Thứ Ba, 12/11/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

14/10/2019 09:20 212
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
1.Giới thiệu

Phức hợp di tích khảo cổ học Vườn Chuối nằm trên một cánh đồng thuộc thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội ( 21N03'40'' và 105  E43'499''). Đây một khu di tích khá đặc biệt, chỉ cách trung tâm Hà Nội 15km, gần một số cơ sở đào tạo lớn như Đại học Công nghiệp, Đại học Thành Đô. Di tích nằm án ngữ dọc tuyến đường quốc lộ 32 từ Hà Nội đến Sơn Tây là một trong những tuyến đường giao thông huyết mạch nối trung tâm Hà Nội với phía tây thành phố (mở rộng Hà Nội 2008).

 

Ảnh vệ tinh địa điểm Vườn Chuối và những địa điểm khảo cổ học ở làng Lai Xá,

 huyện Hoài Đức, Tp. Hà Nội (Nguồn: Nguyễn Huy Nhâm 2018)

Xã Kim Chung tiếp giáp với nhiều địa phương khác như xã Tây Tựu (phía Bắc), xã Xuân Phương (phía Đông Bắc), xã Di Trạch (phía Đông), xã Lại Yên (phía Nam), xã Sơn Đồng (phía Tây), xã Đức Giang (phía tây Bắc). Những điều kiện thuận lợi đó đã tạo điều kiện để xã Kim Chung phát triển mọi hoạt động kinh tế từ nông nghiệp, công nghệp, thủ công nghiệp và nhiều loại hình kinh tế khác nhưng cũng gây ra nhiều khó khăn và thách thức cho công tác nghiên cứu và bảo vệ, bảo tồn.

 

 Bản đồ phân bố di tích khảo cổ học Hà Nội (Nguồn: Nguyễn Đức Trung, Ban Quản lý

Di tích và Danh thắng Hà Nội)

Phức hợp Di tích Vườn Chuối  nằm trong không gian đậm đặc các di tích thời tiền, sơ sử và nằm liền kề với di tích Gò Chùa Gio,Gò Chiền Vậy, Gò Rền Rắn…. tạo thành một phức hợp di tích thuộc giai đoạn Tiền Đông Sơn và Đông Sơn (hình 2, 3). Diện tích ước tính của phức hợp này khoảng 19.000m2, độ cao trung bình hiện còn so với mặt đất  xung quanh khoảng 1,3 đến 1,5m. Có thể vào thời tiền Đông Sơn và Đông Sơn độ chênh lệch giữa các gò và mặt đồng còn cao hơn.

Di tích được phát hiện đầu tiên vào năm 1969 và cho tới nay đã trải qua 8 đợt khai quật trong các năm: 1969, 2000, 2009, tháng 6 – 7/2011, tháng 12/2011, tháng 12/2012, tháng 12/2013 và tháng 12 năm 2014 .

Bảng 1. Các đợt khai quật Vườn Chuối 1969-2014

Lần khai quật

Thời gian khai quật

Cơ quan chủ trì

Diện tích khai quật (m²)

1

1969

Viện Khảo cổ học

100

2

12.2001

Trường ĐHKHXHNV, Hà Nội

174

3

12.2009

Trường ĐHKHXHNV, Hà Nội

60

4

6-7.2011

Trường ĐHKHXHNV, Hà Nội

Bảo tàng Hà Nội

300

5

12.2011

Trường ĐHKHXHNV, Hà Nội

35

6

12.2012

Trường ĐHKHXHNV, Hà Nội

40

7

12.2013

Trường ĐHKHXHNV, Hà Nội

60

8

12.2014

Trường ĐHKHXHNV, Hà Nội

30

 

Tổng

 

 

799

 

Sơ đồ các hố khai quật Vườn Chuối từ 2001-20l4 (Nguồn: Nguyễn Huy Nhâm 2018)

2. Kết quả khai quật

2.1. Địa tầng:

Kết quả 08 lần khai quật Vườn Chuối cho thấy ở đây có ba giai đoạn văn hoá từ Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn, ngoài ra trên bề mặt di tích còn có những hiện vật của thời kỳ hậu Đông Sơn. Mặc dù có sự liên tục về văn hoá nhưng dấu vết cư trú và mộ táng của các cộng đồng cư dân cổ phân bố không đồng đều trên toàn bộ diện tích của địa điểm và tầng văn hoá dày mỏng khác nhau tuỳ điểm khai quật, mỏng nhất khoảng 0.70m và dày nhất khoảng trên 2m. Tại cuộc khai quật lần thứ nhất chỉ phát hiện tầng văn hoá giai đoạn Đồng Đậu phát triển nhưng vẫn chứa một số đồ gốm phong cách Ρhùng Nguyên ở lớp sát sinh thổ; tại các hố khai quật lần hai, ba và bốn đã phát hiện dấu tích của giai đoạn Đồng Đậu phát triển và Gò Mun; tầng văn hoá ba giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn được nhận diện trong lần khai quật năm và sáu, ở lần khai quật thứ bảy đã tìm thấy dấu tích của giai đoạn văn hoá Gò Mun và Đông Sơn, trong khi lớp cư trú Đông Sơn được phát hiện trong hố khai quật lần thứ tám (hình 4). Nhìn chung cư dân Đồng Đậu sinh sống chủ yếu trên đỉnh gò, cư dân Gò Mun và Đông Sơn mở rộng nơi ở của mình về phía chân gò xuống vùng thấp hơn.

 

Diễn biến tầng văn hoá tại một số điểm khai quật Vườn Chuối (Nguồn: Nguyễn Huy Nhâm 2018)

2.2. Di tích xuất lộ

2.2.1. Dấu tích liên quan đến xử lý mặt bằng cư trú và nhà ở

Di tích “nền đất đắp”: phát hiện ở cả 3 hố khai quật năm 2001, tại độ sâu 50cm - 60cm so với lớp canh tác, đó là các khoảng đất sét vàng nện chặt, dày từ 5cm - 20cm, nguyên liệu cấu thành “nền đất đắp” này lấy từ chính sinh thổ, theo những người khai quật các nền đất đắp là một đặc trưng di tích của văn hóa Đồng Đậu. “Nền gốm đất nện” thuộc giai đoạn văn hóa Đông Sơn tại hố đào H2 khai quật tháng 12.2011 và H2 kéo dài tháng 12. 2012 với kết cấu bên trong gồm đất nung, đất sét và gốm Gò Mun, Đông Sơn vụn nện chặt. “Nền gốm đất nện” xuất lộ ở độ sâu 50cm so với bề mặt của hố, dày khoảng từ 8cm đến 25cm, đây có thể là dấu vết gia cố mặt bằng của cư dân sinh sống trên nền đất yếu.

Hố cột nhà sàn? Tại hố 2 kéo dài của khai quật tháng 12.2012 lớp 5-7 đã phát hiện 11 hố kiểu hố chôn cột, các hố đều có dạng hình tròn hay bầu đục gần tròn, đường kính từ 30 - 50cm; sâu từ 4 cm – 56cm.  Hiện tượng này cũng phát hiện được trong cuộc khai quật lần 3 và lần 4, lúc đó, những người khai quật gọi là “vết cọc tre (chân cột?)” và “hố dạng lỗ cột”. Các hố loại này cũng còn được tìm thấy ở Đình Tràng trong cuộc khai quật lần 7 với 36 hố, nằm thành 3 hàng theo chiều đông bắc – tây nam, và những người khai quật cho rằng đó là những hố chôn cọc trong việc gia cố địa hình của cư dân cổ. Quan sát đặc điểm xuất lộ cũng như cấu trúc các di tích có thể thấy nhiều khả năng là những hố chôn cột của nhà sàn, loại nhà rất phổ biến trong giai đoạn văn hóa Đông Sơn.

2.2.2. Di tích hố đất đen, hố đất nâu

Tương tự như  nhiều địa điểm Tiền Đông Sơn khác, một trong những di tích xuất lộ hay gặp là các hố đất đen, tuy nhiên chức năng của chúng khá đa dạng, có thể là hố rác, hố lấy đất sét làm gốm, hố nghi lễ, hố chứa nước và đôi khi chỉ là những hố trũng do địa hình lồi lõm. Trong những lần khai quật Vườn Chuối, có một số di tích hố đất đen đáng lưu ý sau:

- 09.VC.H1.F15: hố đất đen này xuất lộ ở 190,6cm; sâu 274,9cm so với cos 0, rộng nhất là 76cm. Trong hố có một số mảnh gốm, cục đất nung.

- 11.VC tháng 6,7. H2.F1: đất đen có màu xẫm đen nhất và có kích thước lớn nhất. Hiện vật chủ yếu là các mảnh gốm, mảnh vòng được làm từ đá nerphrite. Ở hố đất đen F1 cấu tạo địa tầng khá phức tạp, ở độ sâu 30cm so với mặt bằng L3 (sinh thổ) có 1 vệt than đen dày 0,2 – 0,4cm chạy ngang hố. Xuống độ sâu 55cm so với mặt bằng sinh thổ có 1 lớp cát sông mịn, màu xám vàng, có thể do trước đây, nơi đây bị 1 đợt lũ nào đó cuốn và bồi đắp lên bề mặt sinh thổ. Ngoài ra còn có một ít xương động vật bị mủn nát. Kích cỡ dài 180- 190cm; rộng  180cm, sâu 56cm.

- 11.VC tháng 12.H1.L3.F2: nằm ô a1, a2, b1 và b2 F2 có hình elip, bình diện tương đối bằng phẳng. Hiện vật trong hố là xương động vật, gỗ, gốm, xỉ đồng, bã thực vật và mảnh vòng, gốm trong hố về hoa văn và kiểu miệng đều là gốm mang đặc điểm Gò Mun, không có hiện vật muộn hơn. Chiều dài của hình elip: 1m; độ sâu khoảng 62cm; rộng 30cm

-11.VC tháng 12.H2.L8.F6: nằm trên vạch phân cách giữa ô a1 và b1. Miệng hố có hình dạng gần tròn, đáy tương đối bằng phẳng. Hiện vật tìm thấy chủ yếu là gốm (gốm Đông Sơn và gốm Gò Mun) và đất nung. Ngoài ra, còn tìm thấy một mảnh vòng. Di tích có độ sâu 60cm và có đường kính miệng 30cm. Qua hiện vật trong F6, có thể khẳng định đây là hố đào của người Đông Sơn.

2.2.3. Di tích bếp và lò đúc đồng

Di tích bếp (09.VC.H1.F1): bắt đầu xuất lộ tại đáy lớp 1 ở độ sâu 106,6cm so với cos 0. Chiều rộng của bếp là 80-90 cm, bếp được xử lý theo kiểu cắt ¼, phía trên có đám tro tụ lại và đáy bếp có hình tròn, thu nhỏ lại theo hình lòng chảo, nhiều than tro, cục đất bị nung cháy, có hiện tượng những mảnh củi cháy chưa hết, ít gốm vụn, hiện vật đá như bàn mài, mảnh tách, mảnh tước... xương động vật.

 Di tích bếp (09.VC.H1.F6): Xuất lộ tại độ sâu -109,5cm so với cos 0. Bếp này nằm cạnh di tích bếp 1 nhưng có kích thước nhỏ hơn với đường kính 30cm. Trong lòng bếp có lẫn nhiều than tro, củi chưa cháy hết, ngoài ra còn có cả những mảnh gốm, hiện vật bằng đá như bàn mài, mảnh tách, mảnh tước…

Di tích bếp (11VC tháng 6,7.H4. F8): 1 phần nằm trong vách AD, di tích màu đỏ, cứng, xung quanh phát hiện nhiều than tro, có dấu vết của sự tác động của lửa. Mặt khác, một phần di tích có dạng hình lòng máng, có dấu vết cháy, có thể đây là 1 dạng bếp lò.

Lò nấu đồng (09.VC.h1, A.4,5): xuất lộ tại các ô a4, a5, ở độ sâu 121cm so với cos 0. Lò nấu đồng có đường kính 100cm, thành dày 20-30cm, cao 90cm, sâu 121cm so với cos 0. Lò lẫn nhiều mảnh gốm vỡ, được bao quanh bởi những khối đất nung có đường kính rộng, xung quanh lò có nhiều mảnh gốm nhiễm đồng bề mặt bị sùi lên, xương gốm xốp, nhẹ. Xung quanh lò nấu đồng có chứa một số mảnh gốm, cục đất nung, xỉ đồng...

 

 Lò nấu đồng (09.VC.h1, A.4,5)

2.2.4. Dấu tích liên quan đến dòng chảy hay  đầm lầy

Trong lần khai quật thứ 6 và 7 năm 2012 và 2013 những người khai quật đã phát hiện dấu tích một khu vực lầy trũng, lắng đọng trầm tích bùn, chứa nhiều di vật gốm Gò Mun và dấu tích thực vật, công cụ, dụng cụ, đồ trang sức bằng gỗ… Có nhiều khả năng hố khai quật lần này đã mở trên một triền nghiêng của gò, phía trên của sườn có dấu tích cư trú và mộ táng Đông Sơn, phía chân sườn là đầm lầy có dấu tích văn hoá Gò Mun.

2.2.5. Di tích mộ táng

Cho đến nay đã phát hiện được 29. mộ, trong đó có 01 mộ thuộc văn hoá Đồng Đậu (mộ 11.VC tháng 6,7, H.7.M.1), còn lại đều là mộ thuộc giai đoạn văn hoá Đông Sơn (Lâm Thị Mỹ Dung, Bùi Hữu Tiến 2014: 206-217)

Bảng 2. Thống kê mộ táng Vườn Chuối

Năm Khai quật

Số mộ

1969

0

2001

0

2009

3

Tháng 6 và 7 năm 2011

9

Tháng 12 năm 2011

0

2012

3

2013

9

2014

4

Tổng

28

 

 

 

Mộ Đồng Đậu 11.VC tháng 6,7. H.7.M1

 

GS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung; Nguyễn Huy Nhâm

(Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội)

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Bài viết khác

Từ công tác bảo quản đến giáo dục bảo tàng

Từ công tác bảo quản đến giáo dục bảo tàng

  • 11/09/2019 10:05
  • 234

Bảo tàng là cơ quan giáo dục công cộng, là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc và là điểm đến quen thuộc của công chúng khi họ có nhu cầu tìm hiểu, khám phá tri thức hoặc chiêm ngưỡng di sản. Hiện nay, bảo tàng không chỉ đơn thuần là nơi trưng bày, triển lãm hiện vật đây còn là không gian đặc biệt mà công chúng được tương tác, trải nghiệm, khám phá trực tiếp với hiện vật và các khâu công tác cụ thể của bảo tàng. Theo đó, các hoạt động giáo dục bảo tàng đã từng bước đổi mới, sáng tạo để kết nối hiện vật với công chúng; kết nối công tác trưng bày, sưu tầm, quản lý, bảo quản hiện vật với công tác giáo dục và công chúng.