Thứ Ba, 15/10/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

05/06/2019 09:22 303
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
2.Bối cảnh Đương đại và Tài nguyên Di sản

2.1. Biến đổi Xã hội với Di sản

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đầy thách thức đối với các nước đang phát triển trong vấn đề phát triển kinh tế bên cạnh việc bảo tồn văn hóa truyền thống, di sản văn hóa của dân tộc. Trong mối quan hệ đa chiều về văn hóa ngày càng mạnh mẽ giữa các quốc gia, di sản văn hóa Việt Nam chịu nhiều tác động cả bên trong lẫn bên ngoài.

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, trước hết, giúp tăng cơ hội tiếp cận, trao đổi, giao lưu và làm giàu vốn hiểu biết sâu rộng về các nguồn tài nguyên văn hóa, tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, mỗi khu vực,. Thêm vào đó, sự nổi lên của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 khiến cho việc tìm hiểu, đánh giá về tài nguyên di sản của các quốc gia vượt qua những ranh giới địa lý với nhiều loại hình và cách tiếp cận thông tin sống động và đa dạng.

Những quá trình trên đồng thời làm nảy sinh các thách thức nhất định trong việc duy trì bản sắc quốc gia, dân tộc trước những nguy cơ tiềm tàng của việc du nhập và lai căng văn hóa cũng như khai thác vượt quá ngưỡng chịu đựng các nguồn tài nguyên văn hoá và thiên nhiên từ các hoạt động du lịch, phát triển kinh tế không bền vững. Sản xuất nông nghiệp kiểu thâm canh và sản xuất hàng hóa nông nghiệp, chuyển đổi mô hình nhà ở nông thôn gây biến hình phong cảnh cùng với đô thị hoá bùng nổ kéo theo, di cư tăng nhanh và sự phân phối không đồng đều các nguồn lực tạo nên áp lực ngày càng tăng của xã hội dân sự đối với di sản[1]. Bài học từ Bali (Indonesia) là một dẫn chứng cụ thể và là lời cảnh báo về sự biến mất gần như hoàn toàn văn hóa bản địa nếu phát triển du lịch không kiểm soát; hay vấn đề Di sản văn hóa thế giới Cố đô Authaya (Thái Lan) đang phải đối mặt trong bối cảnh du lịch tấn công và làm biến đổi các giá trị căn bản của di tích khiến chính phủ Thái Lan buộc phải lựa chọn giữa bảo tồn di sản văn hóa hay phát triển kinh tế… Vịnh Hạ Long (Việt Nam) cũng đã nhiều lần đứng trước nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát theo tiêu chí và tiêu chuẩn của Công ước Bảo tồn Di sản thế giới bởi các hạng mục kinh tế và du lịch phát triển ồ ạt làm thay đổi cảnh quan và môi trường nghiêm trọng ở Hạ Long… Điều này đòi hỏi những định hướng, giải pháp trong việc quản lý và khai thác giá trị di sản văn hóa ở mỗi địa phương. Quan trọng hơn cả là cần nhận biết được giá trị di sản, xác định được vai trò của di sản trong đời sống đương đại và có ứng xử phù hợp với nó.

Tại hội nghị của ICOMOS Dublin 2010, bốn vấn đề lớn về quan hệ giữa di sản với biến đổi xã hội hiện nay đã được đặt ra, đó là i. Di sản của những cộng đồng đang biến đổi, đang phát triển; ii. Di cư, di dân và di sản bản địa; iii. Di sản tôn giáo; iv. Các tác động xã hội của biến đổi khí hậu toàn cầu. ″Khi các cộng đồng trên thế giới nhận ra tầm quan trọng của di sản văn hoá, những phân tích cho thấy một số kết quả bất ngờ, gồm sự xuất hiện của các tiêu chí mới về di sản, sự hội tụ ngày càng tăng giữa di sản phi vật thể và phi vật thể, và nhu cầu ngày càng lớn đối với các chuyên gia bảo tồn truyền thống để chia sẻ thẩm quyền ra quyết định với những cá nhân và nhóm có mối quan hệ chặt chẽ với một địa điểm di sản cụ thể. Các nhiệm vụ bảo tồn còn phức tạp hơn do các hiện tượng toàn cầu hoá về văn hoá và kinh tế, đô thị hoá bùng nổ, các đợt di cư và sự phân phối không đồng đều các nguồn lực cùng với ảnh hưởng ngày càng tăng của xã hội dân sự đối với di sản″[2].

