Thứ Bảy, 16/10/2021
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

25/09/2013 10:30 10111
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Hoàng hậu Dương Vân Nga (? – 1000), “người Ái Châu (Thanh Hóa), con gái Nha tướng Dương Đình Nghệ”(1). Bà là vợ vua Đinh Tiên Hoàng, sau khi vua Đinh và con trai cả là Đinh Liễn bị ám sát, bà đã giao quyền nhiếp chính cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn (Lê Đại Hành) sau đó bà lại trở thành vợ vua Lê Đại Hành, chính điều đó đã đưa đến cho bà nhiều tai tiếng và cái nhìn kỳ thị của xã hội lúc bấy giờ.

Năm 979 Vua Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị Đỗ Thích ám hại. Tiên đế băng hà, tình hình trong nước rối loạn, các quan trong triều cho rằng “nước không thể 1 ngày không có vua” do đó đã rước Vệ Vương Toàn, con trai thứ của Đinh Tiên Hoàng và Dương Vân Nga lên làm vua, Hoàng Hậu Dương Vân Nga được đưa lên làm Hoàng Thái hậu. Tuy nhiên do vua đang ít tuổi (6 tuổi), Hoàng Thái hậu lại không đủ sức nhiếp chính nên thập đạo tướng quân Lê Hoàn tự xưng là Phó vương, đứng ra nhiếp chính thay vua. Nghe tin Lê Hoàn lộng quyền các thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc đã dấy binh khởi nghĩa. Thái hậu lo sợ bảo Lê Hoàn rằng “Bọn Bặc dấy quân khởi loạn làm kinh động nước nhà. Vua còn nhỏ yếu chưa kham nổi nhiều nạn, các ông nên liệu tính đi chớ để tai họa về sau”(2). Lê Hoàn tâu rằng “Thần ở chức Phó Vương nhiếp chính, dù sống chết thế nào đều phải gắng sức đảm đương trách nhiệm. Xin Thái hậu cứ yên lòng”(3). Lúc này thế lực của Lê Hoàn rất mạnh, ông đã chấn chỉnh quân đội rồi đánh nhau với Nguyễn Bặc và Đinh Điền ở Tây Đô. Nguyễn Bặc và Đinh Điền thua, chạy lên thúc Phạm Hạp đưa quân thủy ra đánh. Lê Hoàn nhân lúc có nhiều gió liền phóng lửa đốt các chiến thuyền. Đinh Điền bị chém tại trận, Nguyễn Bặc thì bị đóng cũi giải về kinh, Phạm Hạp cũng bị bắt ngay sao đó, nhờ vậy mà tình hình mới tạm yên. Cũng nhân lúc triều đình nhà Đinh có chuyện, nhà Tống cũng có âm mưu xâm lược nước ta.

Đền thờ vua Lê Đại Hành tại làng Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình.

Khi quân Tống kéo đến biên giới nước ta, tình thế cấp bách “Thái Hậu liền sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cự Lạng làm đại tướng quân”(4). Khi triều đình đang bàn kế hoạch xuất quân, Cự Lạng cùng với các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào nội phủ nói với mọi người rằng “Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết giết để chặn giặc ngoài may có chút công lao thì có ai biết cho? chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập Đạo làm thiên tử, sau đó xuất quân thì hơn”. Quân sĩ nghe vậy đều hô “vạn tuế”. “Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn, khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế”(5). Năm 980 Lê Hoàn lên ngôi, lấy hiệu là Lê Đại Hành. Năm 982 Vua Lê Đại Hành lập Hoàng Thái hậu nhà Đinh là Dương Thị làm Đại Thắng Minh Hoàng Hậu.

Tượng Hoàng đế Lê Đại Hành trong đền thờ tại Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình.

Tượng Hoàng hậu Dương Vân Nga trong đền thờ vua Lê Đại Hành tại Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình.

Việc làm này cả Lê Hoàn và Dương Vân Nga đều không nhận được sự đồng tình. Ngô Thì Sĩ cho rằng “người cướp ngôi của Vệ Vương (Đinh Toàn con trai Đinh Tiên Hoàng) là Dương Hậu (Dương Vân Nga) chứ không phải Thập Đạo (Tướng quân Lê Hoàn). Cội gốc đã đổ thì cành lá tàn lụi, những điểm khác còn bàn làm gì?. Vệ Vương Toàn không gặp thời, mẫu hậu cải giá, nước không còn ra nước, đem thân theo người, nhà Đinh ít đức, không cò gì để phù trì cho con cháu về sau, đáng thương thay”(6).

Sử gia Ngô Sĩ Liên cũng bàn “Tam cương là đạo thường của muôn đời, không thể một ngày rối loạn. khi Đại Hành giữ chức nhiếp chính, Vệ Vương tuy còn nhỏ nhưng vẫn là vua, thế mà Đại Hành tự xưng là Phó Vương, rắp tâm làm điều bất lợi. Đạo làm tôi không được rắp tâm, rắp tâm thì ắt phải giết”(7).

