Thứ Năm, 22/08/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

05/09/2018 10:44 981
Điểm: 1/5 (1 đánh giá)
Cuộc khai quật khảo cổ học tàu đắm cổ Bình Châu tại vùng biển Vũng Tàu, thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi được diễn ra từ ngày 04/6 đến ngày 23/6/2013. Theo thống kê, công trường đã thu được 91 thùng hiện vật nguyên và 177 thùng hiện vật vỡ, tổng số là 268 thùng.

Cuộc khai quật khảo cổ học tàu đắm cổ Bình Châu tại vùng biển Vũng Tàu, thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi được diễn ra từ ngày 04/6 đến ngày 23/6/2013. Theo thống kê, công trường đã thu được 91 thùng hiện vật nguyên và 177 thùng hiện vật vỡ, tổng số là 268 thùng.

Hàng hóa trong tàu là đồ gốm sứ bao gồm các chủng loại dòng gốm men nâu, men ngọc, đồ sứ hoa lam và sứ men trắng xanh. Ngoài các chủng loại đồ gốm sứ thời Nguyên còn xuất hiện những đồ gốm sứ hoa lam thời Minh và Thanh. Đây là đồ gốm sứ thuộc nhiều con tàu cổ khác tràn vào do dòng hải lưu khu vực. Thông báo này chúng tôi giới thiệu một vài nét về nhóm đồ gốm men ngọc tìm được trong tàu Bình Châu.

Đây là một trong số hàng hóa gốm sứ trong tàu bao gồm nhiều loại hình thuộc đồ gia dụng như âu, bát, đĩa, chén, tước, lư hương, lọ.

1.Âu có nắp: Loại này chỉ thấy một số mảnh cho thấy kiểu dáng âu có miệng đứng, vai phình, khắc chìm những vòng cung như sóng nước. Thân âu khắc chìm dây lá, phần giáp chân đế khắc băng cánh cúc. Nắp âu hình chỏm cầu, vành miệng loe, mặt trên nắp khắc hình bông sen.

Mảnh âu gốm

2.Bát : gồm 3 loại có các sắc độ xanh xám, vàng xám, ghi xám và xanh da táo.

+ Loại a: cao: 7 cm; đkm :18 cm, miệng loe, thành cong, đế thấp, đáy mộc. Trong lòng khắc chìm hoa sen, thành ngoài khắc băng cánh sen xung quanh chân đế. Kiểu dáng và trang trí còn gần gũi loại bát men ngọc thời Tống.

Bát gốm

+ Loại b: cao: 6,8cm; đkm: 17,2cm, miệng loe, thành cong, gờ miệng cắt khấc, trong lòng in chìm hoa lá, thành ngoài chia ô cánh hoa dọc thân, chân đế thấp, đáy không men. Loại bát này có nhiều trang trí khác nhau trong lòng như in chìm cành hoa uốn, in nổi sóng nước (Ảnh 5), hay in nổi bông hoa 5 - 6 cánh ở chính giữa, thành trong in nổi 3 chim hạc bay ngược chiều kim đồng hồ xen giữa 3 dải mây hình khánh. Giáp vành miệng in nổi băng dây hình sin có nhiều tay xoắn.

Bát gốm

Hoa văn trang trí trên bát và đĩa gốm

+ Loại c: cao: 6,5cm - 8,5cm; đkm:16cm - 19,5cm, gờ miệng cúp, thành cong, chân đế nhỏ, đáy lõm có dấu khoanh bàn kê. Trong lòng và thành ngoài phủ men ngọc màu vàng xám hay vàng chanh. Trong lòng bát in chìm các chữ Hán trong ô cánh sen 金玉满堂長命富貴(Kim ngọc mãn đường trường mệnh phú quý), hay hình 2 người đấu vật hoặc không trang trí.

Bát gốm

Bát gốm

3.Đĩa : gồm 4 loại

+ Loại a: Đĩa cao: 7,0cm - 7,1cm; đkm: 32,5cm - 34,0cm đều có dáng chậu, vành miệng loe ngang, gờ miệng cắt khấc. Loại đĩa này gồm 3 kiểu phân biệt theo trang trí gờ miệng cắt khấc hình cánh hoa sen, thành trong và ngoài in nổi băng cánh sen hay gờ miệng cắt khấc hình cánh hoa cúc, thành trong và ngoài in nổi 2 tầng cánh cúc.

Đĩa gốm

Đĩa gốm

Có chiếc gờ miệng tròn, thành cong, chân đế thấp. Trong lòng in nổi hình rồng 3 móng, thành ngoài in nổi băng cánh cúc. Các đĩa này đều đáy lõm có dấu khoanh bàn kê.

Đĩa gốm

+ Loại b: Đĩa cao: 5,5cm - 7,0cm; đkm: 32,5cm, có dáng chậu, gờ miệng lõm hình lòng máng. Chỉ có ít đĩa loại này thành trong và ngoài trơn, đa số còn lại có thành trong in nổi băng cánh cúc, giữa lòng in cành hoa lá, đáy lõm có dấu khoanh bàn kê.

Đĩa gốm

+ Loại c: Đĩa cao: 5,0cm; đkm: 24,0cm, có miệng loe, thành cong, lòng phẳng, chân đế thấp, đáy lõm có dấu khoanh bàn kê. Giữa lòng in nổi hình rồng hay cành hoa cúc. Nhiều chiếc có thành trong khắc chìm băng hoa sen, dây lá hình sin hay dây lá dương xỉ, giữa lòng in nổi cành hoa lá.

Đĩa gốm

+ Loại d: Đĩa cao: 3,0cm; đkm: 12,2cm - 13,3cm, có miệng loe, thành cong, lòng phẳng, chân đế thấp, men phủ trong ngoài, không trang trí. Có chiếc giữa lòng có dấu bàn kê tròn không men.

4.Chén cao 5,5cm; đkm 9,0cm, có miệng cúp, thành cong, sâu lòng, chân đế thấp, đáy không men, giữa lòng có dấu bàn kê tròn không men.

Chén gốm

5.Tước : Chỉ thấy một chiếc tước men ngọc bị vỡ, cao: 8,0cm; đkm: 11,0cm.Tước có miệng loe, thành cong, chân đế hình trụ, phía dưới loe. Phía trong chân đế lõm hình nón. Men phủ màu xanh da táo.

Tước gốm

6.Lọ : gồm 3 loại

+ Loại a: Lọ cao: 6,5 cm; đkm: 4,0cm, có màu vàng xám hoặc xanh da táo, miệng đứng, thân hình cầu dẹt, đáy bằng không men, giữa cổ và vai gắn 2 quai nhỏ. Thân trên in nổi băng hoa lá cúc. Thân dưới in nổi băng chữ S cuộn.

Lọ gốm

+ Loại b: Lọ cao 6,5cm; đkm 3,0cm, có màu vàng chanh, miệng cúp, thân hình cầu, chân đế thấp, đáy bằng không men. Giữa miệng và vai gắn 2 quai tròn. Thân trên in nổi băng dây lá. Thân dưới in nổi băng dây hình sin có tay xoắn.

Lọ gốm

Hoa văn trên lọ gốm

+Loại c: Lọ cao: 4,0cm; đkm: 2,0cm, có màu xanh da táo, miệng cúp, giữa miệng và vai không có quai, thân hình cầu, chân đế thấp, đáy bằng không men.

Lọ gốm

7.Lư hương : Đây là loại lư hương nhỏ, cao: 4,5cm; đkm: 9,3cm, phủ men ngọc màu vàng chanh, xanh xám và xanh da táo. Lư có miệng đứng, gờ miệng phẳng, thân hình trụ trên to dưới nhỏ tạo 3 rãnh lõm, trong lòng và đáy lõm không men. Thành ngoài có gắn 3 chân quỳ.

Lư hương gốm

Trang trí trên các loại hình đồ gốm men ngọc có nhiều đề tài khác nhau nhưng tập trung nhất là bát, đĩa và lọ.

- Đề tài con người thấy in nổi trong lòng bát, cảnh đấu vật.

- Đề tài rồng in nổi trong lòng đĩa với 3 kiểu.

- Đề tài hươu in nổi trong lòng đĩa.

- Đề tài chim hạc và mây hình khánh, hoa dây hình sin in nổi trong lòng bát và thành ngoài lọ.

- Đề tài song ngư trong lòng đĩa .

- Đề tài sóng nước và mây nổi hình khánh.

- Đề tài chữ Hán khắc chìm trong lòng bát.

- Đề tài hoa lá gồm các loại hoa sen, hoa cúc, hoa mẫu đơn, hoa phù dung, hoa có cánh xoáy, hoa có 5,6 cánh đều nhau vv…

Thông qua nhiều tài liệu khảo cổ học và bảo tàng đã công bố ở nước ngoài, chúng tôi thấy nhiều tiêu bản gốm men ngọc trong sưu tập tàu cổ Bình Châu có những nét tương đồng. Điều này không chỉ cho thấy sự đồng đại mà còn cho thấy nguồn gốc sản xuất đồ gốm men ngọc là lò Long Tuyền và Phúc Kiến. Chiếc đĩa men ngọc, cao: 7,0cm, đkm: 33,5cm, có dáng chậu, miệng loe ngang, thành cong khắc chìm dây lá, lòng phẳng, giữa lòng in nổi hình rồng mây.

Đĩa gốm men ngọc Thời Nguyên, tk: XIV. Tàu Shinan.Lò Long Tuyền.

là sản phẩm lò gốm Long Tuyền, được tìm thấy trong tàu cổ Shinan, thời Nguyên, thế kỷ XIV (National Research Institute of Maritime Cutural Heritage of Korea, Guide, 2012.:103). Ngoài ra, trong tàu cổ Bình Châu còn thấy phổ biến 2 loại đĩa cỡ lớn:

a,Đĩa dáng chậu, miệng loe ngang, gờ miệng có rãnh lõm lòng máng. Thành cong, in nổi băng cánh cúc, lòng phẳng, in nổi cành hoa lá cúc. Đĩa có chân đế thấp, đáy lõm có vết khoanh tròn bàn kê.

b,Đĩa tròn, miệng loe, thành cong. Trong lòng khắc chìm cành lá dương xỉ và hoa lá. Chân đế thấp và rộng, đáy lõm có vết khoanh tròn của bàn kê.

Các loại đĩa này có kiểu dáng, loại men và hoa văn tương tự đều đã được phát hiện và trưng bày ở Nhật Bản (Ảnh 23,26), ở Philippine.

(a) Đĩa gốm men ngọc. Thời Nguyên, tk: XIV. Đk: 33,2 cm

(b) Đĩa gốm men ngọc. Thời Nguyên, tkXIV. Đk: 34,2cm

(c) Nắp gốm men ngọc, khắc chìm hoa dây. Thời Nguyên, tkXIV.

Đồ gốm men ngọc và men nâu. Thời Nguyên, tk: XIV.

(1). Đĩa gốm men ngọc, thời Nguyên, tk: XI. Lò Long Tuyền. Đkm: 36 cm.

(2)Đĩa gốm men ngọc, thời Nguyên, tk: XIV – XV. Lò Long Tuyền. Đkm: 36,2 cm.

(3). Đĩa gốm men ngọc, thời Nguyên, tk: XIII – XIV. Lò Long Tuyền. Đkm: 20,5 cm.

(4). Bát gốm men ngọc, thời Nguyên, tk: XIII. Lò Phúc Kiến. C: 7,6cm ; Đkm: 19,7 cm.

Theo kết luận của các tác giả công bố đều xác định là đĩa gốm men ngọc thời Nguyên, thế kỷ XIV (Rita C.Tan và Nink, 1991:52, 53). Chúng tôi đã thấy các loại đĩa này trưng bày tại Bảo tàng Thượng Hải và Quảng Tây (Trung Quốc). Lọ gốm men ngọc có 2 quai nhỏ, cao 6,1cm và lư hương gốm men ngọc cao: 5,3cm; đkm: 8,2cm , tìm thấy ở Philippine tương tự chủng loại trong tàu cổ Bình Châu cũng được xác định thuộc thời Nguyên, thế kỷ XIII-XIV (Trade Ceramics found in the Philippines from Collection of Mr & Mrs. Andrew Seki Drzik of Sato Art Museum Toyama, 1999: 62).

Lọ gốm men ngọc.Thời Nguyên, tk: XIV. Lò Long Tuyền. C :6,1cm; ĐK bụng: 10cm

Lư hương, gốm men ngọc. Thời Nguyên, tk: XIII-XIV. C: 5,3 cm ; Đkm : 8,2 cm.

Cùng với các nhóm đồ sứ hoa lam, sứ men trắng, gốm men nâu tìm được trong tàu, nhóm đồ gốm men ngọc này góp phần chứng minh niên đại của tàu cổ Bình Châu là thời Nguyên, thế kỷ XIII- XIV. Điều này còn được củng cố hơn bằng kết qủa phân tích giám định sưu tập tiền đồng tìm được trong tàu khi khai quật, với đồng tiền muộn nhất là đồng Chí Đại thông bảo đời Nguyên Vũ Tông (1308-1311).

TS.Nguyễn Đình Chiến

Tài liệu tham khảo

1.Bảo tàng khu tự trị dân tộc Choang ( Quảng Tây), 2011. Từ Mỹ như hoa (Ci Mei Ru Hua). Quảng Tây giáo dục xuất bản xã (chữ Trung Quốc).

2.China Westward, Chinese Export Ceramics from 12th C to 15th C, 2004. Hương Cảng thành thị đại học Trung Quốc văn hóa trung tâm đào từ hạ tây dương nghiên cứu tiểu tổ, (chữ Trung Quốc).

3.The interaction in Medieval East Asian Sea (in Japanese and English).

4.Trade Ceramics found in the Philippinnes from Collection of Mr &mrs.Andrew Seki Drzik of Sato Art Museum Toyama. Đinh điền thị lập bác vật quán, 1999.(In Japanese and English)

5.Trương Wei (cb), 2001. Trung Quốc thủy hạ khảo cổ học báo (Q. 1). Bắc Kinh khoa học xuất bản xã( Chữ Trung Quốc)

6.Larry Gotuaco, Rita C.Tan & Allison I.Diem, 1997. Chinese and Vietnamese blue and white wares found in the Philippines, Bookmark.

7.National Research Institute of Maritime Cutural Heritage of Korea, Guide, 2012.

8.Nguyễn Đình Chiến, 2015. “Đồ gốm sứ trong 6 con tàu đắm ở vùng biển Việt Nam”. Kỷ yếu hội thảo khoa học khảo cổ học biển đảo Việt Nam, tiềm năng và triển vọng, Hà Nội, tr.235-253.

9.Nguyễn Đình Chiến & Phạm Quốc Quân, 2013.“Khai quật tàu đắm cổ Bình Châu - Quảng Ngãi, con tàu cổ thứ VI trong vùng biển Việt Nam". Trong Thông báo khoa học BTLS quốc gia, số 2, tr.83-87.

10.Nguyễn Đình Chiến, Phạm Quốc Quân & Đoàn Ngọc Khôi, 2017. Báo cáo khai quật khảo cổ học dưới nước tàu cổ Bình Châu (Quảng Ngãi). Tư liệu Bảo tàng lịch sử quốc gia.

11.Nguyễn Đình Chiến & Nguyễn Ái Dung, 2015.”Kết quả giám định sưu tập tiền đồng tìm được trong tàu cổ Bình Châu (Quảng Ngãi)”. Trong KCH,số 3, tr.77-84.

12.Rita C.Tan & Nink, 1991.Chinese and South East Asian Green Ware found in the Philippines. The Oriental ceramics Society of the Philippines.

13.S.T.Yeo & Jean Martin, 1978.”Chinese blue and white ceramics”. Arts Orientalis Singapore. (in Chinese and English).

14.Shanghai Museum, 2012. Splendos in Small Art of Yuan Blue and white porcelain.(In Chinese and English).

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 95

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Văn hóa Óc Eo – Một nền văn hóa cổ ở Nam Bộ

Văn hóa Óc Eo – Một nền văn hóa cổ ở Nam Bộ

  • 13/08/2018 10:31
  • 982

Ngay từ đầu TK 20 những cổ vật đầu tiên của văn hóa Óc Eo đã được phát hiện trên cánh đồng Óc Eo- Ba Thê thuộc xã Vọng Thê - huyện Thoại Sơn - tỉnh An Giang. Do sự phong phú cuả loại hình, sự độc đáo của chất liệu và vẻ đẹp rực rỡ của mỹ thuật chế tác nên ngay từ lúc bấy giờ, các di vật của văn hóa Óc Eo đã lôi cuốn sự chú ý của nhiều học giả nổi tiếng người Pháp như: G.Coedès, L.Malleret, H.Parmentier…Tuy nhiên công cuộc nghiên cứu văn hóa này chỉ thực sự bắt đầu bằng cuộc khai quật của L.Malleret tại di tích Óc Eo vào năm 1944 và những năm sau đó. L.Malleret đã công bố kết qủa khám phá và nghiên cứu của mình trong bộ sách có nhan đề “Khảo cổ học ở đồng bằng sông Cửu Long” (L Archeologie du delta du Mekong) lần lượt xuất bản từ 1959- 1964. Công trình này được coi là thành tựu Khảo cổ học chủ yếu về Văn hóa Óc Eo cho đến trước năm 1975.