Thứ Sáu, 21/01/2022
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

16/08/2013 09:06 5739
Điểm: 4/5 (1 đánh giá)
Cách đây hơn 100 năm, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của người M’ Nông dưới sự lãnh đạo của vị tù trưởng N’Trang Lơng (Bă Trang Lơng) kéo dài 24 năm liên tục từ năm 1912 đến đầu năm 1935 đã để lại một trong những trang sử chói lọi về lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết đấu tranh bất khuất để giành độc lập của đồng bào các dân tộc trên vùng đất Tây Nguyên anh hùng.

Cuộc kháng chiến của N’Trang Lơng diễn ra trên một địa bàn khá rộng, gần như toàn bộ vùng cao nguyên Nam Đông Dương, từ cao nguyên Lang Biang của người M’Nông R’Lăm sang bên tả ngạn sông Mekong của người M’Nông Khơme. Từ dưới chân núi cao nguyên Pleiku của người Gia Rai, Ba Na xuống đến cao nguyên Di Linh vùng người Mạ, Kơ Ho, S’Tiêng. Khu vực hoạt động chủ yếu của nghĩa quân là vùng cao nguyên M’Nông nằm vắt qua cả 3 xứ Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia. Đây là vùng có truyền thống đấu tranh từ lâu đời của người M’Nông, S’Tiêng trước sự đe dọa của các quốc gia hùng mạnh hơn.

Theo các tài liệu để lại N’Trang Lơng sinh khoảng năm 1870 tại Buôn Bupar, một làng M’Nông của tộc Biệt (Bí) nằm cách biệt dưới chân núi Nam Drôn thuộc khu vực suối DakNha, phía Bắc cao nguyên M’Nông. Thửa nhỏ N’Trang Lơng được miêu tả là cậu bé nhanh nhẹn, tháo vát, hay giúp đỡ người khác và dũng cảm. Người trong làng yêu quí cậu và người em trai Rơ Leng Ong. Khi lớn lên, được các già làng, tù trưởng kể về tấm gương chiến đấu của các tù trưởng Ama Jhao, N’Trang Gưh, N’Trang Lơng tỏ ra rất khâm phục. N’Trang Lơng có vóc dáng bé nhỏ nhưng gương mặt rất lớn, tiếng nói vang vọng. Ông được dân trong vùng kính trọng và thần thánh hóa như mộ huyền thoại. Người bí đồn rằng ông có phép biến mặt mình thành mặt hươu và khi nghe ông hét thì thú dữ cũng phải bỏ chạy. Từ năm 1908, sau sự đầu hàng của Khunjunob, thực dân Pháp bắt đầu tung những đơn vị vũ trang, các đoàn khảo sát lên thám thính vùng ngã ba biên giới giáp Nam Trung Bộ và Cămpuchia (Cao Miên) và khu vực cao nguyên M’Nông. Trong những chuyến du hành của mình từ năm 1909 đến 1911, Henri Maitre, một nhà thám hiểm và thực dân người Pháp đã thu thập được một khối tài liệu lớn về vùng Tây Nguyên hoang sơ. Những tài liệu dân tộc học ấy được ông tập hợp và công bố trong tác phẩm “ Les Jungles Moi” (Rừng người Mọi) tại Paris năm 1912. Trong những chuyến đi khảo sát của mình, Henri Maitre cũng đồng thời thiết lập các cơ sở thực dân cho người Pháp trên những vùng ông ta đi qua. Điều này đã làm đụng chạm đến quyền lợi cũng như phong tục của các bộ tộc bản địa. Đây chính là nguồn gốc các cuộc nổi dậy của các bộ tộc Tây Nguyên chống thực dân Pháp do tù trưởng N’Trang Lơng đứng đầu. Hai năm sau Henri Maitre đã cho lính chiếm đóng và xây dựng đồn ở buôn Bu Poustra làm cơ quan hành chính và lợi dụng lúc Henri Maitre về Pháp nghỉ phép, bọn lính trong đồn đã tổ chức càn quét, tấn công bộ tộc Biệt (Bí) của N’Trang Lơng ở làng Bu N’Trang, cướp bóc, hãm hiếp, đốt buôn làng và giết chết vợ con tù trưởng N’Trang Lơng.

Bức tranh tái hiện cuộc khởi nghĩa do tù trưởng N’Trang Lơng lãnh đạo tại bảo tàng tỉnh Đắc Nông.

Căm thù hành động bạo ngược tàn ác của thực dân Pháp, N’Trang Lơng tập hợp lực lượng vùng lên khởi nghĩa, ông cùng với 150 nghĩa quân với tên nỏ, gươm giáo tấn công tiêu diệt đồn và trụ sở hành chính Bu Poustra mở đầu cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp kéo dài 24 năm. Chiến thắng của nghĩa quân N’Trang Lơng đã khiên tên thực dân Henri Maitre tức giận, từ năm 1912 đến năm 1914, thực dân Pháp đã tổ chức nhiều cuộc vây ráp lùng bắt và treo thưởng để loại trừ thủ lĩnh N’Trang Lơng nhưng đều thất bại. Toàn thể đồng bào M’Nông kiên quyết đồng lòng theo N’Trang Lơng đánh Pháp, không ai phản bội lại người tù trưởng tôn quí của mình. Thực dân Pháp đàn áp quyết liệt, chúng liên tục cử lên nhiều toán binh lính đóng đồn. Năm 1914 Henri Maitre nhận được lệnh đàn áp và đặt một cơ quan hành chính mới ở Bou Méra. Cũng trong năm 1914, cuộc khởi nghĩa của tù trưởng N’Trang Lơng lan rộng, ảnh hưởng khắp vùng rừng núi cao nguyên M’Nông và lôi kéo được nhiều tù trưởng tài giỏi khác như R’Dinh, R’Ong (tù trưởng của các buôn Bu JengChet, Bu Me Ra, Bu Nốp…thuộc Tổng Dar R’Tik, nay là tỉnh Đắc Nông). Căm thù giặc Pháp (do Henri Maitre chỉ huy) sát hại vợ con, dân làng, tù trưởng N’Trang Lơng quyết tâm tiêu diệt bằng được tên thực dân Henri Maitre. Ngày 29/7/1914, em trai tù trưởng là Rơ Ong Leng đã trá hàng, mời Henri Maitre đến buôn Bunor tiếp nhận sự đầu thú của 400 nghĩa quân, Henri Maitre tưởng thật đã chủ quan cùng một tốp lính đến buôn thì rơi vào bẫy phục kích và bị nghĩa quân tiêu diệt toàn bộ. Từ đấy, nghĩa quân liên tiếp đánh nhiều trận và tiêu diệt được nhiều tên thực dân gian ác khác như trận Bu Klir và Bu Thông (1914), trận Srê Lovi (1922)… Đến năm 1928, Pháp đẩy mạnh làm con đường 14, đoạn từ Palklei- Sray Khơtum do tên sĩ quan Gatille phụ trách. Ngày 6/1/1933 N’Trang Lơng chỉ huy khoảng 200 nghĩa quân được trang bị súng và cung nỏ, tập kích đồn 65 của Pháp, một cứ điểm kiên cố có hầm ngầm và dây thép gai bao quanh. Sau một ngày giao tranh, quân Pháp rút chạy. Nghĩa quân tiếp tục chiếm đồn và đánh tan quân cứu viện, giết chết tên chỉ huy Leconte. Ngày 26/1/1931, N’Trang Lơng cho quân phục kích tiêu diệt tên sĩ quan Gatille tại Snoul (Cămpuchia) gây chấn động cả khu vực Đông Dương, khiến cho viên Toàn quyền Đông Dương vô cùng lo sợ bất an. Trước tình hình đó, thực dân Pháp tập trung lực lượng quân sự quyết tâm tiêu diệt nghĩa quân N’Trang Lơng. Trong tháng 2 và 3/1933, thực dân Pháp huy động các lực lượng quân sự có pháo binh yểm trợ từ nhiều hướng, mở cuộc càn quyết qui mô lớn tấn công vào căn cứ Nâm Nung- một trong những căn cứ quan trọng của N’Trang Lơng. Trong cuộc càn quét này, giặc Pháp vừa tấn công bằng quân sự, vừa đốt phá buôn, bon, nương rẫy của người M’Nông tại vùng căn cứ Nâm Nung để triệt nguồn lương thực, dồn người M’Nông và nghĩa quân của N’Trang Lơng vào cảnh thiếu đói. Nghĩa quân N’Trang Lơng chống trả quyết liệt, nhiều trận đánh diễn ra tại căn cứ Nâm Nung tiêu diệt hàng trăm tên địch. Cuộc chiến giằng co kéo dài với nhiều khó khăn dồn về phía nghĩa quân N’Trang Lơng. Nhưng thực dân Pháp không thể nào ngờ, vào ngày 20/10/1933, nghĩa quân N’Trang Lơng bất ngờ tập kích ở núi Bà Rá ở chân Nam Cao nguyên (huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước ngày nay), giết được tên đại úy Morére. Tháng 1/1934, nghĩa quân M’Nông và S’Tiêng tấn công đồn Bù Có và bao vây đồn Bù Na nhưng đều thất bại. Trong tháng 1/1934 nghĩa quân còn tổ chức tấn công và đánh chiếm đồn Căngrôlant. Sau chiến thắng này, có 500 thanh niên người M’Nông Biệt rời buôn, bon gia nhập nghĩa quân N’Trang Lơng. Đêm 4/3/1935, nghĩa quân N’Trang Lơng tấn công đồn Le Roland (cách đồn Ba biên gới 20km về phía Tây Bắc trân đất Cămpuchia), chiếm một phần đồn, giết và làm bị thương nhiều tên địch. Đến lúc này, phong trào kháng Pháp đã dấy lên mạnh mẽ toàn miền Nam cao nguyên đe dọa thật sự đến việc thực hiện các âm mưu cai trị, mỵ dân của thực dân Pháp tại các thuộc địa Đông Dương.

Tượng đài N’Trang Lơng được xây dựng tại đồi Đắk Nur, phường Nghĩa Đức, thị xã Gia Nghĩa, Đăk Nông.

Đầu tháng 3/1935, quân Pháp doa tên thiếu tá Nyo chỉ huy từ 4 hướng tấn công căn cứ Nâm Nung có sự yểm trợ của máy bay, nhưng nghĩa quân do nắm được tin tức tình báo trước đó, nên đã “tương kế tựu kế” giáng cho quân Pháp những đòn phủ đầu. Ngày 24/4/1935, nghĩa quân tiếp tục tấn công đồn Gatille (cách đồn Bù Đốp 40km về phía Bắc và cách biên giới Việt Nam- Cămpuchia 15km) nhưng bị đẩy lùi. Ngày 29/4/1935, nghĩa quân lại tấn công và chiếm được một phần đồn Gatille. Trước sức mạng của nghĩa quân, thực dân Pháp thực sự hoảng sợ, do đó giữa tháng 5/1935, chúng tập trung lực lượng lớn từ ba hướng: Nam Bộ đánh lên, Cămpuchia đánh sang, từ Đắk Lắc đánh xuống, tập trung tấn công đại bản doanh của nghĩa quân N’Trang Lơng. Đang lúc cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, gay go nhất thì tù trưởng R’Ong, R’Dinh, những vị chỉ huy đầy mưu lược và là cánh tay đắc lực nhất của đang N’Trang Lơng bị tử trận và sa vào tay giặc. Lương thực,vũ khí và thuốc men của nghĩa quân tại căn cứ Nâm Nung thiếu thốn nghiêm trọng. Sau trận càn này, quân Pháp lập thêm nhiều đồn bốt như đồn Hăngrimet, đồn Boukok tiếp tục siết chặt vòng vây đối với nghĩa quân. Đầu mùa mưa năm 1935, trong một trận chiến đấu không cân sức, thủ lĩnh N’Trang Lơng bị trọng thương và sa vào tay giặc, ông hy sinh vào đêm 23/5/1935. Cũng có một số tài liệu ghi cuộc tập kích của quân Pháp vào tháng 6/1935 do sự phản bội của một nghĩa quân tên là Bă Phông Phê nên tù trưởng N’Trang Lơng bị trọng thương, bị bắt và bị xử tử ngày 25/6/1935.

Lễ kỷ niệm 100 năm phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng (1912-2012) được tổ chức trọng thể tại Trung tâm hội nghị tỉnh Đắk Nông.

Cuộc khởi nghĩa của các đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên chống thực dân Pháp xâm lược kéo dài 24 năm (1911-1935) do thủ lĩnh N’Trang Lơng đứng đầu bị ke thù đàn áp và dập tắt. Nhưng ý chí kiên cường, tinh thần đoàn kết các dân tộc trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung của N’Trang Lơng và nghĩa quân đã khích lệ các thế hệ người M’Nông, S’Tiêng, Ê đê, Mạ, Chàm, Kinh, K’ho ở Đắk Nông, Krông Nô, Đắk Mil…kế tiếp nhau đứng lên chống bọn xâm lược và tay sai. Nhằm ghi nhớ công lao và những chiến tích của vị tù trưởng, thủ lĩnh người M’Nông, nhân kỷ niệm 100 năm khởi nghĩa N’Trang Lơng, UBND tỉnh Đắk Nông đã quyết định xây dựng Tượng đài anh hùng N’Trang Lơng tại thị xã Gia Nghĩa, đồng thời phục dựng các di tích là địa điểm chống thực dân Pháp của đồng bào M’nông do thủ lĩnh N’Trang Lơng lãnh đạo tại xã Đắc R’Tih và xã Đắk Buk So, huyện Tuy Đức gồm các hạng mục như: các điểm chiến đấu, hầm hào, công sự…những trận địa chiến đấu và chiến thắng như: bon Bu Nơr, đồn Bu méra, bia Henri Maitre …theo đề án qui hoạch giai đoạn 2011-2014.

Hoàng Ngọc Chính (Tổng hợp)

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

  • 08/07/2019 14:36
  • 2032

Duyên nghiệp sử sách cho tôi nhiều dịp may hiếm có, ví như bỗng một ngày, tôi được gặp nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh ở tọa đàm về cuộc đấu tranh của những người yêu nước và cộng sản ở nhà tù Sơn La do cụ Nguyễn Văn Trân tổ chức vào hè năm 2007. Không thể hình dung được ông nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng, dáng cao manh mảnh, đôi mắt tinh anh, lại đã từng bị tù ở Sơn La cùng với bí thư chi bộ nhà tù Trần Huy Liệu.

Bài viết khác

Tình tiết bí ẩn về chuyến đi sứ của vua Quang Trung (2)

Tình tiết bí ẩn về chuyến đi sứ của vua Quang Trung (2)

  • 15/08/2013 17:00
  • 2015

Chuyến đi Bắc quốc có một không hai của vua Quang Trung đã diễn ra với nhiều tình tiết thú vị và... bí ẩn.