Thứ Tư, 18/09/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

25/06/2019 14:23 158
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Mộ táng Việt Nam hình như cũng giống không ít những trường hợp khác trong khảo cổ học, do tên gọi không thống nhất đã dẫn đến tình trạng gây khó khăn cho người nghiên cứu trong khi so sánh, đối chiếu. Hơn thế nữa, gây nên sự lộn xộn trong việc phân kho của các bảo tàng, ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống phiếu, số đăng ký của kho; và do đó, càng gây khó khăn cho những người thuyết minh trong khi tiếp xúc với khách tham quan, với đủ những đối tượng.

Do tình hình như thế, trong những năm qua, ngành khảo cổ học Việt Nam đã dần dần thống nhất được nhiều tên gọi, dựa trên những tiêu chí khá cụ thể, giúp ích nhiều cho người nghiên cứu, cho việc lưu trữ, bảo quản và trưng bày ở các bảo tàng trung ương hiện nay, và, chắc chắn càng hữu ích cho các bảo tàng khảo cứu địa phương được xây dựng và hoạt động trong nay mai.

Đóng góp là như thế, nhưng còn không ít những tên gọi vẫn chưa thống nhất hoặc chưa hẳn thống nhất. Nổi lên trên hết là hệ thống tên gọi các loại hình mộ táng ở ta. Chắc hẳn còn phải lâu lắm mới có thể hiểu hết được toàn bộ các loại hình mộ táng, nói chi đến việc sớm thống nhất được tên gọi. Đương nhiên là thế, nhưng với tinh thần không chờ đợi, đề xuất vấn đề, cùng nhau thảo luận để chung sức nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạnh đưa ra tên gọi, hay có thể, chỉ là những khái niệm tên gọi, dừng lại ở một số loại hình cơ bản của mộ táng cổ Việt Nam, may chăng, dần dần giải quyết những khó khăn hiện nay đang gặp phải.

Mộ là một kết cấu gồm bốn bộ phận chủ yếu, mang tính phổ biến: Nấm mộ, huyệt mộ, quách mộ và quan tài. Phổ biến là như thế, nhưng, trong thực tiễn nghiên cứu không hẳn loại hình nào, hay bất cứ ngôi mộ nào cũng tuân thủ theo kết cấu nêu trên. Có loại chỉ ba, hoặc hai, thậm chí, một bộ phận, Cũng thảng hoặc không chỉ bốn bộ phận, mà còn có sự tham gia của những thành phần phụ khác mang tính gia cố. Nói như thế, chúng tôi đã căn cứ vào hiện trạng của từng loại và từng ngôi, căn cứ vào sự phục dựng mộ qua một phế tích đã bị lãng quên hoặc đổ nát.

Nhìn nhận và phân tích tiêu chí nêu trên, chúng ta có thể dễ nhận ra nấm mộ và huyệt mộ là có tính phổ quát, hay, khác hơn, khó nhận ra đặc thù để từ đó làm cơ sở phân biệt giữa chúng. Hầu như các loại hình, nếu có nấm đều gần như hình tròn, cho dù, chúng có kích cỡ và mức độ kiên cố có khác nhau. Cũng như thế, huyệt mộ - nếu không kể một số loại hình mộ táng thời tiền sử - dù có đặc trưng khác để đặt tên – nhưng cũng có người lấy huyệt làm tên gọi – thì, hầu như các huyệt đều có dạng hình chữ nhật.

Như vậy, cái còn lại chỉ là quách và quan. Đó sẽ là những tiêu chí cụ thể nhất, dễ dàng phân biệt nhất giữa các loại hình mộ táng. Chúng tôi đã dựa trên cơ sở đó để đặt tên1, trước hết, cho một số loại hình mộ táng khá quen biết ở Việt Nam, mà theo chúng tôi, những tên gọi trước đây không chính xác hoặc chưa phản ánh đầy đủ nội dung mà nó chứa đựng.

1. Trước hết nói về mộ thuyền: Mộ thuyền là một loại hình khá nổi nét của khảo cổ học Việt Nam, một trong những hình thức mai táng phổ biến của người Việt cổ. Cho đến nay, đã hàng vài chục ngôi được khai quật, nghiên cứu, với những khu mộ nổi tiếng như Việt Khê (Hải Phòng), Châu Can, Xuân La (Hà Sơn Bình)... Hầu hết, chúng đều nằm ở ven biển hoặc đồng bằng ô trũng Bắc Bộ. Gần đây, với phát hiện ở ven biển Nghệ Tĩnh, diện phân bố của chúng được đẩy xa xuống phía Nam nước ta, niên đại của chúng cũng được kéo dài đến tận thế kỷ 13 – 142.

