Thứ Bảy, 16/10/2021
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

30/09/2013 08:49 10777
Điểm: 4.5/5 (2 đánh giá)
Đất nước Việt Nam trải qua mấy ngàn năm bị giặc ngoại xâm phương Bắc gây hấn, nhưng tới thế kỷ XIX, lần đầu phải đối mặt với nạn ngoại xâm từ phương Tây. Trong thời gian này, những người tri thức Việt Nam- các nhà Nho đã nhận lấy nhiệm vụ tìm ra con đường cứu lấy dân tộc. Tuy nhiên, dù có tinh thần trách nhiệm và tấm lòng yêu nước cao cả, các nhà Nho vẫn không tìm được con đường cứu nước cứu dân. Lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX đã ghi nhận các nhà Nho ấy như tấm gương về lòng yêu nước, trong đó Nguyễn Đình Chiểu nổi lên là một trong những trí thức dấn thân tiêu biểu nhất…

Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ ( 1-7-1822) tại làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc phường Cầu Kho, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh). Ông xuất thân trong gia đình nhà Nho. Cha ông là Nguyễn Đình Huy, người đã sinh trưởng và có gia đình 1 vợ 2 con tại xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1820, Tả quân Lê Văn Duyệt (1764- 1832) được triều đình Huế phái làm Tổng trấn thành Gia Định, Nguyễn Đình Huy đã đi theo Tả quân để tiếp tục làm thư lại thuộc dinh Tổng trấn. Ở Gia Định, ông Huy có thêm người vợ thứ là bà Trương Thị Thiệt (người làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương) , sinh được 7 người con (4 trai 3 gái) và Nguyễn Đình Chiểu là con đầu lòng của gia đình. Nguyên Đình Chiểu được cha mẹ nuôi dạy, tới năm 6,7 tuổi ông theo học một thầy đồ trong làng. Năm 1832, Tả quân Lê Văn Duyệt mất. Năm 1833, con nuôi Tả quân là Lê Văn Khôi làm cuộc nổi dậy chiếm thành Phiên An ở Gia Định, rồi chiếm cả Nam Kỳ. Trước sự binh biến, Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế nên bị cách hết chức tước. Vì thương con, Nguyễn Đình Huy lén trở vào Nam, đem Nguyễn Đình Chiểu gửi cho một người bạn làm Thái phó ở Huế để tiếp tục việc học. Nguyễn Đình Chiểu sống ở Huế (1833- 1840) từ khi 11 tuổi tới 18 tuổi thì trở về Gia Định. Năm 1843, ông trở về Gia Định, thi đỗ Tú tài, sau đó ra Huế học thêm để chờ thi Hương, nhưng được tin mẹ mất, ông trở về Gia Định chịu tang. Trên đường trở về, do khóc thương mẹ và nhiễm phong sương nên bị đau mắt đến mù. Từ đó, ông mở trường dạy học, học trò rất đông.

Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)

Thời gian này, ông viết cuốn Dương Từ Hà Mậu, nội dung cuốn sách nhằm bênh vực Nho giáo chân chính, chống bọn đạo đức giả, tham danh lợi. Khoảng năm 1850, ông viết truyện thơ Lục Vân Tiên, tỏ rõ lòng yêu chính nghĩa, ghét gian tà. Quyển sách mang tính “tự truyện” có tính chất nhân dân, có tác dụng giáo dục rất lớn đối với quần chúng. Năm 1859, giặc Pháp đánh Gia Định rồi mở rộng xâm lược Nam Kỳ. Ông chạy về Cần Giuộc (Chợ Lớn) tham gia kháng chiến, bàn bạc việc cứu nước với các bạn hữu: Phan Văn Trị, Hồ Huân Nghiệp, Bùi Hữu Nghĩa…liên hệ mật thiết với Đốc binh Là (người chỉ huy anh dũng trong trận Cần Giuộc, tích cực giúp đỡ nghĩa quân về mọi mặt). Trong khi đó, Trương Định vẫn thường đến hỏi ý kiến của ông, coi ông là tham mưu của mình. Giai đoạn này, ông sáng tác rất nhiều văn thơ yêu nước, ca tụng khí tiết anh hùng của những chiến sĩ hi sinh vì Tổ quốc, kịch liệt lên án quân bán nước, làm tay sai cho giặc. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cùng với nhiều tác phẩm thơ, phú, hịch của ông đã có ảnh hưởng rộng khắp trong Nam, ngoài Bắc. Sáu tỉnh Nam Kỳ bị giặc chiếm (1867), Nguyễn Đình Chiểu vì bị mùa lòa nên không ra “tị địa” ở Bình Thuận được, nên tiếp tục dạy học ở Bến Tre, nêu gương bất hợp tác với thực dân. Bọn quan cai trị Pháp đã nhiều lần tìm tới mua chuộc nhưng đều thất bại trước tinh thần bất khuất của trí thức chân chính. Ngày 3-7-1888, ông mất trong sự thương tiếc vô hạn của mọi người.

Đền thờ và mộ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu tại xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Nguyễn Đình Chiểu là một chiến sĩ yêu nước dũng cảm, đồng thời là ngôi sao sáng nhất trong nền văn học ở miền Nam nửa sau thế kỷ XIX. Ông đã sáng tác nhiều thơ, văn tế, hịch…góp phần to lớn trong việc cổ vũ, động viên nhân dân chiến đấu chống giặc. Trong thơ văn của ông là sự ca ngợi tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, cũng như vai trò và sức mạnh của nhân dân trong kháng chiến chống Pháp. Ngoài hai tác phẩm Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, ông còn có tập truyện thơ Ngư Tiều y thuật vấn đáp đề cao phẩm chất trong sạch, đạo đức trung hiếu, tiết nghĩa để động viên tinh thần yêu nước chống giặc của sĩ phu và nhân dân.

Chu Lộc- Phương Thảo (tổng hợp)

Nguồn tư liệu:

  1. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb Giáo Dục, Hà Nội 2005.
  2. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

  • 08/07/2019 14:36
  • 1744

Duyên nghiệp sử sách cho tôi nhiều dịp may hiếm có, ví như bỗng một ngày, tôi được gặp nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh ở tọa đàm về cuộc đấu tranh của những người yêu nước và cộng sản ở nhà tù Sơn La do cụ Nguyễn Văn Trân tổ chức vào hè năm 2007. Không thể hình dung được ông nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng, dáng cao manh mảnh, đôi mắt tinh anh, lại đã từng bị tù ở Sơn La cùng với bí thư chi bộ nhà tù Trần Huy Liệu.

Bài viết khác

Dương Vân Nga - Người hai lần làm hoàng hậu

Dương Vân Nga - Người hai lần làm hoàng hậu

  • 25/09/2013 10:30
  • 10112

Hoàng hậu Dương Vân Nga (? – 1000), “người Ái Châu (Thanh Hóa), con gái Nha tướng Dương Đình Nghệ”(1). Bà là vợ vua Đinh Tiên Hoàng, sau khi vua Đinh và con trai cả là Đinh Liễn bị ám sát, bà đã giao quyền nhiếp chính cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn (Lê Đại Hành) sau đó bà lại trở thành vợ vua Lê Đại Hành, chính điều đó đã đưa đến cho bà nhiều tai tiếng và cái nhìn kỳ thị của xã hội lúc bấy giờ.