Thứ Bảy, 16/10/2021
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

18/07/2013 09:42 2735
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rằng: “… Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phúc, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập…”.(trích “Đạo đức cách mạng” – Hồ Chí Minh).

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là Tổng Bí thư thứ tư của Đảng. Và cũng là Tổng Bí thư trẻ tuổi nhất và đầu tiên được đào tạo, trưởng thành từ thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng ở trong nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (1912-1941) (Ảnh TLBTLSQG)

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 09 tháng 07 năm 1912 (tức ngày 25/5/1912 âm lịch), mất ngày 28 tháng 08 năm 1941. Đồng chí sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo có truyền thống yêu nước, và là hậu duệ đời thứ 17 của dòng họ Nguyễn Trãi giàu truyền thống hiếu học (có tới 03 tiến sĩ đại khoa, 18 cử nhân, nhiều tú tài), ở thôn Phù Khê, xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nguyễn Văn Cừ là trưởng nam trong một gia đình có bốn chị em. Cha là ông Nguyễn Trọng Mạo (tức Nguyễn Văn Quán), vì giàu đức độ và tính yêu thương con trẻ, dân trong làng xã gọi ông là Đồ Quán, được mọi người kính trọng mến thương. Mẹ là bà Nguyễn Thị Khuyến, là người hiền hậu, cần cù, quanh năm suốt tháng chỉ biết tần tảo nuôi con.

Văn bằng Việt Nam sơ đẳng tiểu học (bằng tốt nghiệp tiểu học), số 171 do Công sứ tỉnh Bắc Ninh chứng nhận đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã đỗ trong kỳ thi tại Bắc Ninh, ngày 1/9/1925.(Ảnh TLBTLSQG).

Cuộc đời của đồng chí Nguyễn Văn Cừ tuy quá ngắn (hy sinh khi tuổi đời vừa 29). Nhưng sự nghiệp cách mạng của đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã để lại cho thế hệ sau tấm gương về một nhà lãnh đạo lỗi lạc, chí lớn, tài cao, đức trọng, được quần chúng cảm phục và yêu thương, một dạ tận trung với nước, tận hiếu với dân được đời đời ghi nhớ.

Mang trong mình truyền thống yêu nước của dân tộc, Nguyễn Văn Cừ đã quyết định đi vào hoạt động cách mạng khi còn rất trẻ. Với mong muốn bằng chính hoạt động của mình trong phong trào cách mạng, góp phần thức tỉnh, cổ vũ lòng yêu nước của đồng bào mình, đang lầm than, tủi nhục bởi sự thống trị của bọn thực dân xâm lược, Nguyễn Văn Cừ đã hòa mình nhanh chóng vào không khí chính trị càng ngày càng sôi động và phát triển lúc bấy giờ. Qua các cao trào cách mạng 1930 – 1931, 1936 – 1939, cũng như trong những năm bị tù đày trong các nhà tù của chế độ thực dân, bản lĩnh cách mạng, tinh thần đấu tranh của Nguyễn Văn Cừ ngày càng được tôi luyện, rèn giũa. Sau khi ra tù, Nguyễn Văn Cừ cùng các đồng chí của mình lao vào hoạt động trên trận địa mới với muôn vàn khó khăn gian khổ về nhiều mặt, do tình hình mới đặt ra cần phải giải quyết. Với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú, lại nắm được cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Văn Cừ sớm trở thành một trong những lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ này, dù tuổi đời còn rất trẻ.

