Thứ Sáu, 18/10/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

12/12/2018 09:38 1535
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
"All Roads Lead to Archaeology | Interdisciplinary Crossroads" [1] (Mọi ngả đường đều dẫn đến Khảo cổ học / Giao lộ Liên ngành)

"All Roads Lead to Archaeology | Interdisciplinary Crossroads"  [1]

(Mọi ngả đường đều dẫn đến Khảo cổ học / Giao lộ Liên ngành)

Hội thảo khoa học “Sử học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu: Những vấn đề lý luận và phương pháp tiếp cận”, Hà Nội ngày 4/3/2011

3.Liên ngành trong nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam

Việt Nam là một đất nước phát triển muộn về khảo cổ học, khoa học khảo cổ ở nước ta được hình thành từ thời Pháp thuộc với ảnh hưởng mạnh của trường phái Khảo cổ học Lịch sử-Văn hóa mà đặc biệt là Truyền bá luận, từ sau năm 1954, nền khảo cổ học Việt Nam chịu ảnh hưởng của khảo cổ học Xô Viết, tuy nhiên điểm khác biệt căn bản giữa khảo cổ học Việt Nam và khảo cổ học Xô Viết đó là khảo cổ học nước ta không có truyền thống và việc tiếp cận khảo cổ học lý thuyết vẫn còn mang nặng tính hình thức.

Phương pháp và tri thức liên ngành, đa ngành được ứng dụng trong nhiều công đoạn nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam và dẫu gặp nhiều khó khăn nhưng nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam đạt được nhiều thành tựu do “kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, có kế thừa và có phát triển”[2]...

Liên ngành trong khảo cổ học Việt Nam: thành quả thực tế và những yêu cầu phát triển

Áp dụng các phương pháp khoa học kỹ thuật và tự nhiên và liên ngành khác trong khai quật và xử lý di tích, di vật khảo cổ ngoài hiện trường: Để áp dụng được những tiếp cận và lý thuyết của khảo cổ học hiện đại vào Việt Nam, cần đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào công tác thám sát, khai quật, thu thập, lưu trữ các dữ liệu khảo cổ học. Hệ thống dữ liệu đầy đủ và đáng tin cậy mới có thể cung cấp thông tin khoa học khái quát và khách quan cho các suy luận và diễn giải khảo cổ học. Đối với khảo cổ học hiện đại nghiên cứu quá trình thành tạo và hủy hoại của di tích được xem là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác khai quật. Để đánh giá các yếu tố tác động có thể ứng dụng các phương pháp khoa học tự nhiên như phương pháp địa chất, bao gồm tìm hiểu địa tầng kiến tạo và sinh khoáng, địa mạo, trầm tích…tiềm năng và hiệu quả của phương pháp địa chất rất lớn nhưng sự liên kết giữa các nhà khảo cổ, địa chất… chưa thực sự hệ thống và nhiều khi chưa chủ động từ góc độ khảo cổ học. Những phương pháp cổ sinh có vai trò quyết định trong việc nghiên cứu môi trường sinh thái và tương tác con người – môi trường thông qua di tích, di vật (cả hiện vật nhân tác và cả hiện vật nhiên tác). Đối với việc ứng dụng những phương pháp này khảo cổ học Việt Nam đang gặp ít nhất ba khó khăn lớn về phương tiện kỹ thuật phân tích, kinh phí phân tích và đặc biệt chuyên gia phân tích. Cả ba mặt này đều vừa yếu, vừa thiếu. Do đó những thông tin về cổ sinh chưa được khai thác triệt để trong diễn giải các vấn đề về kinh tế văn hóa của các xã hội cổ xưa. Đối với công tác khai quật, tại những công trường lớn - những di tích khảo cổ có tầm quan trọng đặc biệt và có sự hợp tác với nước ngoài như Hoàng Thành, Đình Tràng, Thành Dền, Bạch Đằng…một số kỹ thuật khai quật hiện đại đã bắt đầu được đưa vào ứng dụng, tuy vậy cũng chưa khai thác được tối đa hiệu quả.

Áp dụng các phương pháp khoa học kỹ thuật và tự nhiên trong điều tra khảo cổ học: Hiện nay có rất nhiều kỹ thuật mới đòi hỏi thiết bị đắt tiền và người sử dụng phải được đào tạo về kỹ năng và kỹ thuật khảo cổ học như thiết bị kỹ thuật điều tra, thám sát các công trình ngầm hoặc bị vùi lấp dưới đất bằng phương pháp đo điện từ, từ trường, phản ứng điện cực hoặc siêu âm. Những máy tính cá nhân cùng những phần mềm chuyên dụng đã hỗ trợ rất nhiều cho công việc này, giúp các nhà khảo cổ phác họa cấu trúc, sơ đồ bố trí các công trình ngầm cũng như thể hiện độ sâu dưới mặt đất của các công trình. Đối với những công trình kiến trúc đóng kín hay các hầm mộ lớn (kim tự tháp, lăng mộ, các mộ quách…) có thể sử dụng các robot tinh xảo cùng những camera cực nhỏ để thám sát bên trong chúng mà không làm hỏng cấu trúc của di tích. Nhiều thiết bị lặn và các camera đặc biệt giúp nghiên cứu khảo cổ học dưới nước (tìm, dò, thám sát, trục vớt hiện vật khảo cổ trong các con tàu bị đắm thời cổ, các đô thị bị ngập chìm…)... Ở Việt Nam các nhà khảo cổ học thường sử dụng ảnh viễn thám, ảnh vệ tinh… để khoanh vùng và nghiên cứu những yếu tố địa hình, địa mạo, tự nhiên có tác động đến sự hình thành và phá hủy của di tích, mối quan hệ của di tích với ngoại cảnh. Hiệu quả của ứng dụng này được đánh giá cao và rất hữu ích đặc biệt đối với các công trình thành cổ, đô thị cổ, nhưng do chưa có kinh phí tổ chức chụp ảnh viễn thám hay máy bay dành riêng cho mục đích này cũng như trả tiền mua quyền sử dụng bản đồ vệ tinh chuyên nghiệp nên mức độ tiếp cận còn rất hạn chế. Những ứng dụng của các phương pháp đo từ trường, điện từ để xác định mức độ bảo tồn và quy mô, mật độ phân bố di tích, di vật khảo cổ gần như chỉ khoanh lại trong các chương trình, dự án nghiên cứu phối hợp với nước ngoài. Nguyên nhân không chỉ là do “khó khăn trong đầu tư thiết bị thăm dò này thường rất đắt, việc phổ cập các kiến thức về các phương pháp khoa học tự nhiên chưa được chú ý nhiều và việc đào bới các di tích chưa được cân nhắc và quản lý một cách chặt chẽ”[3] mà còn ở sức ì của quan điểm và sự rời rạc trong quan hệ giữa các ngành khoa học ở Việt Nam.

Ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong xử lý, phân tích và diễn giải di vật, di tích: Đây được xem là một trong những ứng dụng liên ngành rộng và mạnh trong khảo cổ học Việt Nam. Rất nhiều những phương pháp và thành tựu của khoa học tự nhiên, công nghệ tin học, kỹ thuật… được ứng dụng trong các công đoạn phân tích và bảo quản di vật sau khai quật, đặc biệt những phân tích chất liệu hiện vật để truy tìm nguồn gốc nguyên liệu, tổ chức sản xuất và trao đổi sản phẩm… [4]. Hạn chế lớn nhất của những ứng dụng này không phải chỉ là “chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà gửi mẫu và người phân tích nên chưa phát huy được hiệu quả sử dụng của các phương pháp trong các phân tích mẫu khảo cổ…và số liệu phân tích từ các phòng thí nghiệm khác nhau chưa được nghiên cứu đối sánh liên kết”[5] mà chủ yếu là nhiều người làm khảo cổ không biết đọc/ giải mã và dùng số liệu phân tích để diễn giải khảo cổ và do mẫu gửi phân tích còn rất hạn chế về số lượng và không hệ thống nên chưa có những bộ số liệu chuẩn cho từng giai đoạn, từng văn hóa dùng làm dữ liệu so sánh dẫn đến hiện tượng số liệu phân tích chỉ mang tính hình thức.

1.Những chuyên ngành khảo cổ học khác nhau có những phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận chuyên biệt đòi hỏi sự tham gia của chuyên gia từ nhiều ngành khoa học và trang thiết bị hiện đại, đắt tiền (ví dụ những trang thiết bị cho những trung tâm và phòng thí nghiệm C14, AMS, Bào tử phấn hoa...)... ở Việt Nam hầu như không có những phòng thí nghiệm và phân tích như vậy. Ngoài một vài chuyên gia cổ nhân, cổ sinh làm việc tại Viện Khảo cổ học với một ít trang thiết bị tối thiểu, các chuyên ngành khảo cổ học khác ở Việt Nam thậm chí mới chỉ được biết qua sách vở và mới chỉ được áp dụng phần nào trong các dự án nghiên cứu hợp tác với nước ngoài. Đó là lý do tại sao, nhiều phương pháp nghiên cứu không thể áp dụng được trong thực tiễn[6].

Như vậy, để có thể đẩy mạnh liên ngành, khảo cổ học Việt Nam phải giải quyết một số vấn đề cơ bản:

1.Nâng cao kỹ năng và nhận thức;

2.Đào tạo nhân lực cao và Trang bị thiết bị máy móc, cơ sở phòng thí nghiệm. Do vậy cần xây dựng TT nghiên cứu KCH chuyên và lien ngành: NC riêng và Hỗ trợ NC như KCH kỹ thuật, KCH Môi trường, KCH dưới nước, KCH đô thị, KCH nông nghiệp….[7]

Về đào tạo

Nhận thức tầm quan trọng của giảng dạy lý thuyết và phương pháp

Xây dựng các chuyên đề, các sinh hoạt ngoại khóa

Xây dựng hệ thống tài liệu digital, cung cấp tài liệu khảo cổ và văn hóa trên trang web.http://www.baotangnhanhoc.org và liên kết với các trang web về khảo cổ trong nước và nước ngoài.

Phát huy vai trò của cơ sở nghiên cứu Bảo tàng Nhân học trong đào tạo nghiên cứu liên ngành trong Khảo cổ học và các ngành khoa học Lịch sử, Nhân học…Liên kết đào tạo với viện nghiên cứu, bảo tàng. Tăng cường gửi cán bộ đi đào tạo sau đại học ở nước ngoài hay tổ chức hợp tác đào tạo lý thuyết và thực hành[8].

Trở ngại: Hiện nay giờ chuyên đề giảm, học liệu thiếu, ngoại ngữ kém và người dạy không đủ trình độ, liên kết đào tạo và nghiên cứu còn rời rạc, thời vụ. Kiến thức học được khó áp dụng vào thực tế…[9]

4.Kết lại

Mọi nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn hiện nay đều theo xu hướng đa/liên ngành, tuy nhiên nếu so sánh với một số ngành khoa học lịch sử và nhân học khác khảo cổ học – từ đối tượng đến mục tiêu nghiên cứu của mình thì nhu cầu và sự cần thiết của việc phải sử dụng các tri thức và phương pháp liên ngành xã hội nhân văn,kỹ thuật, tự nhiên, công nghệ cấp thiết và ở mức độ cao hơn rất nhiều. “khảo cổ học là ngành khoa học cần và không ngừng có sự cập nhật với các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại để mở rộng và nâng cao nội dung và chất lượng nghiên cứu; với cả xu hướng mới về tin học hóa, hiện đại hóa các hoạt động điền dã – giám định nghiên cứu khảo cổ học trong chừng mức có thể ứng hợp được”[10]. Điều quan trọng nhất là phải xây dựng được chiến lược và định hướng đúng đắn, khả thi cho việc phát triển ngành khảo cổ Việt Nam: Hiện đại về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu; Khách quan, chính xác về kết quả nghiên cứu; Thiết thực, Cập thời đáp ứng nhu cầu phát triển của dân tộc, đất nước và Hòa dòng với Khảo cổ học Thế giới[11].

GS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung

Tài liệu dẫn

Guy Bourdé, Hervé Martin. Các trường phái sử học Việt Nam. Viện Sử học. Hà Nội năm 2001

Carol Kramer.Ceramic Ethnoarchaeology, Annual Review of Anthropology, Vol. 14 (1985), tr. 77-102;

Margaret E. Becka,Mark A. Neupert. Identifying pottery clay from rice fields: an example from southern Luzon, the Philippines, Journal of Archaeological Science 36 (2009) 843–849

Kluwer Acad./Plenum, 9 tập, năm 2001.

Guy Bourdé, Hervé Martin. Các trường phái sử học Việt Nam. Viện Sử học. Hà Nội năm 2001.

David J Meltzer, Don D. Fowler, Jeremy A. Sabloff.  Khảo cổ học Mỹ Quá khứ và Tương lai. Bản dịch của Lâm Thị Mỹ Dung và Chu Hương Ly. Tư liệu Khoa Lịch sử và Bảo tàng Nhân học, Trường ĐHKHXH & NV. Hà Nội.

Colin Renfrew, Paul Bahn. Khảo cổ học Lý thuyết, Phương pháp và Thực hành. Bản dịch của Đặng Văn Thắng, Lê Long Hổ và Trần Hạnh Minh Phương. Nxb Trẻ. TP. Hồ Chí Minh năm 2007, tr.14-16 

Hà Văn Tấn. Khảo cổ học lý thuyết – Giáo trình đào tạo sau đại học chuyên ngành khảo cổ học. Hà Nội năm 1996.

Michael B. Schiffer. The Structure of Archaeological Theory, American Antiquity, Vol. 53, No. 3. (Jul., 1988).

Hán Văn Khẩn (chủ biên). Cơ sở Khảo cổ học. Nxb ĐHQG, Hà Nội năm 2009

R.A. Gould. New Studies in Archaeology – Living Archaeology. Press Syndicate of the University of Cambridge 1980.

Earle TK. 1997. How Chiefs Come to Power. Sanford, CA: Sanford University Press, năm 1997

Ember M, Ember CR. Cross – Cultural Research Methods. Walnut Creek, CA: Alta Mira, năm 2001

Pearson M.P., Archaeology of Death and Burial. Texas A & M University Press, 2005

Peregrine PN. Outline of Archaeological Traditions. New Haven, CT: Hum. Rel.Area Files

Peregrine PN, Ember M., (chủ biên). Encyclopedia of Prehistory, New York: Kluwer Acad./Plenum, 9 tập, năm 2001.

Peter N. Peregrine. Cross-Cultural Comparative Approaches in Archaeology, Annual Review of Anthropology, Vol. 30, năm 2001.

Phạm Đức Dương. Về việc xây dựng ngành Việt Nam học ở nước ta, http://vns.edu.vn/?page=newsdetail&NewID=21. Downloaded ngày 5.12.2010

Prior Ruth 1994, Ceramics from Early Historical Sites in Vietnam. Southeast Asian Archaeology Volume I: 95-110.

Junker Laura Lee. Raiding, Trading and Feasting. The Political Economy of Phillippine Chiefdoms. University of Hawai''i Press. Honolulu

Carol Kramer.Ceramic Ethnoarchaeology, Annual Review of Anthropology, Vol. 14 (1985)

Margaret E. Becka,Mark A. Neupert. Identifying pottery clay from rice fields: an example from southern Luzon, the Philippines, Journal of Archaeological Science 36 (2009) 843–849.

Diệp Đình Hoa. Nghiên cứu đồ gốm bằng phương pháp dân tộc học so sánh, NPHMVKCN 1975, Hà Nội, năm 1976

Hà Văn Tấn. Mô hình gỗ với thời đại đá ở Việt Nam và Đông Nam Á. Tạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 1, 1985

Trần Quốc Vượng, Hayden Brian 1996. Tài liệu về kiểm soát chính trị của người Tà Ôi (Quảng Trị). Báo cáo sơ bộ (Tài liệu riêng của tác giả).

Lâm Thị Mỹ Dung Sử dụng phương pháp và lý thuyết của khảo cổ học hiện đại trong nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam HTKH “Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Khoa học Xã hội & Nhân văn”, Trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội, tháng 12 năm 2009

Lâm Thị Mỹ Dung và nhóm cộng sự. Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ So sử sang Lịch sử sớm ở Trung và Nam Trung bộ Việt Nam. ĐTNCKH Trọng điểm cấp ĐHQG (mã số QGTĐ. 06.07) Hà Nội, năm 2008

Dena F. Dincauze. Environmental Archaeology: Principles and Practice. Cambridge University Press. Cambridge 2000.

Bruce Trigger, Archaeology and Ecology. World Archaeology, Vol.2, No.3, Subsistence (Feb., 1971), tr.321-336.Hà Văn Tấn. Những hệ sinh thái nhiệt đới trong thời tiền sử Việt Nam và Đông Nam Á. Nghiên cứu Việt Nam, số 474, 1984

Hà Văn Tấn. Khí hậu cách tân muộn ở Đông Nam Á: số liệu mới từ Việt Nam. Nghiên cứu mới về kỷ đệ tứ ở Đông Nam Á, tập 9, Rốt-téc-đam, 1985

Hà Văn Tấn. Sự chuyển biến từ Pléitocene đến Holocene ở Đông Nam Á: Môi trường và văn hóa . Tạp chí Khảo cổ học, số 1, 1992.

Trần Quốc Vượng. Về những nhân tố tự nhiên – dân số – kĩ thuật – ý thức trong văn minh nông nghiệp Việt Nam. Tạp chí Khảo cổ học, số 2, 1983

Trần Quốc Vượng. Con người – Môi trường và Văn Hóa. Nxb VHTT. Hà Nội 2005.

Hà Hữu Nga. Khảo cổ học Đông Bắc, Việt Nam: từ những hệ thống sinh thái nhân văn tới cấu trúc xã hội Tiền Nhà nước. Trong Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam. Tập I. NxbKHXH, Hà Nội 2004, tr.117-139.

Trần Quốc Vượng Khảo cổ học Việt Nam - nơi hội tụ của khoa học, lịch sử và văn hóa. http://vietbao.vn/Van-hoa/Khao-co-hoc-VN-noi-hoi-tu-cua-khoa-hoc-lich-su-va-van-hoa/40053660/181/

Nguyễn Quang Miên. Ứng dụng các phương pháp khoa học tự nhiên trong khảo cổ học Việt Nam – Vấn đề và giải pháp. Trong “Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam”, tập I, NxbKHXH, Hà Nội, năm 2004

Nguyễn Kim Thủy. Áp dụng khoa học tự nhiên trong nghiên cứu nhân học Việt Nam. Trong “Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam”, tập I, NxbKHXH, Hà Nội, năm 2004, tr.225-237

Nguyễn Trường Kỳ 1994, Kết quả phân tích quang phổ đồ trang sức bằng thuỷ tinh ở một số địa điểm khảo cổ học Việt Nam. NPHMVKCH 1993: 140-141

Phạm Lý Hương, Phạm Thị Ninh và Nguyễn Xuân Hòa. Xác định thành phần nguyên liệu và độ nung gốm Xóm Ốc (Quảng Ngãi). Trong NPHMVKCH năm 1999, Hà Nội năm 2000, tr. 270-273

Phạm Đức Mạnh. Sử liệu khảo cổ học dưới góc độ lưu trữ, khám phá và khai thác chuyên sâu. Trong “Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy lịch sử”, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2008

[1] Tên của một colloquium về liên ngành trong nghiên cứu khảo cổ học tổ chức ở giảng đường Maxwell Cummings Bảo tàng Nghệ thuật Montreal, Canada ngày 14 và 15 tháng 10 năm 2010.

[2] Trần Quốc Vượng Khảo cổ học Việt Nam - nơi hội tụ của khoa học, lịch sử và văn hóa. http://vietbao.vn/Van-hoa/Khao-co-hoc-VN-noi-hoi-tu-cua-khoa-hoc-lich-su-va-van-hoa/40053660/181/

[3] Nguyễn Quang Miên. Ứng dụng các phương pháp khoa học tự nhiên trong khảo cổ học Việt Nam – Vấn đề và giải pháp. Trong “Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam”, tập I, NxbKHXH, Hà Nội, năm 2004, tr. 687. 

[4] Nguyễn Quang Miên. Ứng dụng các phương pháp khoa học tự nhiên trong khảo cổ học Việt Nam – Vấn đề và giải pháp. Trong “Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam”, tập I, NxbKHXH, Hà Nội, năm 2004, tr.695; Nguyễn Kim Thủy. Áp dụng khoa học tự nhiên trong nghiên cứu nhân học Việt Nam. Trong “Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam”, tập I, NxbKHXH, Hà Nội, năm 2004, tr.225-237; Nguyễn Trường Kỳ 1994, Kết quả phân tích quang phổ đồ trang sức bằng thuỷ tinh ở một số địa điểm khảo cổ học Việt Nam. NPHMVKCH 1993: 140-141; Phạm Lý Hương, Phạm Thị Ninh và Nguyễn Xuân Hòa. Xác định thành phần nguyên liệu và độ nung gốm Xóm Ốc (Quảng Ngãi). Trong NPHMVKCH năm 1999, Hà Nội năm 2000, tr. 270-273; Prior Ruth 1994, Ceramics from Early Historical Sites in Vietnam. Southeast Asian Archaeology Volume I: 95-110…

[5] Nguyễn Quang Miên. Ứng dụng các phương pháp khoa học tự nhiên trong khảo cổ học Việt Nam – Vấn đề và giải pháp. Trong “Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam”, tập I, NxbKHXH, Hà Nội, năm 2004, tr.692.

 [6] Cuộc khai quật Thành Dền mới vừa rồi đã cho thấy việc áp dụng những phương pháp liên ngành gặp rất nhiều trở ngại do thiếu cơ sở dữ liệu so sánh, thiếu chuyên gia và kinh phí phân tích theo những phương pháp kỹ thuật và công nghệ hiện đại.

[7] Lâm Thị Mỹ Dung Sử dụng phương pháp và lý thuyết của khảo cổ học hiện đại trong nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam HTKH “Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Khoa học Xã hội & Nhân văn”, Trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội, tháng 12 năm 2009.

 

[8]  Ví dụ lớp đào tạo do Viện Khảo cổ học (tài trợ của Quỹ TOYOTA) tổ chức từ năm 2008 trở lại đây thực sự mang lại nhiều kết quả khả quan.

[9] Lâm Thị Mỹ Dung Sử dụng phương pháp và lý thuyết của khảo cổ học hiện đại trong nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam HTKH “Phương pháp liên ngành trong nghiên cứu Khoa học Xã hội & Nhân văn”, Trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội, tháng 12 năm 2009.

[10] Phạm Đức Mạnh. Sử liệu khảo cổ học dưới góc độ lưu trữ, khám phá và khai thác chuyên sâu. Trong “Đổi mới nghiên cứu và giảng dạy lịch sử”, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2008, tr.202.

[11] Bắt đầu từ năm 2010, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) triển khai chương trình tài trợ nghiên cứu cơ bản (NCCB) trong khoa học xã hội và nhân văn. Đây là dấu hiệu tốt cho triển khai sâu rộng những nghiên cứu lý thuyết và phương pháp KHXH & NV. Tuy nhiên còn rất nhiều vấn đề về hướng triển khai, vấn đề triển khai, đặc biệt là tình trạng vừa thiếu, vừa thừa và chưa thực sự đáp ứng thực tế nghiên cứu. Ví dụ về nghiên cứu khảo cổ học, danh mục NCCB của Quỹ chỉ gồm Lý thuyết KCH đô thị,: Áp dụng thành tựu của KHTN trong nghiên cứu KCH và Các văn hóa khảo cổ học – Giao lưu giữa các nền văn hóa khảo cổ học,  (Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Danh mục Hướng nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn … tài trợ năm 2010, QĐ số 04/QĐ-HĐQLQ ngày 05.5/2010)  

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ: