể là hình dáng ban đầu của lá đề cân xứng - loại hình trang trí phổ biến trong thế kỷ 11 - đầu thế kỷ 15 trong các di tích kiến trúc ở Bắc Việt Nam.

Một số nhận xét

Trang trí trên ngói 10 thế kỷ đầu Công nguyên góp phần phản ánh nghệ thuật trang trí trên mái kiến trúc, giao lưu văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam.

1. Trang trí trên ngói 10 thế kỷ đầu Công nguyên góp phần nhận diện nghệ thuật trang trí mái ngói kiến trúc thời kỳ này. Mái ngói trước thế kỷ 10 chủ yếu sử dụng mái ngói cong (ngói ống và ngói âm). Trang trí trên ngói trước thế kỷ 10 chủ yếu là hình thức gắn thêm trên ngói ống và ngói bò nóc (đầu ngói ống, tượng uyên ương và hình lá đề). Hình thức gắn liền trực tiếp lên thân ngói chỉ thấy ở đầu ngói âm. Trong các hình thức trên thì hình thức gắn thêm trên đầu ngói ống xuất hiện sớm nhất và được bảo lưu lâu dài nhất.

2. Trang trí trên ngói 10 thế kỷ đầu Công nguyên phản ánh tiến trình phát triển của hoa văn trang trí trên kiến trúc giai đoạn này.

Hình mây cuốn và chữ Hán là hoa văn xuất hiện sớm từ sau Công nguyên đến khoảng thế kỷ 5-6. Các hoa văn này tiếp tục xuất hiện trở lại trong các thế kỷ sau.

Hình mặt người  và các hình khắc tự do, hình chấm tròn trang trí trên đầu ngói âm là những hoa văn xuất hiện trong khoảng thế kỷ 7-9. Hoa văn hình mặt người xuất hiện trở lại trang trí trên ngói thế kỷ 17-18.

Tượng uyên ương và hình lá đề xuất hiện trong thế kỷ 10.  Loại hoa văn này tiếp tục là hoa văn trang trí phổ biến và trở thành đặc trưng nghệ thuật trong trang trí mái ngói kiến trúc thế kỷ 11 đầu thế kỷ 15 ở Bắc Việt Nam.

Hoa sen là hoa văn có diễn biến lâu dài nhất. Hoa văn này trang trí phổ biến trên đầu ngói ống thế kỷ 7-10 và tiếp tục phát triển mạnh vào các thế kỷ sau.

3. Trang trí trên ngói 10 thế kỷ đầu Công nguyên phản ánh giao lưu văn hóa với Trung Quốc, văn hóa Champa (Ấn Độ) và sáng tạo của Việt Nam.

Trước hết là Trung Quốc. Các bộ phận trang trí trên ngói trước thế kỷ 10 xuất hiện trong các di tích kiến trúc liên quan đến các trị sở của thời Hán như di tích Cổ Loa, Luy Lâu, Tam Thọ, Thăng Long (thời Đại La). Do đó, dấu ấn của kỹ thuật sản xuất và nghệ thuật trang trí gạch, ngói Trung Quốc lên gạch, ngói Việt Nam là rất rõ. Nghệ thuật trang trí trên ngói diềm mái 10 thế kỷ đầu Công nguyên ở Việt Nam gần gũi với nghệ thuật trang trí ngói diềm mái thời Hán, Đường (Trung Quốc). Hoa văn mây cuốn, chữ Hán gũi với hoa văn cùng loại trang trí trên đầu ngói ống thời Đông Hán. Hình mặt người, hoa sen, những đường khắc tự do kết hợp với nhau gần gũi với hoa văn cùng loại trên đầu ngói ở các di tích Đông Đô, Tập An và chùa Sùng Nhạc (Hà Nam), chùa Thần Thông (Sơn Đông) thời Đường ở Trung Quốc ([1]) ([2]).

Dấu ấn của nghệ thuật trang trí kiến trúc Champa được thể hiện qua đầu ngói ống trang trí hình mặt người. Hình mặt người trên ngói ở Luy Lâu (Bắc Ninh) cũng có nét gần gũi với đầu ngói ống Champa ở miền Trung Việt Nam như Trà Kiệu, Đồng Dương (Quảng Nam), Cổ Lũy (Quảng Ngãi), Thanh Trà (Bình Định) thành Hồ (Phú Yên). Yếu tố Ấn Độ được thể hiện rõ khi trên trán hình mặt người trên đầu ngói ống Luy Lâu tương tự với chấm tròn trên hình trang trí ở Trà Kiệu. Các nhà nghiên cứu cho rằng chấm tròn đó liên quan đến tôn giáo Ấn Độ, con mắt thứ ba của thần Siva trong Ấn Độ giáo, một trong 36 tướng lạ của đức Phật ([3]).

 Qua giao lưu văn hóa, sức sáng tạo của người Việt được thể hiện. Hình mặt người với những nét diễn tả các tư thế cười hồn nhiên, ngộ nghĩnh. Phảng mất mặt hề trong các lễ hội là mô tif  hoa văn rất phổ biến trong nghệ thuật Đông Sơn. Những nét mềm mại, mang dáng vẻ gần gũi trên đầu ngói ống hình mặt người ở Thăng Long xa lạ với những đầu ngói ống cùng loại thời Đường (Trung Quốc). Những dấu hiệu của nền văn hóa bản địa tiền Đông Sơn và Đông Sơn còn để lại trên ngói thời Đại La như hoa văn hình chấm tròn trên đầu ngói âm ở Thăng Long... Tất cả là dấu ấn của nghệ thuật trang trí kiến trúc Việt trong nghệ thuật trang trí kiến trúc thời kỳ này.

Sang thế kỷ 10, sức sáng tạo của người Việt được khẳng định rõ hơn. Đó là sáng tạo ra tượng uyên ương và lá đề hình ngọn lửa gắn thêm trên ngói bò nóc. Trang trí trên bộ mái trước thế kỷ 10 là trang trí gắn vào đầu ngói ống và trang trí liền thân trên đầu ngói âm. Sự xuất hiện của trang trí tượng uyên ương và lá đề hình ngọn lửa vào thế kỷ 10 ở Hoa Lư và Thăng Long có thể coi là mốc mở đầu cho sự xuất hiện của nghệ thuật trang trí trên lưng ngói lợp mái kiến trúc. Nghệ thuật trang trí này tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong các thế kỷ sau.

Tóm lại, trang trí trên ngói 10 thế kỷ đầu Công nguyên được hình thành và phát triển trên nền văn hóa bản địa và sự giao lưu mạnh mẽ với văn hóa bên ngoài. Sức sáng tạo của người Việt được thể hiện rõ trong quá trình phát triển đó. Trang trí trên ngói 10 thế kỷ đầu công nguyên cũng chính là bước mở đầu trong tiến trình phát triển nghệ thuật kiến trúc Việt Nam và lịch sử văn hóa Việt Nam. Sự phát triển đó đã phản ánh tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc Việt sau gần 1000 năm Bắc thuộc và là dấu hiệu mới để rồi bừng sáng và phát triển mạnh vào những thế kỷ sau.

TS. Ngô Thị Lan

([1]) Li Zi De, Geng Xie Hua 1985. Xi An zhu tu de gao gu li wa tang ji xi nian dai, Kaogu 7: 644-51

([2])He Nan jing wen hua gu wen wu gong zuo dui 1965. Zai gao pin zi jiu Fa Xian de wa jian, Wenwu 6: 44-9

([3]) Tống Trung Tín 1987. Vài nhận xét qua một số hình trang trí trên vật liệu kiến trúc cổ 10 thế kỷ sau Công nguyên, trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1986, trang  266

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 60

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Góp bàn về: Tên gọi một số loại hình mộ táng Việt Nam

Góp bàn về: Tên gọi một số loại hình mộ táng Việt Nam

  • 25/06/2019 14:23
  • 76

Mộ táng Việt Nam hình như cũng giống không ít những trường hợp khác trong khảo cổ học, do tên gọi không thống nhất đã dẫn đến tình trạng gây khó khăn cho người nghiên cứu trong khi so sánh, đối chiếu. Hơn thế nữa, gây nên sự lộn xộn trong việc phân kho của các bảo tàng, ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống phiếu, số đăng ký của kho; và do đó, càng gây khó khăn cho những người thuyết minh trong khi tiếp xúc với khách tham quan, với đủ những đối tượng.