Những thay đổi trong quan điểm về di sản mà trong đó đặc biệt là mối liên quan giữa di sản với những thay đổi về môi trường, xã hội và chính trị cả mặt tích cực và cả mặt hạn chế dẫn đến những thay đổi trong cách thức bảo tồn và phát huy giá trị và nhu cầu cấp thiết của nghiên cứu liên ngành tìm ra những giá trị cốt lõi và những biến đổi mang tính thời đại để đưa ra chính sách và công cụ thực hành thích hợp đối với di sản trong thế kỷ 21.

2.2. Tài nguyên Di sản Việt Nam trong bối cảnh xã hội đương đại:

Đối với Việt Nam, nguồn tài nguyên di sản đang đứng trước những thách thức lớn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cơ chế thị trường. Quá trình đổi mới đất nước, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cơ chế thị trường, toàn cầu hoá, biến đổi khí hậu tác động ngày càng mạnh mẽ đến các di sản văn hoá, đặt di sản văn hoá đứng trước những thử thách khốc liệt. Điều đó thể hiện qua sự xuống cấp của nhiều di sản văn hoá vật thể; Nhiều di sản phi vật thể bị mai một lãng quên trong khi nhiều loại hình nghệ thuật mới được du nhập vào nước ta, thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm của công chúng, nhất là giới trẻ; Không gian cảnh quan kiến trúc di sản bị xâm hại do những yếu kém, tồn tại cố hữu trong quá trình trùng tu, tôn tạo di tích; Việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên di sản thiên nhiên trong khi chưa quan tâm đầy đủ đến tính hài hòa và bền vững về mặt môi trường và xã hội. Những điều này đã và đang đặt ra các thách thức cho việc phát triển các nguồn tài nguyên di sản một cách bền vững, đặc biệt là trong công tác quản lí, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản Việt Nam - quốc gia có đa dạng các nguồn tài nguyên di sản từ vật thể, phi vật thể và tự nhiên.

 

Các liền anh, liện chị Bắc Ninh tái hiện lại tiết mục kết bạn trong Dân ca Quan họ Bắc Ninh – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (Ảnh Internet)

Có thể khái quát về những huỷ hoại của từng loại hình di sản trên những mặt sau:

Đối với di sản vật thể: Xuống cấp, huỷ hoại hoàn toàn hay từng phần do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân khách quan khí hậu, môi trường thời tiết khắc nghiệt, khó lường, chiến tranh, xung đột tôn giáo, tín ngưỡng, đứt gãy truyền thống do những quan điểm sai lầm của một giai đoạn lịch sử, nhiều công trình tôn giáo bị phá huỷ một cách cố ý. Hiện nay mức độ huỷ hoại nhanh hơn do chưa có quy hoạch đồng bộ giữa cái cần bảo tồn với xây dựng mới. Môi trường thiên nhiên truyền thống của một số khu di sản bị biến dạng, Nhiều không gian hoạt động tại di sản văn hóa, không gian lễ hội bị phá vỡ, hoặc thu hẹp lại (đình, chùa bị phá hoại trong chiến tranh, các con đường hành lễ, các địa điểm sinh hoạt lễ hội, không gian văn hóa bị chia cắt do việc xây dựng mở mang các đô thị, khu công nghiệp…). Bên cạnh đó, bảo tồn không đúng cách dẫn đến làm mới di tích, hiện tượng hoành tráng hoá di tích làm mất di tích... Quan điểm bảo tồn trái ngược nhau, kinh phí bảo tồn ít và chi tiêu chưa hợp lý, thất thoát, lãng phí và có cả những trường hợp tham những... Chưa có đội ngũ làm công tác trùng tu chuyên nghiêp và đồng bộ.

Đối với di sản phi vật thể: Nhiều di sản đang bị mai một, thất truyền, xu hướng bị pha tạp gia tăng, nghệ nhân dân gian giữ bí quyết và truyền bá văn hóa dân tộc cũng chưa được đề cao và tạo điều kiện phát huy một cách đúng mức, đặc thù của di sản văn hóa phi vật thể là tồn tại trong trí nhớ, được lưu truyền chủ yếu bằng con đường truyền miệng và biến đổi rất nhanh. Đối với di sản phi vật thể, những biến đổi thường nhanh hơn, mạnh hơn nhưng lại rất khó nhận biết cả bằng cách định tính và định lượng[3]. Chủ thể của di sản có nhiều thay đổi do di dân, do đô thị hoá và công nghiệp hoá... dẫn đến mối tương tác và tình yêu và trách nhiệm đối với di sản suy giảm, nhiều tri thức bản địa biến mất hoàn toàn.

Đối với di sản thiên nhiên: Tác động của gia tăng dân số, của khai thác vô tội vạ môi trường tự nhiên, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học và đặc biệt là chưa có nghiên cứu đánh giá một cách khoa học về tác động của biến đổi môi trường tự nhiên đến các di sản thiên nhiên để từ đó có những sách lược ứng phó phù hợp và khả thi.

Trong bối cảnh hiện nay của Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá, Đô thị hoá, Toàn cầu hoá và Biến đổi Khí hậu thì những thách thức chính đối với bảo tồn và phát huy giá trị Di sản có thể liệt kê như sau:

1.Xung đột lợi ích, trước hết là xung đột lợi ích trong cách đánh giá giá trị của di sản. Di sản đang tồn tại trong một xã hội có rất nhiều xung đột lợi ích diễn ra. Những lợi ích này nhiều khi trái ngược nhau đến mức một bên lựa chọn di sản thì bên kia lựa chọn loại bỏ di sản (được biện minh bằng thuật ngữ phát triển). Có thể thấy để xây dựng và phát triển, nhiều tập đoàn kinh tế lớn, nhỏ cả của tư nhân, cả của nhà nước, trong nước và nước ngoài đã bất chấp Luật Di sản hiện hành và Công ước Quốc tế, xây dựng những công trình mới mà không có bất cứ khảo sát điều tra nào. Bằng cách đó di sản vật thể biến mất, môi trường di sản biến mất, di sản phi vật thể hoặc bị biến dạng hoặc cũng dần bị triệt tiêu. Xung đột không chỉ giữa kinh tế với văn hoá, mà xung đột còn hiện hữu giữa cộng đồng chủ thể của di sản với các nhà quản lý, với các nhà nghiên cứu.... Có một nghịch lý càng ngày càng có nhiều những khu đô thị, thương mại lớn do các tập đoàn lớn như Vin Group, FLC, Sun Group... xây dựng nhưng ngày càng ít những khu vực được khảo sát khai quật khảo cổ học thực thi luật Di sản trước khi xây dựng. Đây là thực trạng chung không chỉ ở Việt Nam mà phổ biến ở các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển. Sự bành trướng của các tập đoàn kinh tế giàu có, sức cám giỗ của các dự án bất động sản hứa hẹn những món lợi nhuận khổng lồ khiến nhiều địa phương bất chấp các giá trị văn hóa và tài nguyên cảnh quan thiên nhiên cần được bảo tồn, giữ gìn tính nguyên vẹn. Xung đột lợi ích trong mỗi cộng đồng cư dân ở ngay trong di sản thế giới hay quốc gia cũng đặt ra rất nhiều thách thức, việc di chuyển dân cư cũng như hình thành những cụm dân cư mới và sự thay đổi không gian sinh sống của các tộc người, các nhóm người đã có tác động không nhỏ đế biến đổi những di sản phi vật thể. Ngay như ở Hội An, nơi được coi là điển hình tiên tiến của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản thì những thay đổi về khía cạnh phi vật thể thực sự đáng để chúng ta quan tâm giải quyết... Xung đột giữa ba nhóm người nghiên cứu di sản- người quản lý - và người thụ hưởng tức cộng đồng ngày càng gia tăng phản ánh qua ví dụ đòi trả lại danh hiệu như ở Đường Lâm...

