Thứ Năm, 14/11/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

15/08/2019 09:50 180
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Thung lũng Thần Sa lần đầu tiên được giới khảo cổ học nước nhà chú ý sau đợt khai quật hang Miệng Hổ vào năm 1972 (Hoàng Xuân Chinh, Trần Ngọc 1972a; Hoàng Xuân Chinh, Trần Ngọc 1972b: 45; Hoàng Xuân Chinh, Vũ Thế Long 1972: 30). Liên tiếp trong 3 năm liền: 1980, 1981, 1982 các nhà khảo cổ học Việt Nam đã có nhiều đợt khảo sát, điều tra và khai quật khảo cổ tại khu vực Thần Sa. Một trong những thành tựu lớn của các đợt khai quật này là đã phát hiện hơn 10 di tích khảo cổ mới, trong đó nổi bật là di chỉ Mái đá Ngườm. Phần lớn kết quả của đợt nghiên cứu này đã đ­ược trình bày trong cuốn sách Thần Sa, những di tích của con ng­ười thời đại đá do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) xuất bản năm 1981 (Quang Văn Cậy, Trình Năng Chung, Ngô Thế Phong, Bùi Văn Tiến 1981). Đến nay, đã có gần 20 di tích thuộc thời đại đồ đá phát hiện được trong thung lũng Thần Sa.

 

Khai quật mái đá Nườm năm 1982 (Tư liệu Thư viện Khảo cổ học)

Việc phát hiện ra Mái đá Ngườm, một di chỉ của con người Thời đại Đá cũ có niên đại trên 23.000 năm cách ngày nay, với đặc trư­ng nổi bật là kỹ nghệ mảnh tước duy nhất tìm thấy ở Việt Nam đã đóng góp vào việc thay đổi nhận thức về văn hoá Tiền sử Việt Nam và Đông Nam Á. Đồng thời, nhiều vấn đề cơ bản của Thời đại Đá Việt Nam được đưa ra để thảo luận. Trong đó vấn đề mối quan hệ giữa Kỹ nghệ Ngườm và văn hóa Bắc Sơn được đặc biệt chú ý.

Kỹ nghệ Ngườm, lần đầu tiên được biết đến ở thung lũng Thần Sa, Thái Nguyên, trong đó có 2 di tích tiêu biểu là di chỉ Mái đá Ngườm và hang Miệng Hổ.

Địa tầng văn hoá của di chỉ Ngườm dày 1,45m, được chia làm 3 tầng văn hóa phát triển kế tiếp nhau từ sớm đến muộn như sau:

Tầng văn hoá I ở độ sâu 1,2-1,45m, là tầng đất sét vôi màu vàng nhạt chứa một tổ hợp công cụ gồm chủ yếu là những mũi nhọn, dao, nạo làm từ những mảnh tước cuội cùng một ít công cụ hạch cuội. Xương răng động vật ở đây đều bán hoá thạch, gồm đười ươi Pongo sp., lợn Sus scrofa, nai Rusa sp., nhím Hystrix... Niên đại C14 lấy ở nơi giáp ranh giữa tầng I và tầng II có tuổi 23.000 200 BP. Như vậy tầng văn hoá I có tuổi cổ hơn 23.000 năm cách nay.

Tầng văn hoá II ở độ sâu từ 0,6-1,2m, được cấu tạo từ đất sét vôi tơi xốp màu xám nhạt chứa xương - răng động vật chớm hoá thạch như đười ươi Pongo sp., bò Bos sp., lửng lợn Arctonyx collanis, khỉ Macaca sp... Đã xuất hiện nhiều vỏ ốc núi , ít ốc suối. Công cụ đá khá phong phú, mảnh tước nhiều, song công cụ mảnh tước giảm nhiều so với giai đoạn trước. Công cụ ghè đẽo tăng lên. Tầng này có tuổi C14 là 23.000 năm cách nay.

Tầng văn hoá III có độ dày trung bình 0,6m là lớp đất sét vôi tơi xốp, màu xám sẫm, chứa nhiều vỏ nhuyễn thể chủ yếu là ốc suối, một ít xương răng động vật và nhiều di vật đá. Niên đại C14 tầng này ở độ sâu 0,6m là 19.040 400 BP và 18.600 200 BP.

Nhìn chung, 3 tầng văn hoá ở Ngườm phát triển liên tục, không bị ngăn cách bởi tầng vô sinh, nhưng có sự thay đổi khá rõ trong tổ hợp di vật và thành phần động vật từ Cánh Tân muộn đến đầu Toàn Tân (Hà Văn Tấn 1998: 74-75).

Khi nghiên cứu về Ngườm, tác giả Hoàng Xuân Chinh cho rằng, 3 tầng văn hóa Ngườm tiêu biểu cho 3 kỹ nghệ: Tầng trên cùng - dạng địa phương của văn hóa Hòa Bình, tầng giữa - dạng địa phương của nhóm Nậm Tun - Bản Phố, tầng dưới tương đương với Miệng Hổ (Hoàng Xuân Chinh 1984: 15-19).

Về tầng văn hoá dưới cùng (tầng I), đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng tổ hợp di vật ở đây đặc trưng cho kỹ nghệ ít nhiều phân biệt với kỹ nghệ mảnh tước ở Đông Nam Á và chúng tạo nên một kỹ nghệ với đặc thù riêng: Kỹ nghệ Ngườm thuộc Hậu kỳ Đá cũ, có tuổi sớm hơn văn hoá Sơn Vi. Diện mạo cơ bản của kỹ nghệ Ngườm được nhận biết bởi vai trò chủ thể của công cụ mảnh và của những kỹ nghệ chế tác mảnh.

Ở đây, chúng tôi muốn lưu ý rằng, kỹ nghệ đồ đá ở tầng III Ngườm (tầng trên cùng) đã hàm chứa những manh nha của kỹ nghệ Bắc Sơn mà Hoàng Xuân Chinh cho rằng đó là dạng địa phương của văn hóa Hòa Bình. Trong bài nghiên cứu về “Kỹ nghệ Ngườm và văn hóa Bắc Sơn”(1991), chúng tôi là một trong những người sớm muốn truy nguyên/tìm những yếu tố tiền thân của văn hóa Bắc Sơn trong lòng kỹ nghệ Ngườm (Trình Năng Chung 1991: 16-21).

Đối với văn hóa Bắc Sơn, trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu vẫn coi văn hóa Bắc Sơn phát triển từ văn hóa Hòa Bình (Hà Văn Tấn 1969: 198). Một số tác giả lại coi Bắc Sơn chỉ là một dạng địa phương của văn hóa Hòa Bình (Ngô Thế Phong 1984: 16-26).Văn hóa Hòa Bình là văn hóa cuội, mà đặc trưng cơ bản là sử dụng những hòn cuội nguyên để chế tác công cụ. Thừa nhận văn hóa Bắc Sơn bắt nguồn từ văn hóa Hòa Bình, mặc nhiên cũng thừa nhận truyền thống chế tác công cụ hạch cuội của chủ nhân văn hóa Bắc Sơn.

Các tác giả công trình Khảo cổ học Việt Nam (Tập 1 - Thời đại đá Việt Nam) đã cho chúng ta thấy rõ diện mạo riêng của văn hóa Bắc Sơn. Về phương diện loại hình công cụ, tính phi định hình của văn hóa Bắc Sơn khiến nó khó có thể hòa lẫn với bất cứ văn hóa nào khác, kể cả văn hóa Hòa Bình (Hà Văn Tấn 1998: 176-184). Về phương diện kỹ thuật, các tác giả đã chỉ rõ tính chất phi Hòa Bình của văn hóa Bắc Sơn. Đối với chúng tôi, lần đầu khi tiếp xúc với bộ sưu tập Hang Dơi, Bó Lấm (Lạng Sơn) đã có ấn tượng rằng chúng ta bắt gặp ở đây một diện mạo kỹ nghệ khác với kỹ nghệ Hòa Bình. Ấn tượng trên càng được củng cố khi chúng tôi có dịp chỉnh lý lại một loạt sưu tập Bắc Sơn khác trong kho của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và so sánh với 3 bộ sưu tập Ngườm Vài, Hang Ốc, Pắc Tà được nghiên cứu mới đây (Trình Năng Chung 2018). Ở đây, chúng tôi hoàn toàn đồng tình với luận điểm của tác giả Hà Hữu Nga là tách văn hóa Bắc Sơn ra khỏi chuỗi kỹ nghệ hạch cuội Sơn Vi - Hòa Bình, và nên xem xét nó dưới góc độ là một kỹ nghệ mảnh (Hà Hữu Nga 1989: 41-48).

Để làm rõ mối quan hệ giữa kỹ nghệ Ngườm và văn hóa Bắc Sơn, chúng tôi đặt chúng trong mối tương quan về kỹ nghệ chế tác công cụ đá.

Trước hết về nguồn nguyên liệu và chất liệu đá. Hầu hết công cụ ở Ngườm được chế tác từ các loại đá Vitrofia - một dạng đá thủy tinh có thành phần axit, với những từ đồng nghĩa khác: Riolit - pocfia; Liparrit pocfia, đá phiến thạch anh - xerixit nhiễm quặng, đá quartzite có cấu trúc hạt mịn, độ cứng cao và dẻo. Những loại đá này rất sẵn ngay tại địa phương do con sông Thần Sa trong quá trình chuyển tải đã ùn lại thành những bãi cuội lớn bên bờ sông cách Ngườm và Miệng Hổ không xa. Đứng về nguyên liệu đá mà xét, hầu như không có sự khác biệt giữa ba tầng văn hóa ở Ngườm, nhưng chúng khác hẳn với nguồn nguyên liệu đá của văn hóa Bắc Sơn. Như chúng ta đã biết, trong nhiều địa điểm Bắc Sơn, rất phổ biến các loại công cụ chế tạo từ đá xâm nhập granit, đá phtanit... (Hà Hữu Nga 1989: 41-48). Ở di chỉ Bó Lấm, một địa điểm văn hóa Bắc Sơn điển hình, trong số công cụ ghè đẽo có tới 73,5% được chế tác từ đá cuội có nguồn gốc granit. Tại Ngườm, qua chỉnh lý sơ bộ mới chỉ có 8 di vật làm từ đá granit, trong tổng số hơn 20.000 hiện vật đá.

Qua phân tích về chất liệu của 3 bộ sưu tập văn hóa Bắc Sơn ở Hang Ốc (Thái Nguyên), Ngườm Vài (Cao Bằng), Pắc Tà (Hà Giang) cho thấy cư dân Bắc Sơn ở 3 di tích trên sử dụng 3 nhóm đá chính:

- Nhóm đá phun trào: bao gồm các chất liệu basalt, diabaz, granite, dacit và thủy tinh núi lửa. Nhóm đá này chủ yếu được sử dụng để chế tác công cụ hạch và công cụ mảnh.

- Nhóm đá biến chất- quartz: bao gồm đá quartzite, bán quartzite và quartz. Trong đó, đá quartzite và bán quartzite được sử dụng làm công cụ, còn đá quartz ở dạng các mảnh vỡ là nhiều, ít được dùng làm công cụ.

- Nhóm đá trầm tích: tuyệt đại đa số các chất liệu đá trong nhóm này được dùng để làm bàn mài, hòn mài, hòn nghiền và dấu Bắc Sơn. Thành phần chủ yếu là cát và sét, kết lại với nhau thành các loại đá cát kết, sét kết. Điểm đáng lưu ý ở đây là sự có mặt của đá trầm tích silic và đá vôi được dùng làm công cụ, nhưng cũng với tỷ lệ rất nhỏ.

Về mặt chất liệu đá có sự khác nhau giữa các nhóm Bắc Sơn ở các địa bàn khác nhau, tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu.

Mặc dù có sự khác biệt về nguyên liệu đá, nhưng kỹ nghệ Ngườm và văn hóa Bắc Sơn đều có chung một khuynh hướng, một con đường phát triển. Đó là con đường phát triển công cụ mảnh. Ở đây, chúng tôi muốn lưu ý rằng, trong các kỹ nghệ mảnh ở Đông Nam Á, Nam Trung Quốc, không bao giờ công cụ mảnh là một thành phần duy nhất mà bên cạnh chúng tồn tại cả công cụ hạch. Diện mạo cơ bản của kỹ nghệ mảnh được nhận biết bởi vai trò chủ thể của những công cụ mảnh và của những kỹ thuật chế tạo mảnh. Kỹ nghệ Ngườm và kỹ nghệ Bắc Sơn được nhận thức từ góc nhìn như vậy.

Khi lý giải những đặc trưng cơ bản của kỹ thuật và loại hình văn hóa Bắc Sơn, tác giả Hà Hữu Nga đã đặt nó trong mối tương quan với môi trường sống, với đối tượng khai thác đa dạng, tản mạn, với nguồn nguyên liệu đá chế tác công cụ trong vùng sơn khối đá vôi Bắc Sơn (Hà Hữu Nga 1991: 18). Theo chúng tôi, có một lý giải khác cũng không kém phần quan trọng khi ta đặt nó trong mối quan hệ với truyền thống mảnh trong kỹ nghệ Ngườm. Ở Ngườm, công cụ mảnh tước chiếm tỷ số trội vượt so với công cụ hạch cuội ở cả 3 tầng văn hóa.