 

Mộ thuyền Việt Khê

Loại hình mộ táng quan tài thuyền, không có gò, không có huyệt (trừ ngôi mộ số 3 Xuân La, được nêu lên như một giả thiết)3, đều được đặt trên mặt bùn của vùng đầm lầy ô trũng, rồi ghìm cọc bên trên, đôi khi, bên dưới đáy quan có những cây gỗ nhỏ để đỡ, tránh cho quan tài khỏi bị xê dịch do mực nước lên xuống thất thường trong các mùa ở đồng bằng Bắc Bộ. Điều này, khiến dễ nhận ra dạng khởi nguyên của nó là con thuyền, hay, là ảnh xạ của con thuyền từ thế giới dương gian đậm hằn trong cõi chết. Chính vì lẽ đó, đại đa số các nhà nghiên cứu, gọi tên là mộ thuyền, hay chính xác hơn là mộ quan tài hình thuyền cho loại hình này4.

Là đa số, nên không phải là toàn thể, một số ít người căn cứ vào dạng hình và kỹ thuật lưu tồn trên quan tài đã gọi nó là mộ quan tài thân cây khoét rỗng nằm trong phức hợp hay truyền thống kĩ thuật độc mộc5.

Một đôi người dè dặt hơn, “di dây” giữa hai tên gọi nêu trên, “trường hợp cụ thể này có thể gọi là thuyền độc mộc, trường hợp cụ thể khác gọi là thân cây khoét rỗng”6.

Rõ ràng, đứng về mặt dạng hình, không sao có thể phản bác được tên gọi như thế, một khi tự bản thân nó thể hiện, một khi sự tồn tại của nó còn đến tận ngày nay, ở một số dân tộc vùng cao Tây Bắc và Tây Nguyên cũng như một số dân tộc ít người thuộc lục địa và hải đảo Đông Nam Á. Trong khi, trong tâm thức của họ, cảnh quan địa lý vùng họ cư trú không có sự dính líu gì đến sông nước và con thuyền. Đó là việc của họ, từ cách nhìn nhận trực quan và trong cách dùng hiện hành mà thân cây khoét rỗng đảm trách.

Theo chúng tôi, không nên dừng lại ở cách nhìn trực quan ấy, bởi, quá trình nhận thức không thể giản đơn, máy móc. Thiết nghĩ “lí luận nhận thức” đã được các tác giả kinh điển luôn nhắc nhở. Dẫu vậy, đó vẫn chỉ là phương pháp luận, giúp sự nhận nhìn, dựa trên thực tiễn vốn có của loại hình mộ táng này chứa đựng.

Như trên đã trình bày, cũng như đã có nhiều nhà nghiên cứu lưu ý, địa vực chôn cất và phương thức chôn cất của loại hình quan tài này chủ yếu có gắn với vùng sông nước (đầm lầy trũng ven sông, ven biển)7.

Đặc điểm này dường như là phổ biến đối với những quan tài có niên đại sớm. Nó không chỉ thích ứng với tình hình mộ thuyền Việt Nam, mà còn cả với Nam Trung Quốc và Đông Nam Á8. Chỉ xét riêng địa bàn phân bố của những ngôi mộ có niên đại sớm nhất như thế, cũng đã đủ thấy yếu tố thuyền độc mộc của những quan tài này.

Như vậy, phải tìm mối quan hệ giữa quan tài thuyền xưa với những người sử dụng quan tài thuyền nay. Hẳn việc đó chưa phải phạm vi của bài viết này. Tuy nhiên, để gợi mở, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng khi nghiên cứu văn hóa của bất cứ một quốc gia, dân tộc nào, đều phải xuất phát từ một vùng trung tâm, vùng hạt nhân. Phải chăng, văn hóa mộ thuyền là khởi xuất từ vùng của người Việt (tất nhiên là Bách Việt)?9. Và, từ cái lõi Việt ấy, văn hóa mộ thuyền lan tỏa trong không gian, kéo dài qua thời gian, để rồi in đậm vào một trong những táng thức của cư dân miền núi, mà đến nay, khó lòng nhận ra nguyên khởi, nếu như, không tìm trong thẳm sâu tâm thức, đôi khi được khúc xạ thành những dạng thức văn hóa trung gian, gián tiếp của họ.

Nói như thế, chúng tôi hoàn toàn không có ý định cho rằng, chủ nhân mộ thuyền Đông Nam Á là người Việt, vì mộ thuyền là hiện tượng phổ biến ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, theo hướng này, có thể tìm ra những chủ nhân lõi khác của văn hóa mộ thuyền, trong mỗi một khu vực nhỏ hẹp khác, để từ đó mới có thể tạo ra một thảm văn hóa mộ thuyền đa sắc, như đã thấy ở Đông Nam Á hiện nay.

Hiểu được như thế, sẽ dễ nhận ra quan tài của người Mường và Tây Nguyên hiện nay, cũng như quan tài có đầu là sừng động vật, quan tài thân cây khoét rỗng treo trong các hang động ở Nam Trung Quốc, thậm chí những biến dạng khác nữa (hình mái nhà, hình máng... của một số cư dân Đông Nam Á) cũng đều là biến điệu, hay là lưu ảnh của con thuyền độc mộc. Một khi đã là lưu ảnh, lại lưu truyền qua một thời gian quá dài, hai nghìn năm có lẻ, lại từ một con thuyền đã biến điệu thành quan tài của người quá cố, thì chắc chắn nó đã bị phai mờ trong tâm thức của người đang sử dụng. Đó là một lẽ đương nhiên.

Để minh chứng cho tên gọi quan tài thuyền của loại hình mộ này, khảo cổ học còn có trong tay những tư liệu về mái chèo, mộ hình thuyền, bằng đất nung được chôn theo người chết. Hẳn, đây không chỉ là sự phản ánh chủ nhân là người quen sông nước, mà nó còn chứng định cho chức năng con thuyền của thế giới người chết.

Ở Bảo Luân Viện, Tứ Xuyên (Trung Quốc) người ta còn thấy hiện tượng quan tài hoặc bằng thân cây khoét rỗng, hoặc bằng ván đóng đặt trên chiến thuyền quan. Rõ ràng, tác dụng con thuyền như một linh xa được bộc lộ10.

Ngoài những tư liệu khảo cổ học, những tư liệu thành văn nói về mối quan hệ giữa cái chết và con thuyền có thể nêu ra, dường như không sao hết được11. Tuy nhiên, nổi lên trên hết là những dòng ghi chép về dân tộc học của các cư dân hải đảo Đông Nam Á với việc sử dụng một loại gỗ. Và, chỉ với loại gỗ ấy mới được làm thuyền và chế tạo quan tài12.

Với tất cả những lí do ấy và nhiều lí do khác nữa của những bài trong hệ thống trích dẫn chúng tôi đã lưu ý, chừng nào đó, có thể tán đồng với không ít các học giả nước ngoài, gọi loại hình mộ táng này là mộ quan tài thuyền (boat coffin burial) hay “thuyền quan táng”.

Kêu gọi để sớm thống nhất tên gọi mộ quan tài hình thuyền, không hẳn chỉ là mục đích tiện so sánh, đối chiếu trong nghiên cứu, mà, điều chủ yếu, để giải thích không ít những vấn đề hàm chứa trong nội dung văn hóa có mộ thuyền hay hẹp hơn, mộ thuyền chứa đựng.

2. Bây giờ chuyển qua loại hình thứ hai, tương đồng với thời gian phát sinh và phát triển của mộ quan tài hình thuyền, đó là, loại mộ xưa nay vẫn thường quen gọi với những tên khác nhau: mộ gạch, mộ Hán, mộ gạch kiểu Hán, mộ gạch cuốn vòm... Đây là loại mộ có cấu trúc khá đồ sộ, được xếp bằng những viên gạch cỡ lớn, có hoa văn in ô trám lồng là chủ yếu, cuốn vòm ở bên trên bằng những viên gạch múi bưởi, bên trong, có hoặc chỉ còn dấu vết của quan tài. Toàn bộ được phủ lên trên một nấm mộ đồ sộ như trái núi ở vùng đồng bằng ô trũng.

Về loại hình mộ táng này, chúng ta đã gặp nhiều nơi trên đất Việt Nam, chúng tập trung thành những khu lớn như Mạo Khê (Quảng Ninh), Thuận Thành, Tiên Sơn (Hà Bắc)... tương ứng với những trụ sở của phong kiến phương Bắc thời Bắc thuộc, hoặc trùng khớp với những con đường xâm lược và rút quân của bọn ngoại xâm Trung Hoa ra vào đất ta trong những thế kỷ đầu Công nguyên, khiến một thời gian, chúng tôi nghĩ đó là vết tích để lại của bọn tàn quân trên con đường xâm lược và rút chạy của chúng13. Tình hình ấy cũng làm nhiều người nghĩ đến nguồn gốc ngoại lai của loại hình mộ táng này, đối lập nó với mộ quan tài hình thuyền bản địa14. Lẽ đương nhiên, đó không phải lí do trực tiếp, mà đã từ lâu lắm rồi, loại hình mộ này đã được gán đặt với tên gọi hoàn toàn Hán15.


Mộ gạch cổ tại Mạo Khê - Quảng Ninh (nguồn Internet)

Theo chúng tôi, những tên gọi như thế không hoàn toàn đúng với tình hình tư liệu và thực tế khảo cổ học Việt Nam. Và, cơ bản hơn, chưa thật đúng với nội dung và hình thức mà nó có.

Xuất phát từ cơ sở đó, chúng tôi xin đưa ra một tên gọi, hay, đúng hơn, một khái niệm tên gọi, may chăng, khắc phục được những nhược điểm mà những tên gọi trước vấp phải.

Trước hết, với tên mộ Hán. Dường như đây là tên gọi được khảo cổ học Trung Quốc và chừng nào đó, của các học giả Pháp trước đây, nhằm phân biệt nó với những loại hình tương tự, có trước nó, (mộ Tây Hán) và, sau nó, (mộ Lục Triều, Tùy, Đường). Cách gọi này chỉ có thể hợp lý với tình hình mộ táng Trung Quốc, khi, chủ nhân mộ đích thực là người Hán, và khi chính nó là loại hình đặc trưng cho một giai đoạn16.

Trong khi đó, ở ta, giai đoạn tương tự ấy, không chỉ có độc nhất loại hình này, mà còn một số loại hình khác, không kém phong phú, được gọi tên theo loại hình (mộ quan tài hình thuyền, mộ quách gỗ hình cũi...). Hơn thế, không hẳn tất cả các mộ trên, chủ nhân đều là bọn thống trị Hán, mà, chắc chắn có cả người Việt. Do vậy, mộ Hán, là tên gọi hoàn toàn không thể chấp nhận được.

Cũng phải lưu ý là, những người dùng tên gọi nêu trên, không hoàn toàn hàm ý như đã giải thích, mà, có lẽ, mang nặng khái niệm chỉ thời gian, niên đại mộ. Mộ Đông Hán, mộ Lục Triều, mộ Tùy, Đường... tương đương với niên đại từ thế kỷ 1 – thế kỷ 10. Dầu là như thế, cũng không nên, vì đem ghép một khái niệm chỉ tộc thuộc vào một khái niệm chỉ thời gian. Cách hiểu và cách gọi như vậy, rất bất lợi, không chỉ cho khoa học.

Về tên gọi mộ gạch, mộ gạch kiểu Hán, mộ gạch cuốn vòm.... rõ ràng chỉ phản ánh được hình thức, không phản ánh được nội dung, chỉ phản ánh được bên ngoài, không toát được cái bên trong. Chúng tôi cho rằng, tất cả các loại mộ gạch có kích cỡ lớn như thế, có mặt ở Việt Nam, bên cạnh những mộ có quan tài thuyền bên trong như Đường Dù (Hải Phòng)17, Thiên Khánh (Hải Hưng)18, hầu hết đều có dấu vết còn lại của quan tài, mà, có lẽ do năm tháng và điều kiện bảo quản của nơi chôn cất, do độ bền của chất liệu gỗ làm quan tài, và, cơ bản hơn, do tục cải táng khi đương thời19 nên quan tài không còn lại đến ngày nay như ở Đường Dù, Thiên Khánh. Thực tế này không chỉ có vết tích khảo cổ học chứng định, mà cấu trúc đồ sộ của quách gạch bên ngoài, cũng nói rõ trong nó ắt phải có quan tài.

Nếu như thế, thì, đương nhiên, cái kết cấu bên ngoài đồ sộ ấy, phải đảm trách chức năng như một hộp quách. Như thế, tên gọi của nó, trước hết, phải được đổi là mộ quách gạch. Để phân biệt với những kiểu loại tương tự, có trước hoặc sau nó, cũng như với chính những loại có trước và sau ấy, nếu cùng kiểu, nên thêm một trạng từ chỉ thời gian đằng sau. Cũng cần phải thêm một đặc trưng cuốn vòm để phân biệt loại quách hình hộp, cùng bằng gạch, thuộc thế kỷ 14, mà ngôi mộ Gia Tân (Hải Hưng) phát hiện gần đây đã gợi ý20. Ghép những phần trên đây vào tên gọi, chắc sẽ quá dài, đó là chưa kể, nếu như quan tài trong quách có những đặc trưng nổi bật. Chính vì thế, phải chọn lựa sao, cho một tên gọi khắc phục được tất cả nhược điểm đã nêu. Hẳn việc đó còn được thảo luận. Trong khi chờ đợi, chúng tôi tạm đưa ra một tên gọi: Mộ quách gạch cuốn vòm thế kỷ 1 (2, 3...).

3. Cùng trong thời gian tồn tại của những loại hình như đã nêu trên, còn một loại thứ ba, không kém phần nổi nét, đó là loại mộ quách hình cũi. Mộ quách gỗ hình cũi phân bố trong một diện khá rộng và chấm dứt đột ngột vào những thế kỷ đầu Công nguyên, rồi lại tái hiện trên một không gian rộng lớn hơn nhiều lần so với trước, vào thời kỳ nhà Trần. Đó là những vấn đề đầy bí ấn, không dễ gì giải thích, khi tư liệu của những loại trung gian, hay những bước phát triển kế tiếp của nó theo thời gian, khảo cổ học, cho đến nay, chưa hề thấy. Vấn đề khó khăn nhưng lí thú, đòi hỏi phải có thời gian, công sức.

Xin trở về với tên gọi, bắt đầu từ cấu trúc của nó. Mộ quách gỗ hình cũi đầu Công nguyên không có huyệt, kết cấu gồm ba bộ phận: quách gỗ hình cũi là một sàn gỗ lớn được xếp bằng những thân cây gỗ đẽo vuông vức, đặt (hoặc không) trên những sà gỗ dài để tránh lún. Bao quanh sàn cũng là những cây gỗ vuông xếp chồng lên nhau, liên kết bằng mộng ngoàm ở bốn góc, tạo thành bốn bức vách, trông tựa hồ như những cũi lợn ở nông thôn hiện nay. Trong cũi đôi khi được phân ngăn bởi những tấm gỗ mỏng. Mỗi ngăn đảm trách những chức năng riêng. Ở ngăn chính thường chứa quan tài hình thuyền hoặc biến điệu của con thuyền độc mộc21. Quách cũi và dưới sàn cũi có trải than củi dầy. Mặt cũi có nắp đậy, nghiêng như nhà một mái. Toàn bộ được phủ lên một nấm mộ có quy mô đồ sộ không kém gì những mộ quách gạch cuốn vòm cùng thời.

Mộ quách gỗ hình cũi thời Trần, cùng có dáng hình tương tự nhưng quy mô nhỏ hơn, có đôi chút dị biệt trong cấu trúc, với sự tham gia của huyệt mộ hình chữ nhật.

Loại hình này, nếu tính cả hai thời kỳ, con số lên tới trên một chục ngôi được khai quật, nghiên cứu. Xem xét những báo cáo khai quật và những bài nghiên cứu, nổi lên sự không thống nhất về tên gọi: Mộ cũi, mộ quách gỗ, mộ quách cũi22. Chúng tôi nghĩ, những tên gọi ấy không phản ánh nội dung của nó, không nêu được đặc trưng nổi nét, nhằm phân biệt giữa nó, với những loại hình khác có tiêu chí tương tự.

Trước hết, về tên gọi mộ cũi hay cũi gỗ. Rõ ràng, tên gọi này không bao quát được nội dung bên trong, khiến người đọc dễ lầm tưởng: cũi đảm trách hai chức năng: quách và quan. Nếu không hẳn như thế, thì bên trong cũi, ắt không có quan tài, trong khi, dường như, các mộ kiểu này ở Việt Nam, thuộc cả hai thời kỳ, đều có quan tài bên trong. Nếu như có một cá biệt nào đó, không phải như thế, thì, nó đã bị phá hỏng, mà ngày nay, chỉ còn là một phế tích.

Tên gọi mộ quách gỗ có đầy nhược điểm, làm cho nó không sao phân biệt được với những loại hình quách gỗ hình hộp hiện có ở Việt Nam. Tên mộ quách gỗ, phải chăng chỉ có thể phân biệt được với mộ quách đá, hoặc quách đồng trong cách thức mai táng của một số dân tộc Trung Quốc, Ai Cập. Tuy vậy, các quách đồng hay đá của các dân tộc trên, vẫn chỉ một dạng hình hộp chữ nhật. Do vậy, đặc trưng cũi của loại hình này rất cần được lưu tâm trong bối cảnh đa dạng này.

Trong số những tên gọi trên đây, xem ra, mộ quách cũi là tên gọi thỏa đáng hơn cả. Tuy nhiên, tên gọi ấy đã không phản ánh được chất liệu sử dụng làm cũi, khiến dễ lầm lẫn với những hình cũi được làm bằng những chất liệu khác, nếu có, hoặc có những tên gọi khác – mộ vây đá – đã có người đề nghị gọi là cũi đá, có nên chăng23.

Với những lý do đó, loại hình mộ táng này, nên được gọi là: mộ quách gỗ hình cũi. Để phân biệt mộ quách gỗ cũi thời Trần với thời Bắc thuộc, phải có niên đại chỉ định đi kèm với mộ quan tài hình thuyền. Hẳn đây là lần đầu tiên gợi tên gọi cho loại hình này.

Ở một vài năm trước, tuy không bàn cụ thể, nhưng đã có người nhắc đến nó trong một bài tổng kết mộ táng thời Trần24. Phải chăng, đó là tia sáng đầu tiên – mà chúng tôi mong như thế - sớm hội tụ về tên gọi ấy.

 

Bàn về tên gọi mộ táng cổ Việt Nam, mà người viết chỉ đưa ra ba loại hình – cho dù, như đầu đề đã thừa nhận, chỉ một số, trong đa số khá phức tạp của táng thức cổ Việt Nam – thì quả là chưa trọn vẹn. Biết như vậy, nhưng do khuôn khổ tản mát, không sao thâu tóm hết, và, điều chủ yếu, do ý định thử nêu lên để thảo luận, tiến tới, tập trung sức, sớm xây dựng một phổ hệ tên gọi thống nhất của các loại hình mộ táng ở ta. Việc làm như thế, đã nêu ở phần đầu, không chỉ hữu ích cho các nhà khảo cổ học, mà còn cho cả các nhà bảo tàng học.

Mục đích lâu dài là vậy, cũng có một mục đích trước mắt là, từ tên gọi, có thể phân định rạch ròi các loại mộ để nghiên cứu, so sánh, đối chiếu. Tránh tình trạng như lâu nay thường làm, tách từng phần trong tổng thể một cấu trúc, rồi đem từng bộ phận đó mà so sánh đối chiếu. Thậm chí, trong quá trình nghiên cứu lấy đặc trưng của một loại hình mộ táng này để xếp vào phạm trù toàn thể của loại hình kia. Trường hợp những ngôi mộ Đường Dù, Thiên Khánh, Ngọc Lặc, Gia Lộc là những ví dụ. Việc làm như thế quả là chưa khoa học.

Hơn bất cứ một vấn đề nào, tên gọi, trước hết cần phải được lưu tâm.

 TS. Phạm Quốc Quân

Tài liệu dẫn:

1. Chúng tôi đồng ý với Đỗ Văn Ninh là, đối với khảo cổ học, nên phân loại mộ theo hình dáng, tên gọi cũng căn cứ trên cơ sở đó. Không nên phân theo táng thức (hỏa táng, địa táng, thủy táng...). Cách phân loại này không cụ thể. Chính vì thế, trong đa số các học giả Trung Quốc, gọi các quan tài ở huyện Cung, Tứ Xuyên là “quan tài thuyền” thì, một số ít lại gọi nó là “huyền quan” (quan tài treo)... Xem Đỗ Văn Ninh: Về tên gọi của loại hình mộ có quan tài hình thuyền. Bài đọc trong Hội nghị nghiên cứu mộ thuyền Việt Nam 1983. Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử. Chúng tôi cho rằng, phải sớm thống nhất cách gọi tên.

2. Bùi Vinh và Nguyễn Trung Chiến: Phát hiện mộ quan tài hình thuyền ở Thạch Vĩnh, Thạch Tiến, Thạch Hà (Hà Tĩnh). Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1983.

3. Phạm Quốc Quân và Trịnh Căn: Khu mộ thuyền Xuân La (Hà Sơn Bình). Khảo cổ học số 4/1983.

- Một ý kiến của các nhà địa chất, căn cứ vào địa tầng ở những nơi phát hiện mộ thuyền, cho rằng tất cả quan tài thuyền đều được chôn trong huyệt. Thực tiễn khai quật khảo cổ học chưa cho phép chúng tôi tin vào điều đó. Xem Vũ Thế Long và Nguyễn Ngọc Mên: Vài nét về hoàn cảnh cổ địa lý khu vực phân bố mộ hình thuyền ở đồng bằng Bắc Bộ, bài đọc trong Hội nghị nghiên cứu mộ thuyền Việt Nam 1983. Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử.

4. Hà Văn Tấn: Thuyền, mộ và mộ thuyền. Bài đọc trong Hội nghị nghiên cứu mộ thuyền Việt Nam 1983. Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử.

- Đỗ Văn Ninh: Về tên gọi của loại hình mộ có quan tài hình thuyền... đã dẫn.

- Phạm Quốc Quân: Mộ thuyền Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á. Bài đọc trong Hội nghị nghiên cứu mộ thuyền Việt Nam 1983. Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử.

Ngoài ra còn những người khác, tuy không bàn trực tiếp đến tên gọi, nhưng, trong cách dùng, chấp nhận thuật ngữ quan tài thuyền. Diệp Đình Hoa, Hoàng Xuân Chinh, Hà Văn Phùng, Đào Quý Cảnh, Nguyễn Trường Kì, Nguyễn Giang Hải – xem những bài đọc trong Hội nghị nghiên cứu mộ thuyền Việt Nam 1983. Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử.

5. Nguyễn Khắc Tụng: Đôi ý kiến về cái gọi là “mộ thuyền” hay mộ “quan tài hình thuyền”. Bài đọc trong Hội nghị nghiên cứu mộ thuyền Việt Nam 1983. Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử.

- Ngô Đức Thịnh: Về loại quan tài thân cây khoét rỗng (từ tư liệu và nhìn nhận Dân tộc học). Bài đọc trong Hội nghị nghiên cứu mộ thuyền Việt Nam 1983. Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử.

- Minh Phượng: Táng tục Tây Nguyên với vấn đề mộ thuyền, trong Sưu tập Dân tộc học 1981, tr 168.

- Tuy không đề cập cụ thể, nhưng đại biểu cho ý kiến này còn có Nguyễn Việt. Bài đọc trong Hội nghị nghiên cứu mộ thuyền Việt Nam 1983. Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử.

6. Nguyễn Dương Bình: Một vài ý kiến về quan tài hình thuyền độc mộc (qua một số tư liệu Dân tộc học). Bài đọc trong Hội nghị nghiên cứu mộ thuyền Việt Nam 1983. Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử.

- Nguyễn Duy Hinh: Con người – thân cây – cái chết. Bài đọc trong Hội nghị nghiên cứu mộ thuyền Việt Nam 1983. Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử.

- Ngô Đức Thịnh trong phần kết luận của mình cũng theo cách “di dây” này. Xem Ngô Đức Thịnh, đã dẫn.

7. Các nhà địa chất học, qua nghiên cứu địa tầng của những khu mộ thuyền niên đại sớm, khẳng định rằng chúng phân bố rất gần với bờ biển, dọc theo đôi bờ sông lớn, trên con đường tiến ra chinh phục đồng bằng ven biển. Xem Vũ Thế Long và Nguyễn Ngọc Mên: đã dẫn.

8. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của giáo sư Hà Văn Tấn cho rằng: “… chỉ có một bộ phận cư dân Đông Sơn có tập tục chôn mộ thuyền. Dù vậy, vẫn phải thừa nhận rằng đây là hình thức mai táng chủ yếu của họ”. Xem Hà Văn Tấn: đã dẫn.

9. Tứ Xuyên là tỉnh miền núi, nhưng nơi phát hiện ra khu mộ thuyền Đập Đông Duẫn, có niên đại sớm nhất của Trung Quốc hiện nay cũng là vùng trũng lầy, có suối sông bao quanh.

Gần đây, Trung Quốc có đưa niên đại mộ Vũ Di Sơn (Phúc Kiến) vượt hẳn các mộ thuyền Việt Nam và Đông Nam Á.

- 3840 + 90 năm cách ngày nay

- 3370 + 80 năm cách ngày nay

- 3445 + 150 năm cách ngày nay

.... Theo Lâm Hướng: Tóm tắt nội dung cuộc hội thảo học thuật về huyền quan táng của Trung Quốc. Văn vật, số 8/1981, tr 24 - 30 thì những niên đại này, trong giới học thuật Trung Quốc còn nghi ngờ. Chúng tôi vẫn cho Đập Đông Duẫn là khu mộ thuyền có niên đại sớm nhất ở Nam Trung Quốc. Tương đương với Việt Khê, Châu Can của Việt Nam.

Còn các mộ thuyền khác ở Đông Nam Á hầu như đều có niên đại muộn:

- Gua sam ti: 2115 + 150 năm cách ngày nay

- Hang Màu: 1180 + 70 năm cách ngày nay

-                    1180 + 80 năm cách ngày nay

-                    1045 + 75 năm cách ngày nay

Xem T.Harrisson: Tiền sử Boóc-nê-ô (chữ Anh). Viễn cảnh Châu Á, tập XIII, 1970, tr 40.

- Ongbah (Thái Lan): Những phát hiện ở Thái Lan (chữ Anh). Kỷ yếu hội nghị quốc tế lần thứ 7 về tiền sử và sơ sử.

- Xem P.Srensen: Những phát hiện mới ở Thái Lan (chữ Anh). Kỷ yếu hội nghị quốc tế lần thứ 7 về tiền sử và sơ sử.

- Tabon (Philippin): thế kỷ 13 – 14.

- Xem R.Fox: Phức hợp Hang Ta Bon. Tập chuyên khảo của bảo tàng quốc gia, số 1, Manila, 1970.

10. Đỗ Văn Ninh: đã dẫn.

11. Nhà Trần, theo ý kiến một số nhà nghiên cứu, có nguồn gốc dân chài nên trong táng thức cung đình, không thể thiếu con thuyền trong tang ma: "... Tân Dậu, Đại Khánh (1321). Trước đây, rước quan tài Thượng Hoàng (Trần Anh Tông) từ Phủ Thiên Trường đi theo đường thủy về để ở cung Thanh Từ. Theo thể lệ thì thuyền của Bảo Từ được một đoàn 8 chiếc kéo dây, thuyền của Huy Từ được một đoàn 2 chiếc kéo dây". Việt sử Thông giám cương mục, tập 6, Hà Nội, 1958, tr 17.

- Không chỉ thời Trần, các thời đại phong kiến sau này trong tang ma, con thuyền cũng không thể thiếu được: "Sau khi ta chết, các ngươi nên khéo an ủi cho chánh cung Đặng Thị (Đặng Thị Huệ) được nguôi lòng, đừng để chánh cung liều thân hoại thể. Ví bằng chánh cung cứ quyết chí, không ngăn được thì nên sắm sanh chở cùng một thuyền đem về táng bên mộ ta". Xem Ngô Cao Lãng: Lịch triều tạp kỷ, tập II, Hà Nội, 1975, tr 237. Hoặc: "Lễ Sơn Lăng triều Lê, đến kì chôn thì rước quan tài xuống thuyền đi từ bến Lộ theo đường thủy về Tây Kinh để an táng. Đời trước, đời sau đều như thế cả". Xem Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí. Lễ nghi chí, tr 168.

12. Đào Quí Cảnh: Mộ quan tài hình thuyền (từ góc nhìn Dân tộc học). Trong Sưu tập Dân tộc học năm 1981, tr 166 - 167.

13. Phạm Quốc Quân: Ngôi mộ Hán Núi Nàng (Hải Phòng). Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1975.

14. Đỗ Văn Ninh : Mộ Mường và tục chôn cất truyền thống Việt Nam. Tạp chí Dân tộc học, số 2/1978.

- Phạm Quốc Quân : Mộ thuyền – giới thiệu và nhận xét. Hai mươi năm hoạt động của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, 1978.

15. O.Jansé: Sưu tập khảo cổ học Đông Dương (chữ Anh), Kem-brit-giơ, 1947 – 1958.

16. Trong giai đoạn này, ở Trung Nguyên còn có loại hình mộ huyệt đất, nhưng không phải là đặc trưng, không phải mộ của người nghèo. Xem Khảo cổ học cơ sở. Sở Nghiên cứu khoa học Viện khảo cổ học Trung Quốc. Bản viết tay. Tư liệu khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội.

17. Đinh Văn Kiền và Lê Xuân Diệm: Ngôi mộ cổ có những di vật khá đặc biệt ở Đường Dù (Hải Phòng). Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1972, tr 244 - 251.

18. Đức Phong: Vài ý kiến qua những di vật trong mộ cổ Việt Khê. Những hiện vật tàng trữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam về ngôi mộ cổ Việt Khê. Hà Nội, 1965, tr 87.

19. Hoàng Xuân Chinh cho rằng, ở Việt Nam không có tục cải táng, nếu có, cũng chỉ cách đây 200 năm (cuối Lê, đầu Nguyễn). Xem Hoàng Xuân Chinh: Bàn về tục cải táng ở nước ta. Sưu tập dân tộc học, 1981, tr 169 - 170.

Nếu giả thiết trên đây của chúng tôi là đúng, thì tục cải táng ở ta có rất sớm.

20. Phạm Quốc Quân: Cấu trúc mộ Gia Lương và một số vấn đề quanh mộ quách gỗ hình cũi. Khảo cổ học, số 4/1984.

21. Phạm Quốc Quân: Cấu trúc mộ Gia Lương..., đã dẫn.

22. Lê Xuân Diệm: Báo cáo khai quật mộ quách gỗ ở Ngọc Lặc. Một số báo cáo về khảo cổ học Việt Nam, Hà Nội, 1966, tr 261.

- Đỗ Văn Ninh và Nguyễn Văn Mục: Mộ quách gỗ ở Gia Lộc. Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1972, tr 270.

- Nguyễn Đình Chiến: Ngôi mộ quách gỗ ở Cúc Bồ, Ninh Giang (Hải Hưng). Tư liệu Viện khảo cổ học.

- Võ Văn Tuyển: Mộ cũi gỗ Xuân An (Nghệ Tĩnh). Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1981, tr 138.

- Bùi Văn Lợi, Lò Giàng Páo, Vũ Sinh: Khai quật hai ngôi mộ quách gỗ ở Gia Lương (Hải Hưng). Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1983.

23. Phạm Quốc Quân: Ghi chú về những hòn mồ trong mộ Mường. Báo cáo trong hội nghị khoa học thanh niên. Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

24. Đỗ Văn Ninh: Xung quanh vấn đề mộ táng thời Trần. Khảo cổ học, số 4/1978, tr 68.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 133

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Độc đáo Đàn và Lễ tế Nam Giao qua tài liệu lưu trữ

Độc đáo Đàn và Lễ tế Nam Giao qua tài liệu lưu trữ

  • 13/06/2019 10:07
  • 157

Đàn và Lễ tế Nam Giao là một nét văn hóa cung đình độc đáo và đặc sắc dưới triều Nguyễn, chứa dựng giá trị lịch sử, văn hóa cùng giá trị nhân văn độc đáo.