“Đạo Vợ chồng là đầu của nhân luân, đầu mối của Vương hóa. Hạ Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ ý lấy người đàn bà tất phải chính đáng. Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm Hoàng Hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn. Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước há chẳng phải là mở đầu mối họa đó sao?”(8).

Tuy nhiên lịch sử ngày nay lại tỏ ra cảm thông cho hành động nhường ngôi cho Lê Hoàn cũng như việc 2 người trở thành vợ chồng.

Hình tượng hoàng hậu Dương Vân Nga trên sân khấu (Ảnh minh họa).

Rằng trong tình thế đất nước lúc đó hết sức cấp bách bởi nguy cơ xâm lược của nhà Tống đã hiện ra trước mắt, Dương Thái Hậu đã có cái nhìn vô cùng sáng suốt, đặt lợi ích dân tộc và quốc gia lên trên lợi ích dòng tộc, chọn Lê Hoàn là một thống soái quân đội, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, có khả năng tập hợp và tài năng chỉ huy quân dân ta lúc đó đương đầu với quân xâm lược, loại bỏ được nguy cơ mất nước.

Tình cảm sâu sắc của hai người được thể hiện ở những chi tiết nhỏ nhưng đầy ý nghĩa. Hành động bà tự tay khoác áo long bào lên vai tướng quân, việc khi trở thành hoàng đế, vua Lê Đại Hành mang theo bà khi đi đánh Tống, bình Chiêm có thể chứng minh điều này. Mối tư tình của hoàng hậu Dương Vân Nga đối với Thập đạo tướng quân Lê Hoàn còn thể hiện rõ nét hơn khi bà đồng ý trở vợ ông. Ngày vua Lê Đại Hành lên đường bình Chiêm bà đã theo ông lên chiến trường, trong khi cung cấm có vô vàn cung tần mỹ nữ có thể sẵn sàng sung sướng được “giúp’ bà thay thế.

Rồi có lần, khi vua Lê Đại Hành thắng trận trở về từ biên ải, “Dương Vân Nga còn mang thuyền rồng ra đón tại phố Bu Gà. Phong tục ăn mừng chiến thằng này còn được lưu truyền đến tận Cách mạng tháng Tám”(9).

Thái hậu Dương Vân Nga, một con gười nổi tiềng về tài sắc, mạnh mẽ và quyết đoán. Dù lịch sử có đánh giá bà như thế nào đi nữa thì hành động nhường ngôi cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn là một quyết định đúng đắn đối với vận mệnh dân tộc lúc bấy giờ. Tuy nhiên hành động của bà ở mỗi giai đoạn lịch sử lại có những cái nhìn nhau “sử xưa trách – sử nay cảm thông”. Song có thể nói, cho dù có đánh gía như thể nào đi nữa, thì vài trò của bà đối với lịch sử dân tộc là không thể phủ nhận. Thân phận bà đi bên cạnh hai người đàn ông – hai hoàng đế, ở vị trí nào bà cũng là tròn vai trò của người vợ, bậc mẫu nghi thiên hạ, đóng góp không nhỏ cho sự thịnh trị của hai vương triều Đinh – Tiền Lê.

Thu Nhuần (tổng hợp)

(1) Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh, “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, NXB Giáo dục, 2005.

(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8) Viện khoa học xã hội Viêt Nam, “Đại Việt sử ký toàn thư”, tập I, NXB khoa học xã hội, H, 1998.

(9) Đặng Việt Thủy, Đặng Thành Trung, “54 vị hoàng hậu Việt Nam”, NXB Quân đội nhân dân, 2009.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

  • 08/07/2019 14:36
  • 1743

Duyên nghiệp sử sách cho tôi nhiều dịp may hiếm có, ví như bỗng một ngày, tôi được gặp nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh ở tọa đàm về cuộc đấu tranh của những người yêu nước và cộng sản ở nhà tù Sơn La do cụ Nguyễn Văn Trân tổ chức vào hè năm 2007. Không thể hình dung được ông nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng, dáng cao manh mảnh, đôi mắt tinh anh, lại đã từng bị tù ở Sơn La cùng với bí thư chi bộ nhà tù Trần Huy Liệu.

Bài viết khác

Hà Huy Tập - Một tấm gương cộng sản sáng ngời

Hà Huy Tập - Một tấm gương cộng sản sáng ngời

  • 24/09/2013 15:12
  • 8310

Đồng chí Hà Huy Tập (1906-1941), sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, nay là xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Nguyên tên lúc nhỏ của ông là Hà Huy Khiêm, còn gọi là Ba. Thân phụ Hà Huy Tập là ông Hà Huy Tương, đỗ Cống sinh.