Sách “Tự chỉ trích”, do đồng chí Nguyễn Văn Cừ- Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương biên soạn sau cuộc tổng tuyển cử Hội đồng quản hạt ở Nam Kỳ, năm 1939.(Ảnh TLBTLSQG)

Đặc biệt, trong hơn hai năm với cương vị là Tổng bí thư của Đảng, Nguyễn Văn Cừ cùng với các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng ta đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhiệt tình và tri thức cách mạng, giữa thực tiễn và lý luận nhằm giải quyết đúng đắn, sáng tạo những nhiệm vụ cơ bản của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc: mối quan hệ giai cấp và dân tộc, giữa chiến lược và sách lược, vấn đề đấu tranh giữ vững nguyên tắc tổ chức mácxít-lêninnít trong công tác xây dựng đảng kiểu mới của Lênin, đấu tranh phê bình và tự phê bình trong nội bộ Đảng, chống các khuynh hướng tả khuynh cô độc, hữu khuynh thỏa hiệp,…. Đồng thời đề ra một loạt những biện pháp, hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động sao cho phù hợp với tình hình mới, để vừa bảo toàn, vừa phát triển được lực lượng cách mạng thời kỳ này và chuẩn bị tích cực cho bước tiến của phong trào trong những năm tiếp theo. Nhưng vấn đề quan trọng và tiêu biểu nhất đồng thời cũng là cống hiến hớn nhất của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ vẫn là quyết định chuyển hướng chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc và đưa vấn đề khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trở thành điều kiện cốt tử cho sự thắng lợi của công cuộc đánh đuổi bọn xâm lược để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Những quan điểm cơ bản đó của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, đã được hoàn chỉnh và hoàn thiện hơn tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII vào tháng 5/1941, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn lớn, không chỉ có giá trị chỉ đạo phong trào cách mạng lúc bấy giờ, mà còn là tư tưởng chỉ đạo chung của Đảng trong cả tiến trình giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc trong nửa cuối thế kỷ XX.

Như vậy, từ khi thoát ly gia đình đến lúc hy sinh Nguyễn Văn Cừ đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp của một chiến sĩ cộng sản năng động, sáng tạo, có trình độ tổ chức cao, có khả năng đoàn kết rộng, có uy tín lớn, đã để lại cho Đảng ta, dân tộc ta một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, đạo lý làm người và lòng tin tưởng mãnh liệt vào lý tưởng cộng sản. Những cống hiến lớn nhất, tiêu biểu nhất của Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ cho Tổ quốc, xứng đáng được tôn vinh là “nhà lãnh đạo lỗi lạc của cách mạng Việt Nam”.

Hoàng Minh (phòng TBNT&KGTN)

Tài liệu tham khảo:

1.Sách “Đạo đức cách mạng” – Hồ Chí Minh.

2.Sách “Nguyễn Văn Cừ - Nhà lãnh đạo xuất sắc, một tấm gương cộng sản mẫu mực” – Nhà xuất bản Chính trịnh quốc gia – Sự thật.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

  • 08/07/2019 14:36
  • 1744

Duyên nghiệp sử sách cho tôi nhiều dịp may hiếm có, ví như bỗng một ngày, tôi được gặp nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh ở tọa đàm về cuộc đấu tranh của những người yêu nước và cộng sản ở nhà tù Sơn La do cụ Nguyễn Văn Trân tổ chức vào hè năm 2007. Không thể hình dung được ông nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng, dáng cao manh mảnh, đôi mắt tinh anh, lại đã từng bị tù ở Sơn La cùng với bí thư chi bộ nhà tù Trần Huy Liệu.

Bài viết khác

Đồng chí Phan Đăng Lưu với báo chí Trung kỳ thời kỳ mặt trận Dân chủ.

Đồng chí Phan Đăng Lưu với báo chí Trung kỳ thời kỳ mặt trận Dân chủ.

  • 16/07/2013 16:15
  • 1799

Đồng chí Phan Đăng Lưu sinh ngày 5-5-1902, quê xã Tràng Thành (nay là Hoa Thành), Yên Thành, Nghệ An. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, thuở nhỏ học chữ Hán, rồi theo học Trường Trung học Pháp - Việt ở Vinh. Sau vào Huế học, rồi ra học trường Canh Nông tại Hà Nội.