Thứ Bảy, 16/02/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

28/08/2018 11:33 254
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Trong lịch sử nước nhà, Bảng nhãn Lương Đắc Bằng không chỉ nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, chính trực, một người thầy mẫu mực của nhiều quan lại, trí thức đương thời mà còn được biết đến với tư cách là tác giả của Trị bình thập tứ sách - 14 sách lược trị nước mà theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, nếu được thực thi trên diện rộng, rất có thể nhà Lê Sơ sẽ không đi vào giai đoạn suy vong.

Trong lịch sử nước nhà, Bảng nhãn Lương Đắc Bằng không chỉ nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, chính trực, một người thầy mẫu mực của nhiều quan lại, trí thức đương thời mà còn được biết đến với tư cách là tác giả của Trị bình thập tứ sách - 14 sách lược trị nước mà theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, nếu được thực thi trên diện rộng, rất có thể nhà Lê Sơ sẽ không đi vào giai đoạn suy vong.

Tài liệu để lại cho biết: Lương Đắc Bằng (梁得朋) tên thật là Lương Ngạn Ích, người làng Hội Triều (còn có tên là Hội Trào) xã Trào Âm, tổng Bái Trạch, nay thuộc xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa), từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng (Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2007, tr 302-303). Ông sinh năm 1472, sống trong suốt 6 triều vua: Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông và tham dự triều chính qua 4 triều vua, từ Túc Tông đến Chiêu Tông.

Tượng thờ Lương Đắc Bằng ở xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa - (ảnh: Trần Hồng)

Trải qua nhiều thập kỷ và đạt đến đỉnh cao thịnh trị thời Lê Thánh Tông, đến đầu thế kỷ XVI, nhà Lê Sơ từng bước suy vong. Uy Mục lên ngôi (năm 1505), “nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, tàn hại người tông thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại hoành hành, trăm họ oán giận, người bấy giờ gọi là Quỷ vương, điềm loạn đã xuất hiện từ đấy” (Đại Việt sử ký toàn thư, tr.521). Bất bình trước sự sa đọa của Lê Uy Mục, Lương Đắc Bằng đã viết bài Hịch, vạch trần tội quên dân, chỉ chú mục vào hưởng lạc, sống quá xa hoa đồi truỵ của triều đình.

Tranh vẽ Lương Đắc Bằng viết hịch kêu gọi lật đổ vua Lê Uy Mục (nguồn: Baophapluat.vn)

Tháng 11 năm Kỷ Tỵ niên hiệu Đoan Khánh thứ năm (năm 1509), Giản Tu Công Lê Oanh trá xưng là Cẩm Giang Vương, dựng cờ chiêu an kéo quân từ Tây Đô về Thăng Long đánh Uy Mục, Lương Đắc Bằng cùng các đại thần đứng ra ủng hộ, đưa Giản Tu công lên làm vua và sau này tôn là Tương Dực đế.

Tuy nhiên, kỳ vọng của Lương Đắc Bằng cùng những quần thần, quý tộc chung suy nghĩ với ông về một vị tân vương anh minh đã không được đáp ứng. Tương Dực đế sau thời gian đầu lên ngôi “ban hành giáo hóa, thận trọng hình phạt” đã trượt dài vào con đường chơi bời vô độ, “xây dựng liên miên, dân nghèo thất nghiệp, trộm cướp nổi lên” (Đại Việt sử ký toàn thư, tr.530).

Chán nản trước thời cuộc, lấy cớ thân mẫu qua đời, Lương Đắc Bằng đã xin về quê chịu tang mẹ và dự định hưu dưỡng ở quê nhà làm nghề dạy học. Đoán được suy nghĩ của Lương Đắc Bằng, người đứng đầu nhà Lê Sơ đã ra chiếu chỉ triệu hồi ông về triều. Mùa đông tháng 10 năm Canh Ngọ (1510), vua Lê khôi phục cho Lương Đắc Bằng chức Lại bộ Tả Thị lang kiêm Đông các Học sĩ, Nhập thị kinh diên. Lương Đắc Bằng không những từ chối chức tước vua ban mà nhân cơ hội này, ông đã dâng lên Tương Dực đế một bản kế sách trị quốc gồm 14 điểm (Trị bình thập tứ sách).

Tranh vẽ Lương Đắc Bằng dâng Trị bình thập tứ sách (nguồn: Baophapluat.vn)

Ông dẫn tích xưa “Bậc thánh nhân thuở trước, không vì thiên hạ đã trị mà lơ là việc cảnh giác ngăn ngừa, người hiền thần đời xưa không vì vua mình đã thánh mà quên lãng niềm khuyên răn, can gián” để khẳng định: “Đế Thuấn nghe lời khuyên mà răn ngừa những việc đáng răn, do đó đã trở thành bậc đại thánh… Văn Đế nghe lời khuyên mà lo nghĩ việc đáng lo, do đó đã trở nên bậc hiền nhân”.

Theo Lương Đắc Bằng, kể từ khi Lê Tương Dực lên ngôi, “hoà khí chưa thuận, can qua chưa dứt, kỷ cương triều đình chưa dựng đặt, việc quân, việc nước chưa sửa sang; tai dị xảy ra luôn, sợ đạo trời chưa thuận, núi đá bị sụt lở, e đạo đất chưa yên”. Trước thực tế đó, ông “mỗi khi nghĩ tới việc ngày nay thì suốt đêm không ngủ, đến bữa không ăn, tấm lòng khuyển mã trung thành không sao nguôi được”.

Trị bình thập tứ sách của Lương Đắc Bằng có nội dung cụ thể như sau:

- Phải cảnh giác, răn ngừa để chấm dứt tai biến,

- Dốc lòng hiếu thảo để khuyến khích lòng trung hậu,

- Xa thanh sắc để làm chân chính gốc của tâm,

- Đuổi tà nịnh để làm trong sạch ngọn nguồn muôn việc,

- Dè dặt trao quan tước để thận trọng việc khuyến khích, răn đe,

- Tuyển bổ công bằng để đường làm quan trong sạch,

- Tiết kiệm tiêu dùng để khuyến khích phong tục kiêm phác,

- Khen thưởng người tiết nghĩa để coi trọng đạo cương thường,

- Cấm hối lộ để trừ bỏ thói tham ô,

- Sửa sang võ bị để vững thế “thành đồng hào nóng”,

- Lựa chọn quan can gián để gây khí thế dám nói,

- Nới nhẹ việc lao dịch để thoả lòng mong đợi của dân,

- Hiệu lệnh phải tín thực để thống nhất ý chí của bốn phương,

- Luật pháp, chế độ phải thận trọng để mở nền thịnh trị thái bình.

(Đại Việt sử ký toàn thư, tr.530)

Dẫu Trị bình thập tứ sách của Lương Đắc Bằng được khen ngợi nhưng dường như Lê Tương Dực đã không áp dụng vào thực tiễn (Đại Việt sử ký toàn thư chép là “vua nghe theo”; Lịch triều hiến chương loại chí viết “vua khen ngợi và nhận lời”, tuy nhiên, theo Nam sử: Mười bốn kế sách trình lên không được dùng một kế sách nào” - Lê Văn Toan, Lương Đắc Bằng danh Nho đạo nghĩa thanh liêm, Tạp chí Hán Nôm, Số 3, 2011, Tr.24 - 28). Đến giai đoạn trị vì của Lê Chiêu Tông, chính trường nhà Lê Sơ cũng không cho thấy dấu hiệu khởi sắc. Trước tình hình ấy, Lương Đắc Bằng đã cáo quan về quê dạy học. Ông là thày dạy của nhiều danh sỹ nổi tiếng sau này như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (quê Hải Dương) Tiến sĩ Đinh Bạt Tụy (quê Nghệ An), Bảng nhãn Nguyễn Mẫu Đối, Tiến sĩ Nguyễn Thừa Hưu, Hoàng giáp Lại Kim Bảng…

Sách Nam sử, bản A.315, sau khi ghi lại lược sử những cống hiến của Lương Đắc Bằng cho đời và có thơ khen rằng:

清時及第世榮觀

議論從忠炳若丹

十四策無從一策

當時勿怪治平難

"Thanh thời cập đệ thế vinh quan,

Nghị luận tòng trung bỉnh nhược đan.

Thập tứ sách vô tòng nhất sách,

Đương thời vật quái trị bình nan".

Dịch nghĩa:

Thời thanh bình, thi cử đỗ đạt cho đời thấy được sự vinh quang,

Nghị luận thể hiện lòng trung sáng đỏ như son.

Mười bốn kế sách trình lên không được dùng một kế sách nào.

Trị bình khó khăn, điều ấy đương thời không có gì là lạ.

(Theo Lương Đắc Bằng danh Nho đạo nghĩa thanh liêm - đã dẫn nguồn).

Lăng mộ Lương Đắc Bằng được xây cất lại làng Hội Triều nay thuộc xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1994 khu lăng mộ và nhà thờ của ông đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.

Ngôi trường THPT mang tên ông tại Hoằng Hóa - Thanh Hóa (ảnh: Internet)

Xét diễn biến lịch sử giai đoạn cuối Lê Sơ cùng nội dung của Trị bình thập tứ sách, có thể khẳng định, quan điểm của Lương Đắc Bằng đã chạm vào mâu thuẫn căn bản của nhà nước quân chủ đương thời. Trị bình thập tứ sách không chỉ phác dựng cơ bản thực trạng đất nước những năm đầu thế kỷ XVI mà còn vạch rõ sự tha hóa của vua, quan nhà Lê, đồng thời chỉ ra đường hướng cải cách triều chính một cách đúng đắn.

Việc Trị bình thập tứ sách chỉ phát huy tác dụng “trên giấy” đã gây nên sự tiếc nuối cho nhiều sử gia hậu thế, nhất là trong bối cảnh chỉ một thời gian sau khi Lương Đắc Bằng dâng 14 kế sách trị bình, nhà Lê Sơ tiếp tục trượt dài trên sự suy vi và từng bước mất ngai vàng vào tay nhà Mạc./.

Phạm Hoàng Mạnh Hà

Tài liệu trích dẫn

Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2007.

Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007.

Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên (1272 - 1697), Đại Việt Sử ký toàn thư, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam dịch (1985 - 1992), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.

Trần Trọng Kim (2008), Việt Nam sử lược, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

Lê Văn Toan, Lương Đắc Bằng danh Nho đạo nghĩa thanh liêm, Tạp chí Hán Nôm, Số 3, 2011.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

“ Cán bộ đảng viên chúng ta cần đem những gì tốt đẹp nhất của mình đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp của Đảng”

“ Cán bộ đảng viên chúng ta cần đem những gì tốt đẹp nhất của mình đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp của Đảng”

  • 01/02/2019 23:06
  • 114

Đó là lời tâm huyết trong di cảo của đồng chí Lê Văn Lương, Bí thư Thành ủy Hà Nội mà tôi đã được cụ bà Bích Thuận - người bạn đời chung thủy của đồng chí Lê Văn Lương cho tôi đọc ngay tại gian thờ trang nghiêm của gia đình.

Bài viết khác

Trần Văn Đạt – Tiền hiền sáu Xã Vạn PhướcHuyện Mộ Đức (Quảng Ngãi)

Trần Văn Đạt – Tiền hiền sáu Xã Vạn PhướcHuyện Mộ Đức (Quảng Ngãi)

  • 27/08/2018 08:30
  • 269

Trần Văn Đạt quê gốc ở xã Thụy Ứng, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là thôn Thụy Ứng, xã Hòa Bình, huyện Thường Tín, ngoại thành Hà Nội). Ông từng làm chức quan quản lĩnh tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.