Chủ Nhật, 07/08/2022
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

08/01/2015 08:30 4414
Điểm: 4/5 (1 đánh giá)
Trong quá trình lao động và sản xuất, con người đã chinh phục thiên nhiên và đã tự biết sáng tạo ra những sản phẩm hay những công cụ phục vụ mình trong cuộc sống. Vào tháng 3 năm 1923, nhà khảo cổ học người Pháp M.Colani đã phát hiện những mảnh gốm đầu tiên có trang trí hoa văn răng lược, răng cưa tại hang Đồng Nội (Lạc Thủy, Hòa Bình) thuộc văn hóa Hòa Bình (cách ngày nay 8.000 – 10.000 năm), như vậy niện đại xuất hiện gốm Việt Nam bắt đầu từ đây. Dần dần tổ tiên đã biết sử dụng bàn xoay thành thạo, tạo những nét khắc tinh xảo như hoa văn thừng mịn. văn chải mịn, văn chữ S, văn chữ A…đã biết dùng mầu đất trắng và mầu đá son tô trên bề mặt sản phẩm trước khi nung. Rồi sang đến thời đại đồng thau rực rỡ, đồ gốm được dùng để phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày của người dân, như những bát, khay, đĩa, âu…. qua các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê, Nguyễn mỗi dòng gốm đều có những sắc thái và đặc điểm riêng biệt như men ngọc, hoa nâu, men lam, lam xám, ngà rạn…

Ngày nay, đồ gốm còn là một trong những sản phẩm mang tính xã hội cao, có khả năng phản ánh nhiều khía cạnh đời sống tinh thần và vật chất của xã hội loài người, thậm chí trong một số thời kỳ lịch sử, đồ gốm được đánh giá đến mức sở hữu gốm đã trở thành một trong số những tiêu chí thể hiện địa vị xã hội, nó được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng trong đình chùa, trong gia đình trở thành đồ vật gia truyền qua nhiều thế hệ, dòng họ.

Nhóm gốm men rạn ngà tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia được kế thừa từ Bảo tàng Nghệ thuật Phương Đông sau là bảo tàng Luis Finot sưu tầm từ những năm đầu của thế kỷ 20, chúng được thường xuyên giới thiệu và tham gia các cuộc trưng bày chuyên đề trong nước và quốc tế. Gốm men rạn là loại gốm men trắng với kỹ thuật có được bởi sự chênh lệch về độ co giãn của sản phẩm khi nung giữa xương gốm và men phủ. Minh văn

khắc trên sản phẩm cho ta biết diễn biến của chặng đường gốm men trắng ngà chỉ tồn tại trong lò gốm cổ Bát Tràng bắt đầu từ cuối TK 16.

Cặp chân đèn, men rạn ngà:

Cao: 64,8 cm

Niên đại: triều Lê Trung Hưng, niên hiệu Hoằng Định (1600 – 1618). đời vua Lê Kính Tông.Cặp chân đèn men rạn ngà, gồm 2 phần khớp lại. Phần trên có hình miệng đấu, khoảng giữa phình dáng tang trống, diềm trang trí cánh sen. Phần dưới dáng như loại chóe cao. Trang trí nổi từ miệng xuống chân đế có các băng hoa dây, lá đề, lông công, tứ linh, bông hoa trong lá đề, chữ vạn. Hình rồng nổi ở giữa đối xứng

Minh văn viết trên sản phẩm cho biết rõ tác giả là Đỗ Phủ, quê xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An và niên đại chế tạo vào niên hiệu Hoằng Định (1600 - 1619) đời vua Lê Kính Tông.

Đây là cặp chân đèn đánh dấu mốc mở đầu chứng minh dòng gốm men rạn, chỉ được sản xuất ở trung tâm gốm Bát Tràng từ cuối TK 16. Cặp chân đèn này được giới thiệu trong nhiều cuộc trưng bày trong và ngoài nước, được đề cập trong nhiều ấn phẩm.

Đài thờ có nắp, men rạn ngà:

Cao: 30cm

Đường kính: 20cm

Niên đại: TK 17 – 18, triều Lê Trung Hưng

Đài thờ gồm 2 phần: thân đài và nắp

Đài hình bầu dục. Chỏm nắp được tạo hình tượng nghê, trang trí đúc nổi băng lá lật, chữ vạn. thân đỉnh tạo dáng eo thắt, trang trí hai mặt rồng. Đây cũng là chiếc đài thờ độc đáo trong sưu tập gốm cổ Việt Nam lưu giữ tại bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Lư hương, men rạn ngà:

Cao: 23,6cm

Đường kính: 20,2cm

Niên đại: TK 17 – 18, triều Lê Trung Hưng.

Đây thực sựu là chiếc lư hương độc đáo đầy ấn tượng. Lư tạo dáng một khóm sen; với miệng là 3 chiếc lá sen nổi rõ những gân của lá; Thân lư tạo tròn, được gắn một tượng phật bà quan âm tư thế ngồi khoanh chân, hai tay chắp trước ngực. Thân lư trang trí những cành và bông, nụ sen. Ba chân đế là thân của cây sen, xung quanh đều có hoa nụ và lá sen.

Đỉnh trầm, men rạn ngà:

Cao: 60cm

Niên đại: TK 17 – 18, triều Lê Trung Hưng, đời Vua Lê Ý Tông.

Đỉnh gồm có thân và nắp. Nắp đỉnh, chỏm là một tượng nghê lớn ngậm ngọc. Nắp là nửa hình cầu được trổ thủng đề tài bát quái (càn- khôn - chấn - tốn - ly - khôn- đoài); thân đỉnh hình cầu tròn, miệng trang trí lá lật. Thân là hai mặt rồng hàm thọ và vân mây. Trên vai trang trí hồi văn chữ T, lá đề; Hai quai là hai tượng rồng lớn gắn trên thân và miệng há ngậm ngọc chầu vào miệng đỉnh. Ba chân đế choãi là ba hổ phù và 3 mặt rồng hàm chữ Thọ. Minh văn khắc trên đỉnh cho biết đỉnh chế tạo vào tháng 4 năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Hựu (1736).

Đỉnh trầm, men rạn ngà:

Cao: 37,6cm

Đỉnh gồm 3 phần: nắp, thân và đế rời.

Niên đại: TK 17 – 18, triều Lê Trung Hưng, đời vua Lê Hiển Tông.

Nắp đỉnh: chỏm nắp là một tượng nghê lớn vờn cầu. Thân hình tứ giác, miệng tạo 6 cạnh tạo gờ trang trí hoa dây, lá lật. Hai bên thân trang trí đề tài cây tùng, hoa cúc. Bốn chân tạo hình gốc cây. Hai quai gắn trên thân là hai tượng rồng chầu bám vào miệng; Đế đỉnh rời tạo 6 cạnh. Minh văn khắc dưới đế đỉnh cho biết đỉnh được chế tạo vào niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786).

Chóe, men rạn ngà:

Cao: 58,5cm

Đường kính: 18cm

Niên đại: triều Lê trung Hưng, niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786), đời vua Lê Hiển Tông.

Chóe có nắp; Nắp giật cấp, gắn 3 tượng rồng nối đuôi tạo chỏm nắp. Thân chóe hình lục giác, trên vai trang trí nổi băng lá đề, gắn 3 đầu sư tử ngậm vòng, thân trang trí rồng, mây và sóng nước. Minh văn viết dưới đáy của chóe cho biết sản phẩm được chế tạo vào niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786).

Bình lục giác, men rạn ngà:

Cao: 56,5cm

Đường kính: 19,7cm

Niên đại: triều Lê Trung Hưng , niên hiệu Cảnh Trị (1663 – 1671), đời vua Lê Huyền Tông

Bình có miệng tạo 6 cạnh, nổi gờ trang trí hoa dây; 6 cạnh của viền trang trí nổi hoa dây. Cổ thắt, thân phình thuôn dần xuống đáy. Sáu cạnh của bình trang trí nổi: khóm tre và cò, cây mai và thỏ, cây hoa cúc… Dưới đế của bình có viết những dòng chữ Hán bằng men cho biết thời gian chế tạo vào niên hiệu Cảnh Trị (1663 – 1671).

Bình, men rạn ngà:

Cao: 44,4cm

Miệng: 12,5cm x 12,5 cm

Niên đại: triều Lê Trung Hưng, niên hiệu Cảnh Hưng (1740 -1786), đời vua Lê Hiển Tông.

Bình có miệng vuông, cổ thắt, vai trang trí hoa văn lông công; thân tạo 4 ô bên trong trang trí đề tài tứ quý: tùng, trúc, cúc, mai. Minh văn dưới đế được viết bằng men lam cho biết bình được chế tạo vào niên hiệu Cảnh Hưng 1740 – 1786).

Lư hương, men rạn ngà:

Cao: 27,5cm

Đường kính: 28,5cm

Niên đại: triều Lê Trung Hưng, niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705 – 1719), đời vua Lê Dụ Tông.

Lư tạo dáng như một bông sen nở gồm có 3 lớp cánh nổi. Miệng to tròn, eo thắt. Ba chân đế choãi tạo dáng là 3 cánh lá sen to. Dưới đế của lư viết chữ Hán cho biết lư được chế tạo niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705 – 1719).

Lư hương, men rạn ngà:

Cao: 20,5cm

Niên đại: triều Lê Trung Hưng, niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786), đời vua Lê Hiển Tông.

Lư có dáng hình cầu tròn dẹt, miệng tròn, cổ thắt, thân phình được trang trí trong ô: sư tử vờn mây, nghê vờn ngọc. Hai núm cầm tạo hai mặt hổ phù; Ba chân tạo 3 mặt hổ phù. Minh văn viết dưới đế cho biết thời gian chế tạo của lư vào niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786).

Nậm rượu hai bầu, men rạn ngà:

Cao: 46,8cm

Đường kính: 8cm

Niên đại: triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802 – 1819), đời vua Nguyễn Thế Tổ.

Nậm có dáng quả bầu. Miệng tròn, cổ cao, thân phình cầu tròn thắt nhỏ ở giữa. Trên thân được trang trí đề tài bát bửu.

Tượng voi, men rạn ngà:

Cao: 52,5cm

Miệng: 11cm x 11cm

Niên đại: TK 17 – 18, thời Lê Trung Hưng

Được tạo dáng là một tượng voi quỳ trên lưng cõng bình thờ tứ giác. Voi tư thế bốn chân quỳ, thân béo tròn, mắt mở to. Tai rủ, vòi voi dài vắt sang má phải. Trên lưng là bành voi cũng là bình thờ tứ giác, được trang trí đề tài tứ giác (tùng – trúc – cúc – mai).

Tượng thần hộ pháp, men rạn ngà:

Cao: 48,5cm

Niên đại: triều Lê Trung Hưng, niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786), đời vua Lê Hiển Tông

Tượng thể hiện một quan võ đứng trên bệ tứ giác. Đầu đội mũ trang trí rồng và hoa sen, mặc áo giáp, ngực trang trí mặt rồng. Tay phải cầm gươm, tay trái chống nạnh, chân đi ủng. Minh văn trên tượng cho biết tượng được chế tạo vào niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786).

Cặp tượng hổ, men rạn ngà và nâu:

Kích thước:

Cao: 30cm

Niên đại: triều Lê Trung Hưng, niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786), đời vua Lê Hiển Tông.

Con thứ nhất: tư thế cúi rạp bụng nằm áp xuống đất, đầu cúi, miệng há, mặt mở to, đuôi dài vắt sang hông phải.

Con thứ hai: tư thế đang vươn lên, đầu ngẩng vươn cao, miệng há, mắt mở to, tai vểnh; Bốn chân duỗi, bụng nằm sát xuống sàn, đuôi cong vểnh thành vòng sau vắt sang hông trái. Minh văn khắc dưới bụng tượng cho biết sản phẩm được chế tạo vào niên hiệu Cảnh Hưng (1740 -1786).

Nhóm hiện vật gốm men rạn ngà đặc sắc thế kỷ 17 – 18, lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho ta cảm nhận những giá trị tinh hoa khéo léo thể hiện tính thẩm mỹ và khả năng sáng tạo của người thợ gốm cổ.

Cảm nhận những giá trị đặc biệt góp phần thiết thực hơn nữa vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy bản sắc của dân tộc Việt Nam nói chung, giá trị các di sản văn hóa của mỗi dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nói riêng.

Đinh Phương Châm (Phòng QLHV)

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 2112

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Gốm men ngọc thời Lý - Trần thế kỷ 11-14

Gốm men ngọc thời Lý - Trần thế kỷ 11-14

  • 02/12/2014 13:13
  • 8454

Gốm men ngọc cũng là một dòng gốm nổi tiếng của Việt Nam. Trước nay, các nhà khoa học thường cho rằng gốm men ngọc được sản xuất ở Thanh Hoá, Thăng Long, Thiên Trường (Nam Định). và nằm trong khung niên đại Lý - Trần, thế kỷ 11-14. Tuy nhiên, tài liệu khai quật khảo cổ học tại các di tích lò gốm cổ ở Hải Dương gần đây lại cho biết, đồ gốm men ngọc còn kéo dài đến thế kỷ 15. Ngoài ra, ở đây còn có loại gốm ngoài men ngọc trong hoa lam, được sản xuất vào thế kỷ 15, điển hình trong số đó là bát, đĩa. Gốm men ngọc thường chỉ gồm các loại đồ gốm gia dụng, không có loại hình nào kích thước lớn như thạp, thống của dòng gốm hoa nâu. Gốm men ngọc là loại gốm được chế tạo công phu, đất lọc kỹ tạp chất, xương gốm mịn, rắn chắc và nặng. Lớp men phủ ngoài rất dày, màu xanh ngọc, trong và bóng. Do quá trình nung, men ngọc cần có độ lửa hoàn nguyên với thời gian vừa đủ, còn nếu không, các sắc độ men ngọc sẽ thay đổi. Quan sát các đồ gốm men ngọc Việt Nam thấy có các sắc độ màu vàng xám, vàng chanh, xanh ngọc sẫm hay xanh ngả da táo. Qua thời gian, lớp men dày này cũng có nhiều trường hợp bị biến dạng, có vết rạn trong men. Đó cũng là những nét khác và có thể “tách bạch” với gốm men ngọc Trung Quốc cùng thời.