Trong văn hóa Bắc Sơn, mảnh tước, mảnh tách bổ cuội được sử dụng như một đối tượng chủ yếu để chế tác công cụ. Từ nó người Bắc Sơn đã tạo ra những công cụ chặt, nạo, cuốc, rìu ghè đẽo hình bầu dục, thậm chí cả những chiếc rìu mài lưỡi Bắc Sơn. Chưa có số liệu thống kê từ các loại hình di vật đá khác trong văn hóa Bắc Sơn, chỉ tính riêng nhóm công cụ ghè đẽo được chế tác từ mảnh tước thì chúng cũng chiếm 67,56% trong sưu tập Bó Lấm; 58,82% ở Giuộc Giáo; 62,3% ở Hang Dơi; 62,41% ở Kéo Phầy; 30% ở Lèn Đạt (Hà Văn Tấn 1998: 170). Ở đây, chúng tôi xin cung cấp thêm những dữ liệu khác từ những chiếc rìu mài Bắc Sơn. Trong số 103 rìu Bắc Sơn ở Lèn Đạt có 54 chiếc được làm từ những mảnh tước thế thứ, 39 chiếc từ mảnh tách ban đầu, 10 chiếc từ những hòn cuội mỏng. Trong số 56 rìu mài lưỡi ở Làng Cườm tỷ lệ đó là 38/56; 15/56; 3/56. Ở Nà Cà có tỷ lệ là 9/22; 8/22; 5/22. Ở Minh Lệ có tỷ lệ là 13/32; 8/32 và 11/32. Các số liệu trên cho thấy phần lớn rìu mài lưỡi Bắc Sơn được chế tác từ mảnh tước lớn. Những chiếc rìu này thường có số đo trung bình chiều dài từ 7- 8cm; rộng từ 4-5cm; dày từ 1-2cm. Chúng ta có thể hình dung được quy trình tạo những rìu mài lưỡi của người Bắc Sơn như sau: Trước hết, người ta ghè tách cuội lấy ra những hình mảnh lớn, tiếp đó ghè tạo dáng để hình thành chiếc rìu có hai cạnh tương đối song song với nhau bằng lối ghè hai mặt. Phần đốc thường được ghè chặt, phần lưỡi có lẽ trước khi mài, người ta cũng tiến hành tạo dáng bằng lối ghè hai mặt. Quan sát những chiếc rìu Bắc Sơn, ta có cảm giác nhiều chiếc thân hơi cong. Đó chính là dấu vết mặt bụng cong ưỡn của một mảnh tước (Trình Năng Chung 1991: 16-21).

Với việc sử dụng phổ biến những mảnh tước lớn, thô làm công cụ (kích thước từ 5- 15cm), những mảnh lớn này thường được tách ra bằng kỹ thuật bổ. Người ta không chỉ bổ đôi mà còn bổ ba, bổ tư viên cuội. Trong kỹ nghệ Ngườm, kỹ thuật bổ cuội và công cụ mảnh cuội lớn đã xuất hiện, mặc dù chưa nhiều nhưng có lẽ là tiền đề cho xu hướng này phát triển mạnh trong văn hóa Bắc Sơn sau đó. Từ những mảnh cuội bổ đó, người Bắc Sơn đã tạo ra cho bộ công cụ ghè đẽo một dáng vẻ đơn sơ. Có thể nói, Bắc Sơn là một kỹ nghệ mảnh mang phong cách đồ đá lớn. Điều này khiến ta dễ hiểu vì sao các học giả Pháp trước đây tỏ ra băn khoăn khi xem xét văn hóa Bắc Sơn và văn hóa Hòa Bình là hai hay một văn hóa. Điều rõ ràng là, những người chủ trương gộp hai văn hóa trên vào làm một đã tìm thấy ở chúng một mẫu số chung lớn. Đó là những công cụ mang phong cách đồ đá lớn.

Như vậy, về kích thước công cụ, về phong cách đồ đá có sự khác nhau giữa Ngườm và Bắc Sơn. Sự khác nhau này theo chúng tôi cần phải được lý giải bằng môi trường nguyên liệu đá ở mỗi vùng. Và, đặc biệt hơn cần giải thích bằng sự khác nhau về phương thức sinh hoạt kinh tế. Tập hợp kỹ nghệ mảnh ở Ngườm phản ánh một hình thức sinh hoạt kinh tế nặng về săn bắt, hái lượm. Tập hợp kỹ nghệ Bắc Sơn phản ánh hình thức sinh hoạt kinh tế sản xuất sơ khai. Nhu cầu chặt cây phá rừng để trồng trọt đòi hỏi phải tăng cường số lượng công cụ chặt lớn. Chiếc rìu mài Bắc Sơn chắc đã ra đời trong bối cảnh như vậy.

Mặc dù khác nhau về phong cách đồ đá, nhưng nếu phân tích kỹ những công cụ mảnh tước có kích cỡ nhỏ vẫn nhận thấy có sự gần gũi.

Những công cụ mảnh tước ở Ngườm có kích cỡ nhỏ nhắn hơn với số đo trung bình từ 3- 4cm. Khi nghiên cứu so sánh loại công cụ mảnh tước có kích cỡ nhỏ ở 2 di chỉ Bắc Sơn ở tỉnh Thái Nguyên với mảnh tước Ngườm, tác giả Nguyễn Đức Thắng đã cho chúng ta biết những nét tương đồng giữa chúng. Các chỉ số trọng lượng, độ dài, rộng, dày của mảnh tước Khắc Kiệm đều lớn hơn mảnh tước Ngườm nhưng độ chênh lệch không nhiều. Các chỉ số mảnh tước của hang Con Hổ đều nhỏ hơn và gần gũi với các chỉ số mảnh tước Ngườm (Nguyễn Đức Thắng 2017: 259-260).

Về mặt loại hình, ngoài nhóm công cụ mũi nhọn mảnh tước đã khá ổn định trong dạng hình học, hầu hết các công cụ mảnh tước Ngườm đều có hình dáng không xác định. Điều này thể hiện tính phi định hình như là một đặc trưng lớn của kỹ nghệ Ngườm. Đây cũng là đặc trưng lớn của văn hóa Bắc Sơn. Phải chăng, đây cũng chính là đặc trưng chung của những kỹ nghệ mảnh ở khu vực Đông Nam Á?

 
 

Công cụ tại Mái đá Ngườm

Một logic thông thường là muốn tách mảnh tước thì phải có hạch đá. Ở di chỉ Ngườm, các nhà khảo cổ đã phát hiện gần 100 hạch đá phân bố ở các lớp văn hóa khác nhau với nhiều hình dáng, kích cỡ khác nhau (từ 5 - 12cm) và cùng chất liệu đá với công cụ mảnh. Hầu hết hạch đá ở Ngườm không mang dấu vết của sự chuẩn bị diện ghè, phần lớn những cú ghè tách mảnh được thực hiện trên bề mặt nhẵn tự nhiên của hòn cuội và những mảnh tước được tách ra không theo một hướng nhất định. Như vậy, với gần 100 hạch đá, Ngườm đã cho ta thấy một truyền thống chế tác mảnh tước từ hạch đá (Đoàn Đức Thành, Trình Năng Chung 1990: 13-14).

Trong các sưu tập Bắc Sơn mà chúng tôi tiếp xúc, số lượng hạch đá tìm thấy còn ít. Có lẽ trong quá trình thu lượm di vật, các nhà khai quật người Pháp trước đây không chú ý đến loại di vật này. Trong sưu tập Nà Cà có 10 chiếc: Đồng Lầy, 2 chếc; Minh Lệ: 1 chiếc; Kéo Phầy: 1 chiếc vv…Nhìn chung, những hạch đá này có chung những đặc điểm của hạch đá Ngườm. Nhưng, cần nhấn mạnh là, đó không phải là hạch đá tạo ra những mảnh tước cuội lớn dạng Bó Lấm. Những mảnh tước này thường có kích thước lớn và nặng. Có mảnh nặng hơn 1kg như tiêu bản Lsa.2931/53 trong sưu tập Làng Cườm.

Quan sát những mảnh tước dạng Bó Lấm, chúng tôi cho rằng chúng được tách từ những hạch đá chưa có sự chuẩn bị diện ghè. Tại hang Kim Sơn- một di tích Bắc Sơn vùng thung lũng Thần Sa, đã phát hiện một hạch cuội lớn mà trên đó để lại dấu vết âm của nhiều mảnh tước được tách ra. Hạch cuội này cũng không có dấu vết của sự chuẩn bị diện ghè.

Trong các địa điểm Hang Dơi và Bó Lấm (là những địa điểm Bắc Sơn được khai quật và nghiên cứu khá cẩn thận), chúng ta chưa tìm thấy hạch đá lớn. Có rất nhiều khả năng là người Bắc Sơn đã tiến hành khâu ghè tách mảnh ngay trên bãi cuội giống như những chủ nhân của kỹ nghệ đá gốc khai thác mảnh đá ngay trên bãi nguyên liệu đá.

Để có được những mảnh tước lớn, cư dân Bắc Sơn đã sử dụng kỹ thuật bổ một cách thành thạo. Họ không chỉ bổ đôi mà còn bổ ba, bổ tư hòn cuội lớn để lấy mảnh. Trong sưu tập Hang Dơi, hay hang Kim Sơn ta gặp rất nhiều mảnh cuội lớn có dạng múi cam và chúng gần gũi nhau về kích thước. Điều này chứng tỏ người thợ đá Bắc Sơn rất điêu luyện trong kỹ thuật bổ, chẻ mảnh tước.

Ở Ngườm, kỹ thuật bổ cuội đã xuất hiện nhưng chưa phát triển thành kỹ thuật chủ đạo. Trong cả ba tầng văn hóa có gần 300 mảnh cuội lớn, sản phẩm của kỹ thuật bổ. Phần lớn trong số này được ghè đẽo tiếp để làm công cụ. Nhưng những công cụ mảnh tước dạng Bó Lấm chiếm số lượng không lớn.

Một trong những đặc trưng nổi bật của kỹ nghệ Bắc Sơn là việc sử dụng phổ biến kỹ thuật ghè hai mặt. Hà Hữu Nga đã lý giải cho chúng ta biết, đó là hệ quả tất yếu của việc sử dụng nguyên liệu đá xấu để làm công cụ, đặc biệt là loại đá xâm nhập granit. Đây là loại đá có cấu trúc hạt thô, vỏ cuội phong hóa mạnh, lớp patin dày, cho nên việc tạo rìa lưỡi công cụ bằng cách ghè một mặt rất khó thực hiện. Vì vậy, muốn tạo được rìa lưỡi chắc chắn, người Bắc Sơn phải ghè bỏ cả phần vỏ cuội. Việc ghè bỏ phần vỏ cuội và việc tu sửa lại rìa lưỡi từ hai phía là kỹ thuật chủ đạo và hữu hiệu áp dụng cho loại chất liệu đá này (Hà Hữu Nga 1989: 41-48). Tuy là công cụ mảnh, nhưng độ mỏng và sắc của rìa lưỡi không cao. Theo quan sát của chúng tôi, kỹ thuật ghè hai mặt Bắc Sơn còn được áp dụng phổ biến để tạo những công cụ hình rìu, hoặc tạo dáng cho rìu mài lưỡi Bắc Sơn. Có thể nói, kỹ nghệ mảnh Bắc Sơn với kỹ thuật ghè hai mặt đã tạo được nhiều công cụ ghè hai mặt.

Ở kỹ nghệ Ngườm, qua nghiên cứu bước đầu, chúng tôi thấy kỹ thuật ghè đẽo một mặt đóng vai trò chủ thể. Chúng ta có thể quan sát thấy sự có mặt thường xuyên kỹ thuật này từ những công cụ mảnh tước, đến những công cụ hạch cuội.

Tuy nhiên, tại Ngườm, kỹ thuật ghè hai mặt cũng xuất hiện từ rất sớm. Tiêu bản 82.Ng Hb.T3.300 là một minh chứng khá chắc chắn. Đây là một công cụ làm từ hòn cuội với một mặt ghè đẽo hoàn toàn, mặt kia được ghè bằng nhiều nhát lớn nhưng vẫn chừa lại một phần vỏ cuội tự nhiên. Công cụ này có dáng cân đối như một chiếc rìu tay. Trong sưu tập Ngườm, chúng ta còn có thể quan sát kỹ thuật ghè hai mặt trên một số công cụ mảnh tước lớn. Dù sao, kỹ thuật này ở Ngườm cũng chưa phát triển.

Ngoài những công cụ mảnh tước dạng Bó Lấm, trong kỹ nghệ Bắc Sơn còn tồn tại một số lượng nhất định công cụ mảnh tước dạng nhỏ (kích thước từ 5-6cm trở xuống). Đây là nhóm hiện vật thể hiện đặc trưng Ngườm khá rõ. Quan sát những công cụ mảnh tước thuộc nhóm này ở Nà Cà, Bó Lấm, Lạng Nắc, chúng tôi thấy chúng có chung nhiều đặc điểm gần gũi với công cụ mảnh tước ở Ngườm, đặc biệt là kỹ thuật tu chỉnh rìa lưỡi (Trình Năng Chung, Bùi Vinh, Phạm Thị Ninh (1989: 42-45). Tại địa điểm Hang Dơi, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy một tổ hợp phong phú mảnh tước, công cụ mảnh tước cùng một vài công cụ ghè đẽo thô sơ nằm ở lớp sớm nhất, lớp này được ngăn cách với lớp chứa những di vật đặc trưng của văn hóa Bắc Sơn bằng một lớp đất mỏng vô sinh (Nguyễn Gia Đối, Bùi Vinh 1988: 15). Quan sát những mảnh tước và công cụ mảnh tước Hang Dơi, chúng tôi nhận thấy chúng rất giống những di vật cùng loại ở Ngườm từ kiểu dáng lẫn kỹ thuật chế tác. Các tác giả cuộc khai quật Hang Dơi đã nhận định, lớp dưới Hang Dơi có thể hình thành một giai đoạn phát triển trước văn hóa Bắc Sơn.

Rõ ràng địa tầng Hang Dơi đã gợi mở cho chúng ta nhiều điều lý thú về nguồn gốc văn hóa Bắc Sơn. Theo chúng tôi, lớp dưới cùng của Hang Dơi có thể tương ứng với tầng I (tầng trên) của Ngườm. Tầng này có niên đại C14 là 17.000 năm cách nay. Hiện giờ lớp trên chứa văn hóa Bắc Sơn ở Hang Dơi có niên đại C14 là 11.000 ± 200 năm cách nay. Chắc hẳn lớp dưới cùng phải có niên đại cổ hơn.

Trong tầng văn hóa III ở Ngườm, các nhà khai quật cho biết có sự hiện diện của những công cụ văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn. Khi nghiên cứu sưu tập Ngườm mới đây, chúng tôi nhận thấy ở tầng III chiếm số lượng đông đảo, nhất là những mảnh tước và công cụ mảnh tước, tiếp đến là những công cụ ghè đẽo thô sơ không định hình chế tác từ hòn cuội. Ít hơn cả là những công cụ hình hạnh nhân, hình rìu, rìu ngắn không thật điển hình. Rìu mài lưỡi Bắc Sơn chỉ có 1 chiếc (tổng cộng qua hai lần khai quật năm 1980 và 1982 có 7 chiếc rìu, trong đó 6 chiếc tìm thấy ở lớp trên mặt, 1 chiếc ở tầng III). Chưa tìm thấy “dấu Bắc Sơn” ở Ngườm.

Những trình bày trên cho thấy, giữa Ngườm và văn hóa Bắc Sơn có nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Nét tương đồng lớn bao trùm cả hai kỹ nghệ đó là việc sử dụng rộng rãi những mảnh tước cuội làm công cụ. Và một hệ quả kèm theo đó là tính phi định hình, bất ổn định được biểu hiện như là một đặc trưng lớn.

Kỹ thuật mảnh tước ở Ngườm phát triển mạnh và tiếp tục tồn tại trong đời sống cư dân thế hệ sau, sinh sống trong môi trường sơn khối đá vôi Bắc Sơn. Có thể nói, kỹ thuật tách mảnh, bổ cuội, những loại hình điển hình của văn hóa Bắc Sơn đã được manh nha từ đây. Những chủ nhân Bắc Sơn đã kế thừa được “ý tưởng kỹ thuật” của các bậc tiền bối Ngườm. Sống trong một môi trường mới, với nguồn nguyên liệu đã rất xấu và khan hiếm, người Bắc Sơn phải có cách ứng xử kỹ thuật thích hợp với tình trạng đó. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt của hai kỹ nghệ trên. Bên cạnh đó, do nhu cầu cấp thiết của nền kinh tế sản xuất sơ khởi, một cuộc cách mạng mới trong kỹ thuật đã ra đời: Kỹ thuật mài. Rìu mài lưỡi Bắc Sơn được xem như là một biểu tượng của những người làm nông sơ khai trên bán đảo Đông Dương.

Từ những dữ liệu trên chúng tôi cho rằng trong các hang động vùng sơn khối đá vôi Bắc Sơn đã tồn tại một giai đoạn phát triển trước văn hóa Bắc Sơn, và có nhiều khả năng chúng là tiền thân của văn hóa Bắc Sơn. Hiện nay, có thể coi tầng văn hóa III ở Ngườm và lớp dưới Hang Dơi là những dẫn chứng điển hình (Trình Năng Chung 1991: 20).

Các thủ pháp kỹ thuật của kỹ nghệ mảnh Ngườm hay Bắc Sơn cùng với kỹ thuật mài ngày càng được các cư dân đời sau hoàn thiện và phát triển. Điều này góp phần lý giải cho sự phát triển phong phú, phức tạp của những văn hóa thuộc giai đoạn muộn ở khu vực này.

Từ những phân tích khảo cổ học, chúng tôi cho rằng kỹ nghệ Ngườm là một trong những cội nguồn chính của văn hóa Bắc Sơn. Việc văn hóa Bắc Sơn không giữ nguyên được những bản sao của Ngườm trong một điều kiện đã có nhiều thay đổi là điều hoàn toàn hợp lý. Và Ngườm cũng không phải là một cội nguồn duy nhất của văn hóa Bắc Sơn. Gần đây, khi nghiên cứu các di tích văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn, chúng tôi cho rằng những di tích văn hóa Sơn Vi thuộc hậu kỳ Đá cũ ở vùng đồi gò vùng núi Đông Bắc cũng là một trong những cội nguồn của văn hóa Bắc Sơn. Kỹ nghệ Bắc Sơn chính là sự kết hợp chặt chẽ giữa kỹ nghệ mảnh Ngườm và kỹ nghệ cuội ghè Sơn Vi trong sự phát triển của văn hóa Tiền sử vùng núi Đông Bắc Việt Nam (Trình Năng Chung 2018).

PGS.TS. Trình Năng Chung

Ths. Chu Mạnh Quyền

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quang Văn Cậy, Trình Năng Chung, Ngô Thế Phong, Bùi Văn Tiến 1981, Thần Sa những di tích của con người thời đại đồ Đá, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Ty văn hóa và thông tin Bắc Thái.

2. Hoàng Xuân Chinh, Vũ Thế Long 1972, “Điều tra cổ sinh đệ tứ ở Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Thái”. Trong Những phát hiện mới Khảo cổ học năm 1972. Nxb. KHXH. Hà Nội. tr. 30-39.

3. Hoàng Xuân Chinh, Trần Ngọc 1972, “Điều tra khảo cổ học Võ Nhai (Bắc Thái)”. Trong Những phát hiện mới Khảo cổ học năm 1972. Nxb KHXH, Hà Nội, tr.30

4. Trình Năng Chung 1991, “Kỹ nghệ Ngườm và văn hoá Bắc Sơn”, Khảo cổ học, số 2, tr. 16-21.

5. Trình Năng Chung (Chủ biên) 2018, Nghiên cứu các di tích văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn ở vùng núi Đông Bắc Việt Nam qua tư liệu Khảo cổ học từ năm 2000 đến nay. Đề tài Khoa học cấp Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam, 2017-2018.

6. Nguyễn Gia Đối, Bùi Vinh 1988, “Hang Dơi, suy nghĩ thêm về văn hóa Bắc Sơn”, Khảo cổ học, số 1- 2, tr. 12 - 19.

7. Hà Hữu Nga 1989, “Các mối tương quan ngoại hình và kỹ thuật trong nhóm công cụ ghè đẽo Hòa Bình - Bắc Sơn”, Khảo cổ học, số 1, tr. 41 - 48.

8. Hà Hữu Nga 1991, “Toàn cảnh văn hóa Bắc Sơn”, Khảo cổ học, số 2, tr. 22 - 34.

9. Ngô Thế Phong 1984, “Dấu vết văn hóa Hòa Bình ở Đông Nam Á”, Khảo cổ học, số 1-2, tr. 16-26.

10. Hà Văn Tấn 1969. “Văn hóa Bắc Sơn với một truyền thống, một bình tuyến”, Trong Những hiện vật tàng trữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam về văn hóa Bắc Sơn, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, tr. 198 - 207.

11. Hà Văn Tấn (chủ biên) 1998, Khảo cổ học Việt Nam. Tập I, Thời đại Đá. Nxb. KHXH , Hà Nội.

12. Nguyễn Đức Thắng 2017, Các di tích thời đại đá ở Thái Nguyên. Nxb. Đại học Thái Nguyên.

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Bài viết khác

Tương tác, trải nghiệm trong trưng bày bảo tàng và thu hút khách tham quan

Tương tác, trải nghiệm trong trưng bày bảo tàng và thu hút khách tham quan

  • 07/08/2019 13:48
  • 202

Những năm gần đây, sự phát triển của hệ thống bảo tàng trên thế giới đã ngày càng góp phần khẳng định bảo tàng là công cụ đắc lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Bởi "Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt động thường xuyên, mở cửa đón công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội. Bảo tàng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, thông tin và trưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con người và môi trường của con người với mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức”. (Theo định nghĩa của ICOM được thông qua kỳ họp thứ 20 tại Seoul, Hàn Quốc, 2004). Với mục đích đáp ứng tốt nhất nhu cầu thưởng thức của công chúng, các bảo tàng cần đổi mới trên mọi lĩnh vực từ nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, giáo dục... đặc biệt là trong trưng bày bảo tàng và thu hút khách tham quan.