2.Triết lý về bảo tồn không nhất quán, đặc biệt là sự tranh cãi về tính chân thực của di sản. Với khái niệm này, một số học giả quốc tế, đặc biệt ở các nước nói tiếng Anh, như Herbert, Tunbridge và Ashworth, Hitchcock,… không cho rằng tính chân thực của di sản, trong đó có những di sản văn hóa phi vật thể, lại quá quan trọng trong việc quản lý và phát huy di sản trong khi đối với nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam khái niệm chân thực và khái niệm gốc còn được hiểu một cách cứng nhắc. Sự không nhất quán này dẫn đến những quan điểm trái ngược trong bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị di sản. Mặc dù coi văn hoá là động lực phát triển xã hội nhưng do sự không nhất quán trong triết lý bảo tồn, không chấp nhận giá trị kinh tế của di sản, không nhận thức được về các mục đích đa dạng của phát huy giá trị di sản và chỉ nhìn nhận di sản ở góc nhìn văn hóa dẫn đến những sai lầm trong cách thức quản lý và phát huy di sản.

3.Thiếu hụt kinh phí, bảo tồn trùng tu và phát huy di sản hầu như chỉ dựa vào ngân sách nhà nước, kinh phí ít và nhiều trường hợp không được sử dụng một cách hiệu quả. Công tác xã hội hoá phụ thuộc vào lợi ích của các tập đoàn kinh tế, của các nhóm tổ chức xã hội vì thế xảy ra hiện tượng ″nước chảy chỗ trũng″, bên cạnh đó khi đã nhận kinh phí xã hội hoá thì thường sẽ phải đáp ứng những yêu cầu của người cấp tiền và những yêu cầu đó không phải lúc nào cũng đúng Luật Di sản, cũng phù hợp với các tiêu chí khoa học.

4.Mặc dù quá trình toàn cầu hoá có những tác động tích cực đối với làm giàu giá trị văn hoá, làm phong phú thêm loại hình và tính chất của di sản và kích thích sự phát triển các hoạt động bảo tồn di sản như một nhu cầu gìn giữ quá khứ ngày một lớn, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế lẫn tăng cường hình ảnh văn hóa quốc gia nhưng trên thực tế, do chưa có những chiến lược tổng thể và dài hơi về đề kháng văn hoá nên chưa chắt lọc được những cái hay từ bên ngoài và gạt bớt những cái dở. Tại những di sản mang danh hiệu Di sản Thế giới, tác động của Toàn cầu hóa mạnh hơn và tạo ra nhiều thách thức hơn. Môi trường phát huy di sản thay đổi do cần có nhiều phương thức thu hút du khách, thực hành di sản kiểu của khách du lịch, sân khấu hóa, thương mại hóa… dẫn đến di sản dễ bị biến dạng, biến đổi.

5.Nhà nước có nhiều chính sách và giải pháp tháo gỡ những bất cập và khó khăn trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị tài nguyên di sản, tuy vậy trong một số trường hợp, sự can thiệp của chính quyền và sự thụ động của cộng đồng địa phương đã dẫn đến di sản bị tách ra khỏi cộng đồng và biến thành xa lạ, cộng đồng nghiễm nhiên coi những công việc liên quan đến di sản là việc của nhà nước, của chính quyền. Hiện tượng di sản hóa di sản, hội chứng “Di sản Thế giới”  cũng dẫn đến sự biến dạng tính chất của di sản.

6.Cũng như vậy đối với tác động của biến đổi khí hậu, mặc dù nhận thức của chúng ta rất rõ ràng rằng Việt Nam là một trong những nước chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu nhưng những chiến lược và chính sách đưa ra mới chỉ chú ý đến khía cạnh kinh tế, chưa thực sự chú ý đến xây dựng kế hoạch và chiến lược từ góc độ văn hoá đối phó với biến đổi khí hậu, toàn cầu hoá ...[4].

7.Đội ngũ người làm di sản từ nghiên cứu đến quản lý đến thực hành vẫn được đào tạo theo các chương trình đơn lẻ, nội dung chương trình đào tạo ít đổi mới, câp nhật những vấn đề hiện nay và cách xử lý vấn đề. Trong tất cả các bài viết, các nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực di sản, chương trình đào tạo, cách thức đào tạo, quan điểm đào tạo... đều được đánh giá là chưa đáp ứng nhu cầu thực tế hiện nay. Nguồn nhân lực vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chuyên môn và đặc biệt là tầm nhìn đơn ngành, những kiến thức được đào tạo chưa đủ để người thực hành di sản có những cách ứng xử thích hợp trong những hoàn cảnh biến đổi cụ thể. Đó cũng là lý do mà chính sách, chiến lược di sản không được triển khai một cách đầy đủ và đúng hướng.

8.Công tác nghiên cứu đánh giá và thu thập thông tin chưa thực sự đi vào thực chất, còn nặng về giấy tờ, thủ tục... Chưa có những tiếp cận liên ngành đồng bộ trong đánh giá giá trị tài nguyên di sản để đưa ra những phương thức bảo tồn và phát huy giá trị phù hợp và khoa học.

Trước tác động bối cảnh đương đại toàn cầu hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa, biến đổi khí hậu, gia tăng xung đột… đối với các tài nguyên di sản, nhu cầu về nghiên cứu liên ngành và chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị bền vững các tài nguyên di sản này ngày bức thiết. Do đó, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và gìn giữ bản sắc văn hóa là vấn đề mang tính toàn cầu, được quan tâm ở hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới. Việt Nam có thể học hỏi những bài học kinh nghiệm của các quốc gia để chọn lựa cách đi và hướng đi phù hợp.

Tất cả các nguồn tài nguyên di sản đều rất nhạy cảm trước/trong những hoàn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế… đặc biệt. Việc khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên và văn hóa có thể khác nhau ở cách thức, công nghệ, mức độ… nhưng đều giống nhau, đặc biệt ở chỗ, nếu không có môi trường phù hợp sẽ dẫn đến hoang hóa, cạn kiệt. Tài nguyên văn hóa và thiên nhiên không phải “nồi cơm Thạch Sanh” để chỉ khai thác mà không tái tạo và sáng tạo những giá trị mới[5]. Để di sản tài nguyên phát huy trong phát triển bền vững trước hết cần nghiên cứu đánh giá trữ lượng, tìm hiểu những nhân tố tác động tới hiện trạng và tương lai của những tài nguyên từ cả góc độ khách quan và chủ quan, qua đó xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy, đồng thuận nhiều mặt giữa bộ ba: đào tạo/nghiên cứu – quản lý- bảo tồn phát huy. 

Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội 2011 - 2020, Đảng ta nhấn mạnh: trong quá trình phát triển kinh tế xã hội phải coi trọng bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc. Tài nguyên di sản trong bối cảnh xã hội đương đại sẽ trở nên vô tận và liên tục tái tạo nếu có những chiến lược thích hợp và nhiệm vụ của những người nghiên cứu, những người quản lý và cộng đồng là chung tay vì một xã hội “đa văn hóa” để tiến tới xã hội ‘sẻ chia văn hóa”.

Lâm Thị Mỹ Dung, Chu Lâm Anh

(Trường ĐHKHXHNV, ĐHQG Hà Nội)

                                                         Nguyễn Anh Thư  (Đại học Văn hoá Hà Nội)

 

Tài liệu tham khảo:

Chu Lâm Anh (2017), Tác động của danh hiệu Di sản Văn hóa Thế giới đến bảo tồn và phát huy giá trị Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Khóa luận Tốt nghiệp ngành Việt Nam học, Đại học Thăng Long, Hà Nội.

Đặng Văn Bài (2017), Ρhát triển bền vững hay phát triển cân đối/ hài hoà từ góc nhìn di sản văn hoá, in trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học ″Di sản văn hoá với Chiến lược phát triển bền vững″ do Bộ VHTTDL và Hội đồng Di sản Văn hoá Quốc gia tổ chức tháng 3.2017 tại Hà Nội

Donovan D. Rypkema (2015), Bảo tồn di sản là cơ hội phát triển kinh tế, https://dothivietnam.org/2015/07/03/bao-ton-di-san-la-phat-trien-kinh-te/ truy cập ngày 4.10.2018.

ICOMOS (2010), Changing World, View of Heritage: Heritage and social change, Proceedings of the ICOMOS Scientific Symposium, Dublin, Ireland.

JeanPhilippe Rousse (2016), Những ngày Di sản châu Âu, DI SẢN VÀ DU LỊCH Bảo tồn di sản đồng hành cùng phát triển kinh tế, tọa đàm ngày 27/04/2016, Sở Quy hoạch – Kiến trúc Tp. Hồ Chí Minh.

Lâm Thị Mỹ Dung (2015), Tài nguyên Văn hóa – nguồn tài nguyên không vô tận, không tái tạo? (Một vài suy nghĩ về quản lý/phát huy giá trị tài nguyên Champa ở Khánh Hòa), in trong Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam “Bảo tồn và Phát huy giá trị di sản Lịch sử-Văn hóa phục vụ phát triển Du lịch” Nxb STQG, Hà Nội, tr. 148-162.

Luật di sản văn hoá và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá năm 2009 (2017), https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Luat-di-san-van-hoa-2009-sua-doi-32-2009-QH12-90620.aspx

Nghị quyết 03/NQ-TW Hội nghị lần thứ Năm, BCH TW Đảng khoá VIII

Nguyễn Quốc Hùng (2007), Tác động của thay đổi khí hậu đối với di sản văn hoá và thiên nhiên – những vấn đề đặt ra, tạp chí Di sản Văn hoá số 4 (21), tr. 21-27.

Nguyễn Văn Tuấn (2015), Du lịch Việt Nam hành trình 55 năm thành lập và phát triển, Tạp chí Du lịch của Tổng cục Du lịch, số 7/2015, tr.6-7.

Rizzo và Mignosa cb (2013), Hanbook on the economics of cultural heritage, Edward Elgar Ρublishing.

Shinji Yamashita (2010), Cultural Heritage in the Age of Globalization: A Pespective from the Anthropology of Cultural Resource, in trong Working Papers “Cultural Resource Studies Asian Linkage Building Seminar 2010”, Kanazawa University, Japan, tr. 7.

Tổng cục Du lịch (2015), Bảo tồn và phát huy giá trị di sản phục vụ chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 20130, in trong Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam “Bảo tồn và Phát huy giá trị di sản Lịch sử-Văn hóa phục vụ phát triển Du lịch” Nxb STQG, Hà Nội, trang 23.

Vũ Minh Giang (2017), Bảo tồn và Ρhát huy giá trị di sản văn hoá trong chiến lược phát triển bền vững: Những vấn đề đặt ra, in trong in trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học ″Di sản văn hoá với Chiến lược phát triển bền vững″ do Bộ VHTTDL và Hội đồng Di sản Văn hoá Quốc gia tổ chức tháng 3.2017 tại Hà Nội. 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ: