Thứ Sáu, 21/01/2022
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

09/08/2013 16:34 2922
Điểm: 5/5 (1 đánh giá)
Ông sinh ngày 14 tháng 6 năm 1906 trong một gia đình nhà nông nghèo, hiếu học ở làng Ngọc Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Cha mẹ ông sinh tới 17 người con nhưng chỉ sống được 4 người, ông là con út trong nhà. Gia đình nghèo, nên trong ông luôn có một ý chí nỗ lực vươn lên, vượt qua khó khăn. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ông đã là một học sinh xuất sắc.

Năm 1925, ông đã viết tiểu thuyết Cậu bé nhà quê. Tác phẩm đã được Nhà văn Alfred Bouchet dịch sang tiếng Pháp “Le petit campagnard” và sau đó năm 1934 được đưa vào sách giáo khoa.

Chân dung cố GS-NGND Nguyễn Lân (1906-2003) (Ảnh do gia đình cung cấp).

Năm 1927: ông thi đỗ Thủ khoa vào Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Năm 1932, tốt nghiệp thủ khoa của trường, ông về dạy học tại Trường Hồng Bàng (Hải Phòng); sau đó làm giám học và dạy 2 môn văn, sử tại Trường Thăng Long (Hà Nội). Tại Trường Tư thục Thăng Long, cùng với các nhà giáo giỏi như Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Bình ... ông đã đào tạo được những tú tài xuất sắc cho Việt Nam. Từ năm 1935 đến năm 1945 ông sinh sống tại Huế. Tại đây, ông đã dạy học ở 3 trường Đồng Khánh, Quốc học và Bách công. Ông còn tích cực tham gia trong Hội truyền bá Quốc ngữ năm 1938. Thời gian này, theo nhạc sĩ Trần Hoàn (là học sinh Quốc học Huế) kể lại; khi đó thầy Lân đã truyền bá tư tưởng yêu nước thông qua việc dạy chữ Quốc ngữ và dạy sử và ông bị bọn mật thám Pháp làm khó dễ, đe dọa nhiều lần.

Năm 1945: ông được Chính phủ Trần Trọng Kim mời làm Đốc lý ở Huế, ông đã chấp thuận với 2 yêu cầu: tuy làm đốc lý nhưng vẫn ăn lương nhà giáo và có giờ dạy học; không giao thiệp với người Nhật đang có mặt ở Huế lúc ấy. Thời gian này ông đã mở một lớp sư phạm, đồng thời tiến hành một số hoạt động hướng về cách mạng Việt Nam, ông đã mời các nhân sĩ ở Huế đến họp để đổi tên các đường phố từ tên tiếng Pháp sang tên tiếng Việt. Khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông được giao trọng trách Giám đốc Học chính Trung bộ. Năm 1946 ông trở ra Hà Nội và dạy học tại Trường Chu Văn An. Được một thời gian, kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông đưa vợ con lên vùng Việt Bắc và được cử làm Giám đốc giáo dục Liên khu 10 gồm 6 tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên (nay là Vĩnh Phúc), Tuyên Quang, Lào Cai và Hà Giang. Phương tiện đi lại thời đó chỉ với chiếc xe đạp, ông đã đạp xe đi hết các tỉnh trong Liên khu. Sau đó, ông được cử làm Giám đốc giáo dục Liên khu Việt Bắc gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn. Thời kỳ này, ông liên tục được Bác Hồ gửi thư khen và Bằng khen “một giám đốc có tài”. Bác Hồ còn gửi tặng ông một bộ quần áo lụa (nay đang lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh). Năm 1951, ông được cử đi dạy học ở Khu học xá Nam Ninh tại tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc.

Năm 1956: ông về dạy và làm Chủ nhiệm Khoa Tâm lý giáo dục học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho đến khi nghỉ hưu. Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân đợt I (2001) . Bên cạnh việc dạy học, GS. Nguyễn Lân còn tham gia nhiều hoạt động xã hội ở nhiều cương vị: Hội trưởng Hội văn hóa Trung bộ; Hội trưởng Hội Liên Việt khu 10; Ủy viên Thường vụ Đảng xã hội Việt Nam; Ủy viên Đoàn Chủ tịch MTTQ Việt Nam. Ở cương vị nào, GS cũng luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong quá trình dạy học, GS. Nguyễn Lân còn là tác giả biên soạn nhiều công trình giáo dục nổi tiếng như: Lịch sử giáo dục học thế giới (NXB Giáo dục 1958); viết chung Giáo trình Giáo dục học (NXB Giáo dục 1961); Giảng dạy trên lớp (NXB Giáo dục 1961); Công tác chủ nhiệm lớp (NXB Giáo dục 1962). Với những công trình này, ông đáng được liệt vào hàng sư biểu của Việt Nam. Không chỉ dạy học, viết sách, tham gia hoạt động xã hội, GS. Nguyễn Lân còn sáng tác văn học. Với bút danh Từ Ngọc, ông đã viết nhiều tiểu thuyết: Khói hương (1935); Ngược dòng (1936); Hai ngả (1936) cùng nhiều truyện ngắn khá đặc sắc khác như: Ai khốn nạn; Tiếng vàng; Ngoài khơi…Tác phẩm của ông đề cao những giá trị nhân văn, hướng vào bênh vực cho những số phận nghèo khó, bất hạnh; góp phần cổ vũ cho những tư tưởng mới tích cực trên văn đàn đương thời. GS. Nguyễn Lân không chỉ viết truyện mà ông còn viết khảo luận, nghiên cứu. Tiêu biểu có 2 tác phẩm: Nguyễn Trường Tộ (viết năm 1943); Khảo thí truyện trê cóc (1959). Trong công cuộc đổi mới hôm nay, với cách nhìn hiện đại, Nguyễn Trường Tộ được coi là người tiên phong có tư tưởng đổi mới trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Do vậy sách viết về Nguyễn Trường Tộ của GS. Nguyễn Lân cách đây đã nửa thế kỷ cho thấy tư duy của ông thật sáng suốt. Dù viết còn sơ lược nhưng cuốn sách vẫn là công trình đầu tiên tiên phong cho sứ mệnh phục hưng một giá trị tư tưởng. Bên cạnh đó, GS. Nguyễn Lân còn sáng tác thơ, dù không nhiều: “Tôi vẫn hay làm thơ/Nhưng không là thi sĩ…Dù chẳng là thi sĩ/Vẫn cứ thích làm thơ/ Ca ngợi chân-thiện-mỹ/Từ muôn thủa đến giờ”. Năm 1994, thơ của GS. Nguyễn Lân được tập hợp và in thành tập Nhớ nguồn (NXB Văn học).

Vợ chồng cố GS- NGND Nguyễn Lân (Ảnh do gia đình cung cấp).

Ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tề một người phụ nữ hiền, đẹp, nữ sinh trường Sainte Marie ở Hà Nội, là con gái nhà đại điền chủ Nguyễn Hữu Tiệp. Vợ chồng ông có 8 người con, tất cả đều là giảng viên của các trường đại học lớn và đều là những nhà khoa học xuất sắc, nổi tiếng của Việt Nam gồm 3 Giáo sư, 3 Phó Giáo sư, 7 Tiến sĩ.

Người con trai cả là Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Lân Tuất, nguyên Chủ nhiệm khoa lý luận và sáng tác của Nhạc viện Novoxibiec - Nga, Phó Chủ tịch Hội người Việt ở Nga, người Việt đầu tiên được phong tặng Nghệ sĩ Công huân Nga (năm 2001).

Người con thứ hai là nữ Tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh (bà đã qua đời), nguyên là giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Người con thứ ba là Giáo sư - Tiến sĩ, NGND. Nguyễn Lân Dũng, Nguyên Giám đốc Trung tâm vi sinh vật học ứng dụng, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, XI, XII, Nhà giáo Nhân dân - giảng viên khoa Sinh học trường Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Người con thứ tư là Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Lân Cường, Nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Tổng Thư ký Hội Khảo cổ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Cổ sinh địa tầng Việt Nam, Chánh Văn phòng Hội Âm nhạc Hà Nội.

Người con thứ năm là Nhà nghiên cứu Nguyễn Lân Hùng, Tổng Thư ký Các hội sinh học Việt Nam, giảng viên khoa Sinh học - Đại học Sư phạm Hà Nội.

Người con thứ sáu là Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Lân Tráng, Nguyên là giảng viên bộ môn Hệ thống điện, khoa Điện, trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Người con thứ bảy là Giáo sư - Tiến sĩ - NGND. Nguyễn Lân Việt là Viện trưởng Viện Tim mạch Việt Nam, Chủ nhiệm Bộ môn Tim mạch - Đại học Y Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam; nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội.

Người con út là Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Lân Trung, Hiệu Phó Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Chủ tịch Liên đoàn bóng đá Việt Nam VFF.

Vợ chồng cố GS- NGND Nguyễn Lân và 8 người con- những nhà khoa học xuất sắc (Ảnh do gia đình cung cấp).

Năm 1971: GS. Nguyễn Lân về nghỉ hưu ở tuổi 67. Từ đó cho đến khi qua đời, ông đã dành trọn thời gian cho việc biên soạn từ điển và nghiên cứu nhằm gìn giữ, phát triển tiếng Việt. Các cuốn từ điển nổi tiếng do ông biên soạn những năm đang công tác như: Từ điển chính tả phổ thông (1963); Thuật ngữ tâm lý giáo dục (1967). Sau khi nghỉ hưu, ông đã biên soạn: Từ điển Việt - Pháp (1981); Từ điển Hán - Việt (1989); Từ điển Việt – Pháp (1989) cùng GS. Lê Khả Kế; Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam (1989); Từ điển thành ngữ, Tục ngữ Pháp – Việt (1993), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt- Pháp (1994); Từ điển từ và ngữ Việt Nam (2000)...

Năm 1988: với những cống hiến to lớn của mình cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, GS. Nguyễn Lân được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng nhà nước về khoa học và công nghệ cho "Cụm công trình về giáo dục học từ điển tiếng Việt". Ngày 10 tháng 7 Âm lịch năm 2003, Ông qua đời ở tuổi 97 trong sự tiếc nuối vô hạn của đông đảo học trò, gia đình, người thân và tất cả những người yêu quý ông.

Giáo sư- Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân đã cống hiến trọn đời mình cho nền giáo dục Việt Nam. Khi đất nước còn bị thực dân Pháp cai trị, ông đã giáo dục, dạy dỗ và khơi gợi tinh thần yêu nước vào một bộ phận tầng lớp thanh niên tiểu tư sản để rồi sau đó họ là những người phục vụ đất nước, cách mạng Việt Nam. Khi giữ chức vụ Giám đốc Giáo dục liên khu 10, ông đã bổ dụng các Trưởng Ty giáo dục (nay là Giám đốc các Sở Giáo dục và đào tạo) và cùng họ lo toan để đưa nền giáo dục dần vào nề nếp. Ông tích cực tham gia các hoạt động kháng chiến như tăng gia sản xuất, lấy tiền giúp quỹ thương binh, dạy các lớp bình dân học vụ, thăm hỏi bộ đội. Bên cạnh đó ông còn biên soạn tài liệu để in thành sách giáo khoa văn, sử đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập. Khi giảng dạy ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ông đã đào tạo được một đội ngũ giáo viên tâm lý – giáo dục giỏi cho các viện và các trường đại học, phổ thông mới thành lập. Ông là người Thầy về tâm lý giáo dục và ngôn ngữ Việt. Ông là nhà giáo nhân dân, nhà biên soạn từ điển, học giả nổi tiếng của Việt Nam. Ông là người có công trong việc xây dựng bộ môn và khoa tâm lí học, giáo dục học của hệ thống các trường Sư phạm ở Việt Nam. Không chỉ để lại cho đất nước những di sản văn hóa mà ông còn có công sinh ra và nuôi dạy những người con ưu tú, những nhà khoa học lớn. Gia đình ông là tấm gương sáng của một dòng họ lớn ở Việt Nam. GS. Nguyễn Lân Dũng đã xúc động viết về cha đẻ của mình - giáo sư Nguyễn Lân: "Chúng tôi vô cùng tự hào về cái gia tài tinh thần mà cụ đã để lại cho muôn đời con cháu. Đó là tấm gương về lòng tin, tin ở chính mình, tin ở sự nghiệp vẻ vang của dân tộc, tin ở lẽ phải, ở chính nghĩa, tin ở tất cả những người lương thiện sống quanh ta. Đó là tấm gương về lòng hiếu học và ý chí phấn đấu học tập suốt đời để không ngừng làm giàu kiến thức cho mình và dùng kiến thức ấy để cống hiến cho sự nghiệp trồng người. Đó là tấm lòng nhân ái, yêu đời, yêu người, vị tha, khoan dung dành cho những người sống quanh mình. Đó là tấm gương về nếp sống giản dị, tiết kiệm, không màng công danh, phú quý, không chuộng hình thức, luôn khiêm nhường và quý trọng sức lao động của người khác”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết về GS- NGND Nguyễn Lân: “Là một trong những người có công xây dựng nền giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập thời đại Hồ Chí Minh, anh đã góp phần đào tạo cho nước ta nhiều thế hệ cán bộ, công dân ưu tú, đã dành tâm huyết và nghị lực sáng tạo cho sự nghiệp gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt, đã từng có tác phẩm lớn về Giáo dục, Văn hóa, Ngôn ngữ, đặc biệt là công trình biên soạn Từ điển”.

Minh Vượng (tổng hợp)

TLTK: - Vinh quang nghề thầy- NXBGD- 2004.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

  • 08/07/2019 14:36
  • 2032

Duyên nghiệp sử sách cho tôi nhiều dịp may hiếm có, ví như bỗng một ngày, tôi được gặp nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh ở tọa đàm về cuộc đấu tranh của những người yêu nước và cộng sản ở nhà tù Sơn La do cụ Nguyễn Văn Trân tổ chức vào hè năm 2007. Không thể hình dung được ông nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng, dáng cao manh mảnh, đôi mắt tinh anh, lại đã từng bị tù ở Sơn La cùng với bí thư chi bộ nhà tù Trần Huy Liệu.

Bài viết khác

Nữ Đô đốc Bùi Thị Xuân, người tạo nên đội tượng binh của quân Tây Sơn

Nữ Đô đốc Bùi Thị Xuân, người tạo nên đội tượng binh của quân Tây Sơn

  • 09/08/2013 09:55
  • 5245

Tại Việt Nam, kỹ thuật sử dụng voi chiến đã có từ khá sớm. Các tài liệu lịch sử từng ghi nhận trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 đã sử dụng lực lượng voi chiến đánh lại quân nhà Đông Hán. Cũng có những hình ảnh ghi nhận Bà Triệu cũng sử dụng voi chiến trong cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô.