Thứ Sáu, 01/07/2022
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

20/06/2016 02:02 2352
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Trong lời ca Mời trầu dân ca quan họ Bắc Ninh có câu: “Mời nhau ăn một miếng trầu Không ăn cầm lấy cho nhau vừa lòng”…

Ăn trầu là một phong tục tập quán đặc biệt trong văn hóa Châu Á. Theo các tài liệu hiện biết, tục ăn trầu khá phổ biến ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanma, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Pakistan, Sumatra, Malacca, Đài Loan…

Gắn liền với các tập tục này là các dụng cụ như cơi trầu, bình vôi, cối giã trầu, ống nhổ… bằng các chất liệu khác nhau tùy theo địa vị, tầng lớp trong xã hội.

Trong kho tàng Truyện Cổ tích Việt Nam có Sự tích trầu cau: câu truyện nhân cách hóa nguồn gốc của cây cau, trầu không và tảng đá vôi là những thứ được dùng để ăn trầu cũng như giải thích tục lệ sử dụng trầu cau trong lễ cưới hỏi. Hỗn hợp ba thứ cau, trầu và vôi khi ăn cùng sẽ tạo ra sắc đỏ như máu nên được coi như biểu tượng tình nghĩa thắm thiết của anh em, vợ chồng.

Cho đến nay, tuy không còn phổ biến như xưa nhưng trầu cau vẫn được dùng trong lễ hội giao hiếu, kết thân, cúng gia tiên, lễ cưới hỏi, ma chay của người Việt, mang ý nghĩa sâu đậm trong văn hóa, văn chương Việt Nam.

Khi nghiên cứu tìm hiểu bộ sưu tập bảo vật triều Nguyễn lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia, chúng tôi đã thấy những bảo vật thuộc bộ đồ ăn trầu trong Hoàng cung triều Nguyễn bằng chất liệu quý hiếm là vàng, bạc và ngọc quí.

1. Cơi trầu, hay còn gọi Âu trầu: là dụng cụ để đựng các vật liệu cau, lá trầu, vỏ quạch… Thường khi đặt trong cơi trầu, người ta đã bổ quả cau và têm thành những miếng trầu.

Cơi trầu dạng hộp có nắp trong Hoàng cung được làm bằng vàng, bạc và ngọc có nhiều loại hình khác nhau.

Cơi trầu bằng vàng và bạc tạo hình bông hoa sen , đường kính miệng 10 cm -11,7 cm, với nhiều lớp cánh, đế là lá sen uốn, cao 14 cm -16 cm.

Cơi trầu vàng còn được làm như một khay tròn, chạm nổi các cánh sen mập, trên mỗi cánh chạm nổi dây lá, và các băng lá đề, vòng tròn nhỏ. Cơi trầu cao 4,7 cm; đường kính miệng 10,8 cm.

Chiếm số lượng nhiều nhất là các loại cơi trầu vàng dạng hình trụ có nắp và ngăn giữa, trang trí chạm nổi trên nắp và xung quanh cơi trầu, đề tài rồng, phượng, mây và sóng nước, hoa dây… Chỏm nắp cơi trầu vàng có hình chũm cau, đính hạt ngọc màu xanh hay hồng. Có cơi trầu vàng trang trí hình rồng - phượng, mây nhưng có chiếc lại chỉ có rồng, mây hoặc phượng, mây.

Loại cơi trầu bạc dạng hình trụ có nắp và ngăn giữa, hình dáng và kích thước như loại bằng vàng, cũng được trang trí chạm nổi đề tài rồng - mây - lá dương xỉ, hay phượng - mây - lá dương xỉ. Có chiếc cơi bạc chạm nổi đề tài tứ linh: long - ly - qui - phượng trong các ô chữ nhật, có chiếc khác lại chạm đề tài tứ quý: 4 loài hoa: mai, lan, cúc, trúc trên nắp và bát bảo trong các ô chữ nhật xung quanh thân, xen kẽ các băng hoa chanh, hay nền gấm chữ Vạn

Ngoài loại cơi trầu bằng vàng và bạc còn có cơi trầu tạo bằng ngọc xanh dạng hình trụ có nắp và ngăn giữa có 2 cỡ to và nhỏ. Chỏm nắp gắn bông hoa bằng vàng. Trên nắp và xung quanh thân chạm đề tài phượng - mây - bát bảo…

2. Hộp trầu, hình khối hộp chữ nhật tạo bằng vàng hay bạc bên trong chia ngăn chứa các dụng cụ như cối và chày giã, sêu, đinh ba… đều làm bằng vàng.

Nếu căn cứ vào trang trí hình rồng hay phượng ta có thể nhận ra là loại dùng cho vua hay hoàng hậu?

Đáng chú ý hơn, có chiếc cối và chày giã trầu tạo bằng ngọc kim sa, miệng cối bọc vàng. Chày giã bằng vàng có cán là ngọc kim sa tạo hình chiếc nậm 2 bầu.

3. Khay trầu, khay hình vuông, có thể đựng trầu cau, bộ đồ uống trà hay rượu. Khay có kiểu dáng tương tự những chiếc khay ngà hay gỗ khảm trai, nhưng ở đây tạo bằng vàng và ngọc.

Khay vuông tạo bằng vàng chạm 4 mặt xung quanh đề tài lưỡng long chầu nguyệt, trong khung diềm là băng vòng tròn đính hạt ngọc. 4 góc ngoài khay là hình rồng nổi bằng vàng chầu viên ngọc.

Khay vuông tạo bằng ngọc xanh và vàng. 4 mặt xung quanh khay tạo bằng ngọc xanh, chạm lưỡng phụng chầu nguyệt, trong khung diềm hoa chanh, phía dưới là 3 hình dơi, biểu tượng của tam đa. Viền miệng khay bọc vàng, 4 góc khay cũng bằng vàng chạm nổi hình phượng chầu viên ngọc.

4. Ống nhổ, hay còn được gọi là bình phóng cũng được tạo bằng vàng, bạc và ngọc. Khi ăn trầu xong thường có bã trầu nên xuất hiện loại hình này. Ống nhổ có dáng chiếc bình miệng loe cao, thân hình cầu, chân đế thấp.

Ống nhổ bằng vàng, cao 11cm, đường kính miệng 12,9cm, được chạm nổi băng lá đề và nhũ đinh phía trong gờ miệng, quanh cổ có băng tam giác trong vạch chéo song song. Xung quanh thân chạm nổi rồng - mây trong 3 ô hình khánh. Minh văn khắc dưới đế cho biết ống nhổ này do Nguyễn Tận ở Ty Vũ khố tạo vào năm Minh Mệnh 5(1824). Có chiếc ống nhổ bằng vàng khác, phía trong gờ miệng và quanh cổ chạm đề tài bát bảo, lá dương xỉ. Xung quanh thân chạm băng tam giác vạch chéo, bổ 4 ô chạm nổi rồng lá…

Chiếc ống nhổ khác tạo bằng ngọc trắng xanh và vàng rất đặc biệt. Kiểu dáng ống nhổ cũng tương tự như loại trên nhưng miệng và đế bằng vàng, giữa cổ và thân gắn một đai vàng có đính một băng hạt ngọc. Phía trong vành miệng ống nhổ có chạm băng lá đề và nhũ đinh. Các ống nhổ chạm nổi rồng mây này là đồ Ngự dụng của vua.

Ống nhổ bằng ngọc xanh, vành miệng bọc vàng, có kiểu dáng tương tự loại bằng vàng và bạc. Đề tài trang trí chạm nổi gồm các băng lá đề, lá dương xỉ, vòng tròn nhỏ và các hình phượng xòe cánh trong các ô bầu dục hay chữ nhật.

Ống nhổ bằng vàng có dáng lùn, xung quanh chạm phượng và mây, là loại dùng cho các bà Hoàng Thái hậu, Hoàng hậu, Hoàng phi?

Căn cứ vào kiểu dáng, chất liệu và đề tài trang trí chúng ta có thể nhận ra những bộ dụng cụ bằng vàng, bạc hay ngọc thuộc đồ Ngự dụng của vua: trang trí rồng, mây. Đồ dùng của các bà Thái hoàng, Thái hậu, Hoàng hậu, Hoàng phi, trang trí phượng, mây… Ngoài ra, các đề tài trang trí khác còn thấy xuất hiện là rồng - phượng, long - ly - qui - phượng (tứ linh), tùng - cúc - trúc - mai (tứ quí), mây - sóng nước, lá dương xỉ, bát bảo Nho giáo, hoa lá sen, hoa chanh, cúc dây, nền gấm chữ Vạn…

Những bảo vật thuộc bộ đồ ăn trầu trong Hoàng cung triều Nguyễn không chỉ cho chúng ta thấy sự phổ biến của phong tục tập quán ăn trầu trong Cung đình mà còn thể hiện tài năng sáng tạo tuyệt vời của kỹ nghệ tạo tác kim hoàn của các tượng nhân trong Ngự xưởng triều Nguyễn.

Một số hình ảnh hiện vật:

Nguyễn Đình Chiến – Đinh Ngọc Triển

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 1978

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Những con rồng lai

Những con rồng lai

  • 24/05/2016 22:29
  • 2970

Đó là những con rồng trên những món đồ sứ ký kiểu, do các triều Lê - Trịnh, chúa Nguyễn, Tây Sơn và Nguyễn ở Việt Nam đặt làm tại các lò đồ sứ của Trung Hoa, trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX.