Thứ Năm, 16/09/2021
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

30/09/2013 15:13 3612
Điểm: 5/5 (1 đánh giá)
Đào Duy Từ sinh năm 1572 tại làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Ông lớn lên trong cảnh loạn lạc của đất nước. Giữa thế kỷ XVI một bước ngoặt lịch sử đã diễn ra khi Nguyễn Hoàng (con của Nguyễn Kim) được phép của vua Lê- chúa Trịnh phái đi giữ vùng đất Thuận Quảng (từ Huế vào đến Quảng Nam). Khi vào đây, Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) đã lập nên một cơ nghiệp mới và mở ra một thời kỳ mới của chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Sau khi Nguyễn Hoàng mất, người con trai của ông là nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi) đã tiếp tục xây dựng cơ đồ mà cha ông để lại. Định mệnh lịch sử đã cho Nguyễn Phúc Nguyên gặp Đào Duy Từ để rồi với tài năng “ kinh bang tế thế” Đào Duy Từ đã giúp cho Chúa Sãi vững xây cơ đồ, mở ra một thời kỳ vàng son cho sự phát triển của triều đại các chúa Nguyễn ở phương Nam.

Lộc Khê hầu Đào Duy Từ (1572-1634)

Chỉ trong thời gian ngắn ngủi chín năm(1625-1934), được chúa Nguyễn tin dùng, Đào Duy Từ đã kịp xây dựng được một định chế chính quyền rất được lòng dân. Do vậy, sau đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên còn truyền thêm được bảy đời nữa. Ông đã giúp chúa Nguyễn giữ vững cơ nghiệp ở Đàng Trong chống cự thành công với họ Trịnh ở phía Bắc; Mở đất phương Nam làm cho Nam Việt thời ấy trở nên phồn thịnh; Đặt nền móng vững chắc cho triều Nguyễn, sửa sang chính trị, quan chế, thi cử, võ bị, thuế khóa, nội trị, ngoại giao…Trong đó việc nghĩ ra các kế sách giúp chúa Nguyễn đối phó để không phải chịu sự quản lý của vua Lê chúa Trịnh đã gắn liền với các giai thoại được dân gian truyền tụng đến ngày nay.

Giai thoại 1: “ Dư bất thụ sắc”

Năm 1627, chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong thuần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Sãi Vương (Nguyễn Phúc Nguyên) và đòi lễ vật cống nạp. Chúa Sãi không chịu, nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao, bèn hỏi ý kiến Lộc Khê Đào Duy Từ.Theo một số tư liệu, thì chính Đào Duy Từ là người khuyên chúa Sãi bước đầu cứ nhận sắc phong, rồi sau sẽ tìm cách đối phó. Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, bấy giờ Đào Duy Từ mới bàn với Chúa, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bầy nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi cử sứ giả mang ra Thăng Long, để tạ ơn vua Lê, chúa Trịnh. Triều đình Đàng Ngoài nhận được mâm lễ tỏ ý ngờ vực, bèn cho khám phá bí mật ở phía trong và cuối cùng họ đã phát hiện chiếc mâm có hai đáy. Khi đem đục ra thì thấy có sắc vua phong dạo trước và tờ giấy viết bốn câu chữ Hán sau:

Mậu nhi vô dịch

Mịch phi kiến tích

Ái lạc tầm trường

Lực lai tương địch

Theo sử sách truyền lại, chúa Trịnh hỏi về ngụ ý những câu trên là gì, những không ai hiểu được. Một nhân tài của đất Bắc lúc ấy là Phùng Khắc Khoan đã giải nghĩa rằng: “ Mâu nhi vô dịch” chữ “mâu” không có dấu phết là chữ dư nghĩa là ta ; “ Mịch phi kiến tích” chữ “mịch” bỏ bớt chữ “kiến” thì thành chữ bất, nghĩa là không ; “Ái lạc tâm trường” chữ “ái” để mất chữ “tâm” thành chữ thụ, nghĩa là chịu hay nhận; “Lực lai tương địch” chữ “lực” ghép với cùng chữ “lai” thành chữ sắc nghĩa là sắc phong. Gộp cả bốn chữ mới lại thành câu:”Dư bất thụ sắc”, nghĩa là “Ta chẳng chịu phong”. Hiểu ra nghĩa, chúa Trịnh nổi giận, sai người bắt sứ giả nhưng không kịp.

Vết tích của Lũy Thầy, công trình phòng thủ do Đào Duy Từ thiết kế và chỉ đạo xây dựng tại tỉnh Quảng Bình.

Giai thoại 2: “ Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen”

Chúa Trịnh thấy họ Nguyễn chối từ, trả lại sắc phong bằng một mẹo kế tài tình, thì vừa tức giận, vừa phục tài, bèn cho dò la và biết được đều do Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ chúa Nguyễn Đàng Trong về với triều đình Lê-Trịnh Đàng Ngoài.

“…Chúa lập mưu sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ, kèm một bức thư riêng với bốn câu thơ:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em có chồng anh tiếc lắm thay”

Tứ thơ là lời nhắn nhủ nghĩa tình, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán của Đào vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đình trọng dụng còn nếu không thì ngầm ý khống chế.

Tương truyền Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ tại Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế theo cách làm của Ngọa Long Gia Cát đón mẹ của Khương Duy vào Hán Trung thuở xưa. Đào Duy Từ đã trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp chúa Trịnh như sau:

Ba đồng một mớ trầu cay

Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?

Bây giờ em đã có chồng

Như chim vào lồng như cá cắn câu

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ

Chim vào lồng biết thuở nào ra?...

Chúa Trịnh đọc thơ biết khó lòng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ý còn bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hi vọng, bèn cho người mang lễ vật hậu hơn, cầm thư Chúa vào gặp Đào Duy Từ lần nữa. Lần này ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của chúa Trịnh. Hai câu đó như sau:

“Có lòng xin tạ ơn lòng

Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen!”

Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền Trong, mở mang bờ cõi đất nước ta cho đến lúc qua đời...

Từ đường Đào Duy Từ tại thôn Tài Lương (Ngọc Sơn Bắc), xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Đào Duy Từ mất năm 1634. Chúa Nguyễn thương tiếc truy tặng ông “ Hiệp mưu đồng đức công thần, đặc tiến trụ Quốc Kim tử Vĩnh Lộc đại phu Thái thượng tự khanh Lộc khê hầu”. Năm Gia Long thứ tư (1804), xét công trạng các khai quốc công thần, Đào Duy Từ được xếp vào hạng Thượng đẳng, được thờ phụng ở Thái Miếu, năm Gia Long thứ chín (1810) được liệt thờ ở Miếu Khai quốc công thần, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) truy phong Đông cát Đại học sĩ, Thái sư hoàn Quốc công.

Hoàng Ngọc Chính (tổng hợp)

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

  • 08/07/2019 14:36
  • 1672

Duyên nghiệp sử sách cho tôi nhiều dịp may hiếm có, ví như bỗng một ngày, tôi được gặp nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh ở tọa đàm về cuộc đấu tranh của những người yêu nước và cộng sản ở nhà tù Sơn La do cụ Nguyễn Văn Trân tổ chức vào hè năm 2007. Không thể hình dung được ông nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng, dáng cao manh mảnh, đôi mắt tinh anh, lại đã từng bị tù ở Sơn La cùng với bí thư chi bộ nhà tù Trần Huy Liệu.

Bài viết khác

Nguyễn Đình Chiểu- Nhà thơ yêu nước của thế kỷ XIX.

Nguyễn Đình Chiểu- Nhà thơ yêu nước của thế kỷ XIX.

  • 30/09/2013 08:49
  • 10512

Đất nước Việt Nam trải qua mấy ngàn năm bị giặc ngoại xâm phương Bắc gây hấn, nhưng tới thế kỷ XIX, lần đầu phải đối mặt với nạn ngoại xâm từ phương Tây. Trong thời gian này, những người tri thức Việt Nam- các nhà Nho đã nhận lấy nhiệm vụ tìm ra con đường cứu lấy dân tộc. Tuy nhiên, dù có tinh thần trách nhiệm và tấm lòng yêu nước cao cả, các nhà Nho vẫn không tìm được con đường cứu nước cứu dân. Lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX đã ghi nhận các nhà Nho ấy như tấm gương về lòng yêu nước, trong đó Nguyễn Đình Chiểu nổi lên là một trong những trí thức dấn thân tiêu biểu nhất…