Thứ Bảy, 14/12/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

19/11/2019 10:02 133
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Lưu vực sông Thu Bồn (trong tình hình nghiên cứu hiện nay) là nơi tập trung đậm đặc nhất dấu tích của các cộng đồng cư dân sinh sống từ cách ngày nay trên 3000 năm. Nhờ những nỗ lực của các bên: chính quyền - cộng đồng - người nghiên cứu mà những giá trị tiêu biểu của những di sản vật thể (di tích và di vật khảo cổ học Sa Huỳnh – Champa) đã và đang được bảo tồn, bảo vệ, sử dụng và phát huy khá hiệu quả. Tuy nhiên quá trình phát triển với những tác động hai mặt của đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, biến đổi khí hậu và môi trường tự nhiên… đem lại những thách thức lớn đối với sự tồn vong của di sản vật thể nói chung và di sản khảo cổ nói riêng. Để phát triển và bảo tồn tương hỗ cho nhau, cần phải xây dựng những kế hoạch và chiến lược dài hơi dựa trên cơ sở pháp lý quốc gia, quốc tế, cơ sở khoa học liên ngành và những kinh nghiệm thực tiễn trong nước, ngoài nước về bảo tồn, sử dụng và phát huy di sản. Bài viết này do đó sẽ tập trung vào một số chủ đề: i. Khái quát trữ lượng tài nguyên di sản; ii. Đánh giá giá trị di sản và iii. Phương hướng phát huy và sử dụng di sản bền vững.

1.Loại hình và giá trị tài nguyên di sản khảo cổ học tiền sơ sử lưu vực sông Thu Bồn

1.1.Loại hình

Loại hình di sản khảo cổ học văn hóa Sa Huỳnh (từ 2400 năm đến thế kỷ I TCN)

Cho tới nay lưu vực sông Thu Bồn cùng các chi lưu là nơi tập trung đậm đặc nhất các di tích văn hóa Sa Huỳnh và có thể xác định những cụm di tích lớn tại vùng thượng lưu, trung lưu và hạ lưu các sông Thu Bồn, sông Vu Gia… Điển hình là cụm từ Hội An đến Điện Bàn với những khu mộ chum lớn Hậu Xá I, Hậu Xá II, An Bang, Lai Nghi , cụm Gò Mả Vôi – Gò Miếu Ông – Thôn Tư; Gò Dừa… ở Duy Xuyên, cụm di tích tại các huyện Đại Lộc,  Tiên Phước; cụm di tích huyện Hiệp Đức….

 

Cụm di sản khảo cổ học Tiền, Sơ sử ở hạ lưu sông Thu Bồn (Hội An)

 

Phân bố di sản khảo cổ học Tiền, Sơ sử ở lưu vực sông Thu Bồn

Đặc biệt là những khu mộ địa giàu có của những cộng đồng thu gom sản vật núi rừng Quế Lộc, Đại Lãnh, Bình An, Gò Đình…hay khu mộ địa của cộng đồng thương nhân Lai Nghi, Hậu Xá…cửa sông ven biển. Trong số đó có An Bang và Lai Nghi, những khu mộ địa giàu có nhất có nhiều khả năng của cộng đồng thương nhân Sa Huỳnh buôn bán tại cảng thị sơ khai tiền thân của Đại Chiêm Hải khẩu Lâm Ấp Phố sau này, ví dụ như Lai Nghi với 63 mộ chum lớn (trên diện tích khai quật 192m²), chum quan tài chủ yếu hình trụ có kích thước rất lớn với nắp đậy hình nón cụt, hình lồng bàn hoặc đáy của một chum khác. Đồ chôn theo người chết giàu có và phong phú cả về số lượng cũng như chất lượng, phân bố không đồng đều cho thấy mức độ phân hóa của cải và xã hội cao trong nhóm cư dân này. Tỉ lệ của cải cho người chết trên đầu chum quan tài cao nhất so với tất cả những mộ địa đã biết. Đồ đồng tùy táng ở Lai Nghi chủ yếu có niên đại muộn, cận kề Công nguyên và nhiều đồ nghi lễ bằng đồng như gương, đỉnh, chậu, bát… mang phong cách đồ đồng hậu kỳ Tây Hán, Sơ kỳ Đông Hán và những hàng hóa có nguồn gốc từ Ấn Độ.  Gò Dừa cũng là một khu mộ địa đặc biệt, lần đầu tiên trong văn hóa Sa Huỳnh phát hiện được một quần thể mộ chum lồng dạng “trong quan, ngoài quách”, đồ chôn theo cũng cho thấy thân phận cao quý của chủ nhân các ngôi mộ và mối quan hệ với thế giới Trung Hoa, Ấn Độ…  Có nhiều khả năng đây là khu mộ của dòng họ có vị thế cao trong cộng đồng, khu mộ của dòng họ thủ lĩnh của một xã hội lãnh địa (chiefdom).

 

Loại hình di sản khảo cổ học Champa

Lưu vực sông Thu Bồn cũng là địa bàn của các nhóm địa điểm cư trú, bến cảng, giếng, thành lũy…  (bên cạnh đền-tháp) Champa qua nhiều thời kỳ khác nhau: Lâm Ấp (khoảng 192-758); và những tiểu quốc khác cùng thời Lâm Ấp - Hoàn Vương (khoảng 758-866) - Chiêm Thành (khoảng 866-1471). Tên Chiêm Thành ƿhiên từ Chamƿaƿura (thành ƿhố của người Cham).. Dựa vào mô hình một tiểu quốc Ấn Độ Blamon giáo, một số người nghiên cứu giả định rằng mỗi tiểu vương quốc/mandala được thiết lập trên địa bàn miền Trung Việt Nam đã dựa vào năm yếu tố phong thủy như: (1) Núi Thiêng (tượng trưng thần Siva); (2) Sông Thiêng (tượng trưng nữ thần Ganga, vợ thần Siva); (3) Cửa Biển Thiêng (cảng-thị, nơi trao đổi hàng hoá, mậu dịch hải thương, là trung tâm kinh tế); (4) Thành Phố Thiêng/Hoàng Thành (nơi cư ngụ của vua và hoàng tộc hoặc lãnh chúa, là trung tâm vương quyền); (5) Đất Thiêng/Thánh Đô (nơi thờ tự  thần linh và tổ tiên, là trung tâm tín ngưỡng). Trong tất cả các lưu vực sông ở miền Trung, lưu vực sông Thu Bồn cho thấy rõ nhất cấu trúc của một tiểu quốc/mandala Champa với cấu trúc mô tả ở trên.

 

Cấu trúc một tiểu quốc/ mandala

Trần Kỳ Phương nhận định rằng tiểu quốc Amaravati, ở lưu vực sông Thu Bồn ngày nay, được hình thành dựa trên năm yếu tố sau:

1) Núi Thiêng là Mahaparvata/Đại Sơn Thần/Thần Siva hay núi Mỹ Sơn/Răng Mèo;

2) Sông Thiêng là sông Thu Bồn;

3) Cửa Biển Thiêng/Cảng-Thị là vùng Cửa Đại/Hội An;

4) Thành Phố Thiêng/Hoàng Thành là Simhapura/Thành Sư Tử tại Trà Kiệu;

5)  Đất Thiêng/Thánh Đô là Srisanabhadresvara tại Mỹ Sơn.

Cho tới nay ngoài lưu vực sông Thu Bồn – địa vực của tiểu quốc Amaravati – với cấu trúc đầy đủ như đã nêu trên, những lưu vực sông khác – những tiểu quốc khác chưa cho thấy một cách rõ ràng cấu trúc như vậy. Có một số lý do giúp giải thích hiện tượng này, đó là tiểu quốc Amaravati ở lưu vực sông Thu Bồn và một số lưu vực sông khác ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi hiện nay được thành lập sớm, kế thừa cơ sở vật chất của Lâm Ấp rồi Sa Huỳnh Bắc giàu mạnh trước đó. Cơ cấu hành chính, chính trị của Amaravati cho thấy những chuẩn Ấn Độ ban đầu được áp dụng một cách khá chặt chẽ và đầy đủ. Cơ cấu này mặc dù luôn được áp dụng ở những giai đoạn muộn hơn nhưng có lẽ với những thay đổi nhất định cho phù hợp với điều kiện địa hình và điều kiện xã hội, những yếu tố ngoại sinh dần được địa phương hoá. Một lý do khác nữa là thánh đô Mỹ Sơn cùng với đền tháp Po Nagar đã đóng vai trò của trung tâm tín ngưỡng tôn giáo của vùng/vương quốc cũng hạn chế sự hình thành của những thánh đô lớn ở thượng nguồn các sông khác. Và bên cạnh những thành lũy, đền tháp, tại đây, những làng cư trú Champa (nền tảng duy trì các tiểu quốc) cũng đã được phát hiện, phần lớn trùng khớp với địa bàn văn hóa Sa Huỳnh trước đó. Những nhóm địa điểm Champa ở Hội An, ở Duy Xuyên trong thời gian từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 12, 13… với tính chất khác nhau phản ánh đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa của các cộng đồng cư dân hơn một thiên niên kỷ từ khởi đầu của nhà nước Champa (Lâm Ấp) đến những thời kỳ cực thịnh và nếu so với những tiểu quốc Champa ở các lưu vực sông khác thì bên cạnh di tích đền tháp tại lưu vực sông Thu Bồn những làng cư trú, hệ thủy (giếng), bãi bến, cảng, kho báu, thành lũy, cung điện… phản ánh đầy đủ và hệ thống mọi khía cạnh vật chất, tinh thần và tâm linh… của các cộng đồng cư dân Champa ở lưu vực sông Thu Bồn và mối quan hệ giao lưu văn hóa buôn bán trong ngoài sôi động và mạnh mẽ.

1.2.Giá trị

Giá trị lịch sử. Các di tích khảo cổ học Tiền Sơ sử ở lưu vực sông Thu Bồn có giá trị nổi bật về quá trình liên tục (kế thừa và phát triển) văn hóa; về những chuyển biến bước ngoặt về chính trị, tư tưởng… từ cách đây 3.500 năm đến hiện nay.  Trong tất cả các lưu vực sông ở miền Trung Việt Nam, lưu vực sông Thu Bồn là nơi tìm thấy đầy đủ các loại hình di tích và di vật khảo cổ học Sa Huỳnh Champa. 

Từ cách đây 3.500 năm (Văn hóa Tiền Sa Huỳnh): Bãi Ông (Cù Lao Chàm), Bàu Trám (Núi Thành)…

Từ cách đây 2300 năm đến cuối TK 1 TCN (Văn hóa Sa Huỳnh): Hậu Xá I, II, Xuân Lâm, Thanh Chiếm, An Bang, Lai Nghi, Gò Mả Vôi, Gò Dừa, Gò Cấm (lớp dưới), Thôn Tư …

Thời kỳ Quận Nhật Nam thế kỷ 1-2 CN: Hồ Điều Hòa - Chùa Cầu, Hậu Xá I di chỉ (lớp dưới), Sưu tập Hậu Xá II, Gò Cấm, Trà Kiệu (lớp dưới cùng)…

Thời kỳ Lâm Ấp thế kỷ 3-5 CN: Hồ Điều Hòa - Chùa Cầu, Hậu Xá I di chỉ (lớp dưới), Thanh Chiếm, Trảng Sỏi (lớp dưới), Trà Kiệu (lớp dưới), RĐC…

Thời kỳ Champa từ thế kỷ 5 đến 12,13 CN: Hậu Xá I di chỉ (lớp trên), Trảng Sỏi (lớp trên), Đồng Nà, RĐC, Trà Kiệu (lớp trên), Bãi Làng (Cù Lao Chàm) … Bộ sưu tập vườn nhà ông Nguyễn Lư khu vực Hậu Xá, khối I, phường Thanh Hà, Hội An …

Thời kỳ Đại Việt

Thời kỳ Việt Nam

Giá trị văn hóa xã hội: Những di sản KCH cho thấy khả năng thích ứng bằng những phương thức/mô hình mưu sinh đa dạng với những điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái, những cộng đồng cư dân Sa Huỳnh Champa ở đây đã mở rộng mạng lưới quan hệ trao đổi nội vùng, liên vùng và quốc tế, gia tăng mức độ ứng dụng và sản xuất công cụ, vũ khí kim loại và phát triển nông nghiệp (trồng lúa nước) để đạt được những thành tựu to lớn tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội. Kiểu tổ chức không gian xã hội và sự phát triển đa dạng phù hợp với điều kiện tự nhiên sinh thái cũng như cách thức hội nhập phù hợp với bối cảnh chính trị-kinh tế khu vực của các cộng đồng cư dân văn hoá Sa Huỳnh đã được kế thừa và phát huy ở những giai đoạn sau. Cùng với sự chuyển dịch của dân cư từ bên ngoài vào, áp lực chính trị từ Trung Hoa, tiếp xúc với Nam Á và sự phát triển nội tại đã dẫn đến quá trình kết tinh và thể chế hoá kinh tế-chính trị từ sau Công nguyên dẫn đến sự hình thành của những nhà nước sớm, từ góc độ môi trường địa lý - sinh thái, những nhà nước Champa sớm đã cho thấy sự tái chọn lựa không gian chính trị xã hội của những lãnh địa thời Sa Huỳnh, những lãnh địa thời Sa Huỳnh là cơ sở nền tảng căn bản cho sự hình thành những tiểu quốc Lâm Ấp, liên bang giữa các tiểu quốc/mandala Champa.

Thời kỳ

Sa Huỳnh

Lâm Ấp

Champa

Hình thái tổ chức nhà nước

(Các) lãnh địa

(Các) Tiểu quốc

Liên minh/Liên bang của các tiểu quốc kiểu cấu trúc mandala

 

Những di sản khảo cổ học ở lưu vực sông Thu Bồn, đặc biệt là vùng hạ lưu cho thấy rõ quá trình chuyển biến trong cả hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc của những nhà nước ven biển được thành lập dựa trên những trung tâm buôn bán chợ thường toạ lạc ở cửa những hệ thống sông chính và duy trì mối quan hệ chặt chẽ với những làng trên thượng nguồn, đóng vai trò những những điểm thu thập/mua bán sản phẩm rừng núi với miền xuôi “Tương tự như những người cai trị của những nền kinh tế chính trị ven sông quần đảo, quyền lực của một quốc vương Cham (Cham) tập trung trong đồng bằng cửa sông của ông ta;  bên ngoài  cơ sở thành thị trung tâm cửa sông của mình chủ quyền của một quốc vương Chàm (Cham) phụ thuộc vào khả năng của ông ta kiến tạo một mạng lưới đồng minh với những thủ lĩnh của những cộng đồng dân cư ở thượng nguồn cũng như với thủ lĩnh của những cộng đồng cư dân Chàm (Cham) ở hệ thống sông biển khác”. Những di vật và di tích khảo cổ Sa Huỳnh Champa ở lưu vực sông Thu Bồn mang những giá trị tiêu biểu giúp chúng ta hình dung về một cơ cấu kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực theo thế chân vạc mà trong đó nông nghiệp và thủ công nghiệp đóng vai trò nền tảng, đảm bảo “an ninh lương thực” trong khi thương mại đường sông và đường dài trên biển tạo ra những thặng dư vật chất duy trì và thúc đẩy những khía cạnh đời sống tôn giáo phát triển mà chứng cứ là những khu mộ địa rộng lớn với những chum quan tài kích thước lớn, đồ tùy táng phong phú, giàu có thời Sa Huỳnh và thành lũy, đền tháp và điêu khắc Phật giáo và Hidu giáo thời Champa.

2.Phát huy giá trị

2.1. Di sản và những yếu tố tác động

Di sản khảo cổ học cũng giống như các loại hình di sản khác có đời sống riêng của mình từ lúc hình thành, phá hủy, tái tạo và sống lại. Và để di sản trở thành tài nguyên cho hiện tại, tương lai, mỗi di sản cần được quan tâm tìm hiểu chăm sóc duy trì và phát huy giá trị.

Vòng đời Di sản (Nguồn: Simon Thurley, Into the future. Our stategy for 2005-2010).

Di sản chịu nhiều tác động của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo, xã hội càng phát triển, sự tiêu tốn năng lượng càng lớn thì tác động tiêu cực đối với di sản càng lớn. Mỗi loại di sản chịu các tác động tự nhiên, con người khác nhau với mức độ gây hại khác nhau. Đối với di sản khảo cổ học đó là xuống cấp, huỷ hoại hoàn toàn hay từng phần do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân khách quan khí hậu, môi trường thời tiết khắc nghiệt, khó lường, chiến tranh, xung đột tôn giáo, tín ngưỡng, đứt gãy truyền thống do những quan điểm sai lầm của một giai đoạn lịch sử, nhiều công trình tôn giáo bị phá huỷ một cách cố ý. Hiện nay mức độ huỷ hoại nhanh hơn do chưa có quy hoạch đồng bộ giữa cái cần bảo tồn với xây dựng mới. Môi trường thiên nhiên truyền thống của một số khu di sản bị biến dạng, Nhiều không gian hoạt động tại di sản văn hóa, không gian lễ hội bị phá vỡ, hoặc thu hẹp lại (đình, chùa bị phá hoại trong chiến tranh, các con đường hành lễ, các địa điểm sinh hoạt lễ hội, không gian văn hóa bị chia cắt do việc xây dựng mở mang các đô thị, khu công nghiệp…). Thế hệ trẻ ngày càng ít quan tâm và không còn muốn sống trong những môi trường truyền thống, môi trường sống tại các đô thị hiện đại có lực hấp dẫn mạnh mẽ đối với họ. Con người ngày càng muốn sống trong các điều kiện hiện đại, có đầy đủ tiện nghi hơn, vì vậy di sản văn hóa luôn đứng trước nguy cơ bị cải biến theo hướng hiện đại. Bên cạnh đó bảo tồn không đúng cách dẫn đến làm mới di tích, hiện tượng hoành tráng hoá di tích làm mất di tích...Quan điểm bảo tồn trái ngược nhau, kinh phí bảo tồn ít và chi tiêu chưa hợp lý, thất thoát, lãng phí và có cả những trường hợp tham nhũng...Chưa có đội ngũ làm công tác trùng tu chuyên nghiêp và đồng bộ.

Tại hội nghị của ICOMOS Dublin 2010, bốn vấn đề lớn về quan hệ giữa di sản với biến đổi xã hội hiện nay đã được đặt ra, đó là (i) Di sản của những cộng đồng đang biến đổi, đang phát triển; (ii) Di cư, di dân và di sản bản địa; (iii) Di sản tôn giáo; (iv) Các tác động xã hội của biến đổi khí hậu toàn cầu. Trong những thảo luận xung quanh tính bền vững của di sản, Trung tâm Di sản Thế giới đã thực hiện thu thập và xây dựng một bộ dữ liệu hữu ích. Những phân tích các mối đe dọa đối với các di sản văn hóa (bất kể vị trí hoặc loại hình) đã chỉ ra rằng các vấn đề toàn cầu xuất phát từ các vấn đề quản lý, các dự án phát triển và du lịch đều nằm trong nhóm đầu tiên. Do vậy đối với công cuộc bảo tồn phát huy giá trị những nguồn tài nguyên di sản khảo cổ học lưu vực sông Thu Bồn chúng tôi cũng cho rằng vấn đề quản trị/quản lý, các dự án phát triển và du lịch là ba vấn đề đầu tiên cần được quan tâm. 

2.2.Những kết quả đã đạt được Trường hợp Hội An, Điện Bàn và Duy Xuyên

Hội An, Điện Bàn và Duy Xuyên là những khu vực có nhiều di sản khảo cổ học và ở hai đầu tây đông từ núi xuống biển là hai di sản thế giới Hội An và Mỹ Sơn. Hai di sản này hiện đang được quản lý và phát huy hiệu quả cùng với hệ thống nhà cổ, bảo tàng, làng nghề truyền thống, đền - tháp… Tuy nhiên nhiều nguồn tài nguyên di sản khác vẫn chưa thực sự được phát huy tốt các giá trị vì vẫn đang ẩn tàng trong lòng đất và đang đứng trước nguy cơ bị phá hủy từng phần hay toàn phần bởi các dự án phát triển hiện đại. Mạng lưới di sản, Con đường di sản hay Dòng chảy di sản Sa Huỳnh – Champa – Đại Việt men theo sông Thu Bồn có nhiều tiềm năng và cơ hội để hình thành, kết nối các di sản để cùng khai thác và phát huy giá trị nhiều tầng, nhiều lớp như đã diễn giải ở phần mở bài..

2.3.Du lịch Khảo cổ học và Công viên Lịch sử Văn hóa Khảo cổ học 

Có nhiều cách thức khác nhau để sử dụng và phát huy giá trị của các tài nguyên khảo cổ học. Trong đó có xây dựng Công viên Lịch sử Văn hóa Khảo cổ học và phát triển Du lịch Khảo cổ học (Archaeotourism) (một hình thức của du lịch văn hóa)

Để kết nối các nguồn tài nguyên di sản và để việc quản trị di sản không đối đầu với khai thác di sản, có lẽ cần có những hành động thiết thực và kịp thời để xây dựng một kế hoạch có quy mô cấp tỉnh với sự phối kết hợp chặt chẽ giữa nhiều bên liên quan xây dựng chuỗi Công viên Lịch sử Văn hóa Khảo cổ học (LSVHKCH) với mục đích bảo tồn kết hợp với khai thác với sự tham góp của các bên quản lý nghiên cứu và phát huy. Quan hệ giữa Du lịch và Khảo cổ học trong con mắt của nhiều người làm công tác di sản thường không được xem là quan hệ thuận chiều. Mặc dù cả ở phạm vi toàn cầu, cả ở phạm vi quốc gia, du lịch văn hóa, du lịch di sản, du lịch khảo cổ đem lại lợi ích to lớn về vật chất nhưng thường quan sát được một hiện tượng du lịch càng phát triển, khách du lịch càng đông thì sự gây hại cho di sản văn hóa, di sản khảo cổ càng lớn. Không ít trường hợp tác động gây hại của du lịch đến di sản lớn đến mức người ta phải tạm thời đóng cửa di tích hay địa điểm để có thời gian phục hồi và duy trì. Tuy nhiên du lịch không ngừng tăng về quy mô và số lượng do nhiều điều kiện thuận lợi như gia tăng các hãng hàng không giá rẻ, phương tiện giao thông đa dạng, thu nhập tăng, thời gian nghỉ ngơi dài và những hình ảnh thắng cảnh, di tích… đẹp long lanh phát tán qua nhiều kênh thông tin chính thống, phi chính thống, cá nhân làm dòng người đổ về các khu di tích càng ngày càng tăng và những người quản lý, những nhà nghiên cứu không thể làm ngơ, không thể chỉ buông ra những lời phàn nàn hay tỏ thái độ phản đối cản đường du lịch. Mà phải có những hành động và cách giải quyết thích hợp, mềm dẻo và khả thi trong quản trị du lịch, đặc biệt là quản trị tác động của du lịch lên tài nguyên di sản như quản trị bảo tồn, diễn giải và khách tham quan.

Khảo cổ học và du lịch như là sự pha trộn phức tạp và cũng như “hai mặt của cùng một đồng xu”.  Để cân bằng giữa hai mặt của một đồng xu này mỗi nước có những giải pháp và chính sách khác nhau và đều dựa trên luật của quốc gia và các công ước, hiến chương quốc tế. Một trong những điểm thú vị được Hiến chương ICOMOS 1999 về Du lịch Văn hóa đưa ra là cần phải 'tạo điều kiện và khuyến khích đối thoại giữa lợi ích bảo tồn và ngành du lịch về tầm quan trọng và tính chất mong manh của các địa điểm di sản.... bao gồm cả nhu cầu gìn giữ tương lai bền vững cho những di sản đó”. Khảo cổ học hơn lúc nào hết phải có những giải pháp mới, phù hợp với nhu cầu và thách thức của du lịch phát triển. Người làm khảo cổ đặt mình vào vị trí của người làm du lịch và đi du lịch trong khi người làm du lịch cũng cần biết và hiểu mình cần gì từ khảo cổ học cũng như những hoạt động du lịch sẽ mang lại những lợi ích và tác hại gì cho các di sản mình đang và sẽ khai thác. Du lịch cần các nghiên cứu hoặc cập nhật các nội dung mới từ khảo cổ học cũng như các kỹ năng từ quản lý di sản để đảm bảo duy trì bền vững. Từ góc độ di sản, du lịch cung cấp một lượng công chúng cho các chiến lược nghiên cứu và bảo tồn cũng như phương tiện để chứng minh giá trị và ích lợi phục vụ cộng đồng để đổi lấy tài trợ và hỗ trợ cần thiết. Do vậy, đối với nghiên cứu khảo cổ học hiện nay khả năng tương tác với cộng đồng, khả năng quản trị các di sản khảo cổ, khả năng hợp tác chia sẻ các tri thức khảo cổ cho sử dụng đương đại để phát triển bền vững cần được coi là những khả năng cần thiết và tối quan trọng.

Sự phối kết hợp ba bên hiện đã và đang triển khai ở các mức độ khác nhau nhưng chưa thành hệ thống và do vậy nhiều giá trị chưa được phát huy đầy đủ trong một mạng lưới kết nối các điểm di tích khác nhau trên cả khía cạnh thời gian và không gian và vẫn bị những chính sách quản lý di sản theo địa giới hành chính chi phối. Do vậy việc xây dựng và thiết lập một dự án nghiên cứu triển khai xây dựng chuỗi công viên lịch sử văn hóa khảo cổ học dựa trên những di sản Sa Huỳnh – Champa đã xuất lộ và vẫn còn trong lòng đất ở lưu vực sông Thu Bồn kết hợp với những bảo tàng, nhà trưng bày hiện đang hoạt động là rất cấp thiết, đó có thể là Công viên LSVHKCH An Bang – Trảng Sỏi – Lai Nghi.  Hiện nay chúng ta đã có khá đầy đủ những tài liệu khảo cổ học về phạm vi phân bố, tính chất, niên đại và giá trị của ba địa điểm nói trên do đã có khá nhiều các cuộc khảo sát và khai quật. Trong ba địa điểm này Lai Nghi hiện cư dân sinh sống với mật độ đông đúc, tuy nhiên vẫn có thể tìm được những khoảnh sân vườn nhà của người dân để tái dựng một số mô hình và trưng bày tại chỗ. Đối với An Bang và Trảng Sỏi, diện tích nghiên cứu và làm trưng bày ngoài trời cũng như dựng mô hình mô phỏng còn khá rộng, tuy nhiên khu vực này hiện đang nằm trong quy hoạch phát triển khu dân cư mới…và nếu không có những kế hoạch chỉ trong vài năm tới các dự án phát triển sẽ mau chóng phá hủy các di tồn dưới mặt đất (mặc dù tại Trảng Sỏi và An Bang đã có mốc cắm di tích và khoanh vùng một diện tích nhất định để bảo tồn).

Công viên hay chuỗi công viên này có tính khả thi cao (tính khả thi là điều kiện quan trọng nhất trong quản lý di sản bền vững) do phần lớn diện tích nằm trong khu vực quản lý của Ban Quản lý và Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, những nhận diện và đánh giá giá trị củng những di sản này đã được tiến hành từ nhiều năm nay. Kinh nghiệm khai thác di sản và mối quan hệ với các cơ quan và công ty du lịch của ba bên người quản lý – người nghiên cứu và cộng đồng hình thành và phát triển theo thời gian đủ để kết nối các lực lượng thực thi xây dựng công viên này. Kinh nghiệm ở khu vực và trên thế giới không hiếm để chúng ta tham khảo về quy trình, nội dung cấu thành và phương pháp xây dựng cũng như những bài học rút ra từ quá trình vận hành loại hình công viên này . Cơ sở pháp lý và giải pháp kỹ thuật hiện cũng không hề thiếu cả bằng tiếng Việt cả bằng tiếng Anh.  

 
 

Hình ảnh Công viên LSVHKC Yoshinoggari, Nhật Bản

Kết luận

Tài nguyên di sản khảo cổ học Sa Huỳnh Champa ở lưu vực sông Thu Bồn đa dạng về thể loại và giàu có về số lượng cùng những tiềm năng vô tận để phát huy giá trị, không chỉ về giá trị văn hóa mà cả những lợi ích đáng kể về kinh tế. Trên cơ sở những điển hình đã có về bảo tồn và phát huy di sản như Hội An, Mỹ Sơn đã đến lúc cần có bước đột phá mới để tạo ra một mạng lưới và hệ thống tài nguyên di sản rộng hơn, đa tầng ý nghĩa sâu hơn và được phát huy hiệu quả hơn.

Dựa trên những kinh nghiệm và bài học bảo tồn và phát huy giá trị di sản/nguồn tài nguyên văn hoá trong nước và nước ngoài, có thể thấy để bảo tồn và phát huy giá trị di sản Sa Huỳnh Champa ở lưu vực sông Thu Bồn nói riêng và Quảng Nam nói chung để phát triển bền vững trước hết cần khảo sát tổng thể đánh giá trữ lượng tài nguyên, tìm hiểu những nhân tố tác động tới hiện trạng và tương lai của những nguồn tài nguyên này cả từ góc độ khách quan và chủ quan, tham khảo luật quốc gia, công ước quốc tế và đánh giá những kết quả đã đạt được cùng những bài học kinh nghiệm thực tế đê xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy, đồng thuận nhiều mặt giữa bộ ba – Đào tạo/ Nghiên cứu – Quản lý – Khai thác/Phát huy. Đào tạo/Nghiên cứu đi trước một bước, dựa trên dữ liệu lập kế hoạch dài hơi và kế hoạch trước mắt để phát triển bền vững: Không chỉ bền vững trong khai thác và phát huy giá trị mà cả bền vững trong nghiên cứu, luôn cần có sự đồng hành bình đẳng giữa bộ ba này.

Chọn lựa để xây dựng những gói sản phẩm du lịch văn hoá Sa Huỳnh Champa trong mỗi khu vực và liên vùng dựa trên khai thác những giá trị Vật thể và Phi vật thể có cùng niên đại, cùng tính chất sáng tạo giá trị mới dựa trên cơ sở khoa học và thiết kế hiện đại. Mặt khác, một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo sự cân bằng giữa nghiên cứu bảo tồn và khai thác là tái đầu tư tương xứng từ nguồn lợi bán giá trị tài nguyên di sản quay trở lại tái tạo giá trị tài nguyên di sản.

QUẢN LÝ – NGHIÊN CỨU – SỬ DỤNG tài nguyên di sản trên cơ sở hợp tác chặt chẽ giữa người triển khai/ thực thi chính sách, người làm khảo cổ, người làm du lịch và cộng đồng là đá tảng cho sự thành công để quá khứ thành tài nguyên cho phát triển hiện tại và tương lai.

GS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung; TS. Nguyễn Anh Thư (Đại học Văn hóa Hà Nội);

HVCH. Chu Lâm Anh (Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội)

 

 

 

 

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Bài viết khác