Chủ Nhật, 07/08/2022
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

08/01/2015 10:29 2793
Điểm: 5/5 (1 đánh giá)
Di tích Giồng Cá Vồ thuộc huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh là một trong những di tích khảo cổ độc đáo nhất Việt Nam. Tại đây, vào thập kỉ 90 của thế kỉ XX, các nhà khảo cổ đã phát hiện được một khu mộ chum lớn vào loại nhất Đông Nam Á, có niên đại khoảng 2500 năm cách ngày nay. Đồ tùy táng trong các mộ chum rất phong phú và đa dạng, trong đó bộ sưu tập trang sức có vị trí rất nổi bật.

Bộ sưu tập đồ trang sức của di tích Giồng Cá Vồ đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia thực sự là một bộ sưu tập trang sức độc đáo với nhiều loại hình và kiểu dáng như: hạt chuỗi, vòng tay, khuyên tai…, được làm từ nhiều loại chất liệu như: đá nephrite, gốm, vỏ nhuyễn thể, thuỷ tinh, mã não, vàng... Hạt chuỗi được tìm thấy với số lượng lớn trong di tích Giồng Cá Vồ, làm từ đá nephrite, mã não, và thủy tinh, trong đó hạt chuỗi thủy tinh có số lượng lớn nhất.

Chuỗi hạt, mã não, di chỉ Giồng Cá Vồ.

Đẹp nhất là hạt chuỗi làm từ mã não với các kiểu dáng như hình thoi, quả nhót, hình trụ, hình cầu, một số hạt lớn có vân trắng rất đẹp. Hạt chuỗi mã não đều được khoan lỗ xuyên dây đeo từ 2 đầu lại. Bên cạnh loại hình hạt chuỗi, chúng ta không thể không nhắc đến khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai ba mấu, khuyên tai hình vành khăn. Hầu hết khuyên tai hai đầu thú đều được chế tác từ đá ngọc, có màu xanh đậm nhạt khác nhau, nhiều chiếc có vân trắng. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa nhất trí hoàn toàn với nhau đây là con thú gì. Dựa vào hình thù của nó, nhất là cặp sừng, có nhà nghiên cứu cho rằng đó là con trâu hay con dê, người thì cho nó là con lừa hay con ngựa, có người lại gọi nó là con hươu, thậm chí là con sao la,... Trong khi chưa có ý kiến nào đủ sức thuyết phục thì các nhà nghiên cứu đều thống nhất gọi là khuyên tai "hai đầu thú". Tuy vậy mọi người đều thừa nhận đây là con vật linh thiêng, biểu tượng tín ngưỡng của chủ nhân loại trang sức này. Tư liệu dân tộc học cho biết một hiện tượng khá phổ biến trong văn hóa nhiều tộc người ở Việt Nam và Đông Nam Á, đó là hình tượng con chim trong các kiến trúc hay trong những biểu tượng về sự cân bằng và hòa hợp âm dương, sức khỏe và sự dũng mãnh của đàn ông, cho sự giàu sang của người sống đồng thời là con vật có thể đưa người chết về với tổ tiên. Con chim - hay được thể hiện bằng đường xoáy ốc, là biểu tượng sự vận động của vũ trụ, liên tục và có chu kỳ, đồng thời là biểu tượng của sự phồn thực gắn với phụ nữ. Con chim còn gắn với hình tượng chiếc thuyền đưa người chết sang thế giới bên kia. Bởi đồ tùy táng tại các di tích mộ chum ở Cần Giờ khá phổ biến các tượng gốm hình chim cũng với mô típ độc đáo "hai - nhiều đầu". Phối hợp hai biểu tượng này với nhau thì một số nhà nghiên cứu cho rằng hình tượng con thú trên khuyên tai chính là biểu tượng của con trâu. Con trâu và con chim là những con vật tiễn đưa người chết về thế giới bên kia. Mang theo đồ tùy táng quý giá khuyên tai hai đầu thú là hành động của người sống thể hiện tình cảm thương tiếc và cầu mong cho người chết sớm được về với thế giới tổ tiên. Những chiếc khuyên tai hai đầu thú đang được trưng bày ở đây, phần lớn là đều được tạo dáng mềm mại, các đường uốn lượn ở góc cạnh cho thấy độ cong tròn của thân, của móc đeo. Mắt, miệng là những đường khía mềm mại, mặt không quá nhọn. Tai ngắn hoặc vừa, trán hơi nhô ra trước. Móc đeo thường dài hơn tai. Bên cạnh đó, còn có những chiếc khuyên tai được tạo dáng theo kiểu hình học: các góc cạnh không uốn lượn mềm mại mà vuông vắn, dứt khoát. Móc đeo thường vuông, mặt thú thường nhỏ, nhọn, trán thẳng không nhô ra trước.

Khuyên tai hai đầu thú, đá, di chỉ Giồng Cá Vồ.

Tai dài hoặc rất dài, xấp xỉ móc đeo. Có chiếc mắt tròn lồi hẳn ra ngoài khuôn mặt trông khá dữ tợn, có chiếc mắt là hình lá với những đường khía gân lá song song rất sinh động, có chiếc mắt dài kéo ngang gần hết khuôn mặt hay xếch ngược lên hai tai,...Các đường khía ở miệng cũng có sự khác biệt, có chiếc miệng há to do đường khía rất rộng và sâu, có chiếc nhánh trong của miệng dài hẳn xuống trông như hàm râu dê nhưng cũng có chiếc đường khía miệng rất nhỏ trông như con thú ngậm miệng. Đặc biệt, có chiếc khuyên tai hai đầu thú hình khánh có kiểu dáng khác lạ không giống với bất kỳ những chiếc khuyên tai khác. Những sự khác biệt này cho chúng ta thấy được sự chế tạo đơn chiếc, tuy vẫn tuân thủ những đường nét cơ bản nhưng ở mỗi sản phẩm người thợ đều có những sáng tạo riêng. Cho đến nay có khoảng 70 chiếc khuyên tai hai đầu thú được tìm thấy trong 15 địa điểm khảo cổ học ở Đông Nam Á. Riêng tại khu vực Cần Giờ số lượng khuyên tai hai đầu thú đã chiếm gần 1/2, nhiều hơn hẳn số lượng loại hình hiện vật này được tìm thấy và sưu tầm tại di tích Đại Lãnh (Quảng Nam): khoảng 20 chiếc thành phẩm và bán thành phẩm. Đại Lãnh là di tích tiêu biểu cho giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh và được coi là trung tâm chế tác khuyên tai hai đầu thú. Trong khi đó, các di tích mộ chum Cần Giờ với nhiều đặc trưng văn hóa riêng biệt về sự phân bố, về táng thức và tổ hợp đồ tùy táng, về các mối quan hệ của nó. Như vậy khuyên tai hai đầu thú không chỉ có một xuất xứ từ di tích Đại Lãnh thuộc văn hóa Sa Huỳnh, mà với những phát hiện mới ở Cần Giờ, chúng ta biết thêm một xuất xứ nữa là từ di tích Giồng Cá Vồ . Từ hai "trung tâm sản xuất" này, khuyên tai hai đầu thú đã được trao đổi đi nhiều nơi khác ở cả Đông Nam Á hải đảo và Đông Nam Á lục địa. Vì vậy bộ sưu tập khuyên tai hai đầu thú bằng đá được phát hiện ở di chỉ Giồng Cá Vồ đang được trưng bày tại đây thực sự phong phú và độc đáo.

Số lượng đồ trang sức bằng xương, ngà và vỏ nhuyễn thể cũng được tìm thấy với hai loại hình chính là vòng tay và hạt chuỗi. Chất liệu gốm cũng góp mặt ở loại hình khuyên tai.

Ngoài ra còn phải kể đến chất liệu kim loại với các loại vòng tay bằng đồng và sắt. Đặc biệt là loại hạt chuỗi bằng gốm hoặc vỏ nhuyễn thể được bọc vàng. Đồ trang sức bằng vàng đều được làm bằng phương pháp dát mỏng, sau đó cuộn lại để tạo hình. Vì vậy, trọng lượng đồ trang sức bằng vàng rất nhẹ và thường bị móp, độ dày mỏng không đều nhau. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn với niên đại khoảng thế kỷ 5 TCN (khoảng 2.500 năm cách ngày nay) thì đây là những đồ trang sức bằng vàng có tuổi sớm nhất được tìm thấy ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.Qua bộ sưu tập trang sức này, chúng ta có thể thấy kỹ thuật chế tác đồ trang sức của cư dân ở đây đã rất phát triển. Có thể nói, những người thợ thủ công tài hoa đã dùng đôi bàn tay khéo léo của mình với kỹ thuật điêu luyện để tạo ra những loại hình đồ trang sức độc đáo này.

Chuỗi hạt, gốm, bọc vàng, di chỉ Giồng Cá Vồ.

Tồn tại trong thời đại giao thương quốc tế phát triển, Cần Giờ đã thu hút cả lớp dân cư thủ công làm nghề thủy tinh, gia công, chế tác đồ trang sức bằng đá, vỏ nhuyễn thể,...tới định cư và hành nghề tại đây. Chắc chắn vào những thời điểm này đã xuất hiện tầng lớp làm dịch vụ thương mại. Họ là cầu nối giữa các nhóm cư dân ở lưu vực sông Đồng Nai với các tàu buôn ghé Cần Giờ. Sản phẩm chủ yếu là đặc sản của rừng, biển Phương Nam, đồ trang sức đặc thù và cả nước ngọt,...để đổi lấy chủ yếu là đồ trang sức, nguyên liệu bằng đá quý, mã não, kim loại quý như vàng, bạc,... Ngoài những loại hình đồ trang sức được sản xuất tại chỗ với chất liệu gốm, xương, sừng động vật...còn có những loại hình trang sức với chất liệu bằng đá quý…có nguồn gốc bên ngoài, có mặt ở Giồng Cá Vồ là do trao đổi, buôn bán qua các đội tàu buôn đường biển. Vì thế mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Giồng Cá Vồ cùng với các di tích khác ở Cần Giờ (TP HCM) như Giồng Phệt…là một tiền cảng thị tồn tại cách ngày nay khoảng 2.500 năm.

Nguyễn Thị Thảo (Phòng GDCC)

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 2112

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Nhóm gốm men rạn ngà đặc sắc (TK 17 – 18) Lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Nhóm gốm men rạn ngà đặc sắc (TK 17 – 18) Lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

  • 08/01/2015 08:30
  • 4414

Trong quá trình lao động và sản xuất, con người đã chinh phục thiên nhiên và đã tự biết sáng tạo ra những sản phẩm hay những công cụ phục vụ mình trong cuộc sống. Vào tháng 3 năm 1923, nhà khảo cổ học người Pháp M.Colani đã phát hiện những mảnh gốm đầu tiên có trang trí hoa văn răng lược, răng cưa tại hang Đồng Nội (Lạc Thủy, Hòa Bình) thuộc văn hóa Hòa Bình (cách ngày nay 8.000 – 10.000 năm), như vậy niện đại xuất hiện gốm Việt Nam bắt đầu từ đây. Dần dần tổ tiên đã biết sử dụng bàn xoay thành thạo, tạo những nét khắc tinh xảo như hoa văn thừng mịn. văn chải mịn, văn chữ S, văn chữ A…đã biết dùng mầu đất trắng và mầu đá son tô trên bề mặt sản phẩm trước khi nung. Rồi sang đến thời đại đồng thau rực rỡ, đồ gốm được dùng để phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày của người dân, như những bát, khay, đĩa, âu…. qua các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê, Nguyễn mỗi dòng gốm đều có những sắc thái và đặc điểm riêng biệt như men ngọc, hoa nâu, men lam, lam xám, ngà rạn…