Thứ Bảy, 25/06/2022
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

16/08/2012 08:19 2456
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Nói đến Lương Thế Vinh, người ta thường nghĩ đến tài văn chương thơ phú và nhất là toán học của ông mà ít ai biết rằng ông còn là một người đa tài trong nhiều lĩnh vực như âm nhạc, tôn giáo, nghệ thuật diễn xướng… và cả về luật pháp với những cống hiến thú vị, hiệu quả.

Trạng Lường đề xuất xử lý các trường hợp “không chồng mà chửa”

Dân gian có câu ca rằng: “Không chồng mà chửa mới ngoan/Có chồng mà chửa thế gian sự thường”, đó như một sự phản ứng lại những khắt khe của quan nệm đương thời.

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, dù đã có cái nhìn thoáng đãng hơn nhưng những người phụ nữ ở vào trường hợp ấy ít nhiều vẫn chịu điều ra tiếng vào của dư luận nói gì đến xã hội phong kiến thời xưa thì chuyện “không chồng mà chửa” bị người đời nhìn với ánh mắt nhiều dị nghị, khinh miệt.

Người ta cho rằng đó là thước đo đánh giá phẩm hạnh của người phụ nữ, nếu một người không chồng mà chửa là gây ra chuyện tày trời, làm mất danh tiết, không thể chấp nhận được, do đó họ bị dẫn đi khắp làng để bêu xấu, bị cạo đầu bôi vôi rồi thả trôi sông… chịu những hình phạt vô cùng nghiệt ngã do lễ giáo phong kiến.

Tuy nhiên, trên phương diện quản lý nhà nước, mặc dù chuyện chửa hoang bị phản đối quyết liệt nhưng pháp luật vẫn đặt ra các quy định khác nhau về vấn đề này, có sự cân nhắc nặng nhẹ về mặt tình tiết, điều kiện, hoàn cảnh để xử lý sao cho hợp tình hợp lý.

“Không chồng mà chửa” Tranh phác thảo của danh họa Bùi Xuân Phái
“Không chồng mà chửa” Tranh phác thảo của danh họa Bùi Xuân Phái

Quy định ít nhiều tiến bộ đó thể hiện sự nhân đạo, minh bạch trong pháp luật nhà Hậu Lê và còn có đóng góp của các danh nhân, văn thần nổi tiếng mà Lương Thế Vinh là một người trong số đó.

Trong sách Hồng Đức thiện chính thư có đoạn cho biết việc Trạng nguyên họ Lương dâng sớ lên vua Lê Thánh Tông đề xuất cách xử lý chuyện “không chồng mà chửa” như sau:

“Nhà nọ có cô con gái, đóng cửa kén chồng. Cô ta mới lớn, xuân tình phát triển, một hôm gặp anh học trò, muốn kết thành vợ chồng mà không dám tỏ tình. Khi đó có người hàng xóm nghèo khổ, cô ta trong bụng không ưng nhưng tình dục khó át đi, bèn thông dâm với người đó dẫn đến có thai.

Cha mẹ cô ta biết chuyện bèn tra hỏi cô gái. Cô ta thấy việc không thể giấu, đành kể thực tình. Cha mẹ cô ta tức giận vì thấy người kia nghèo khổ, bèn vu cho anh học trò và phát đơn kiện. Người học trò đó khai rằng:

Không hề có chuyện đó, chính cô ta thông dâm với người hàng xóm nghèo khổ, xin bắt anh ta đến để đối chất. Quan khám án căn cứ vào luật phán xử rằng: Việc người con gái thông dâm xảy ra nơi kín đáo, lại không khám nghiệm được, khó mà có bằng cớ, ý muốn là không có bằng cớ để xử theo pháp luật.

Nhưng trong đơn kiện trình đã có dấu tích, cô gái có thai chính là bằng chứng. Quan khám án bèn bắt cả hai người phải thề, người học trò đồng ý thề, còn người hàng xóm nhất định không chịu thề.

Quan lại tra hỏi người nào thông dâm với thị, lúc đó thị mới khai thực là anh hàng xóm. Nhưng việc này xử là anh hàng xóm vu vạ cho anh học trò, về lý phải chịu tạ tội, anh hàng xóm phải trị tội nặng, song chiếu theo điều luật, có điều đúng và có điều chưa đúng, nên sự khốc hại lại càng thậm tệ.

Nay thần là Lương Thế Vinh, xét trong luật nhà Minh có nói rằng: Xét về tình không có dấu tích, nên dễ vu oan, nếu không bắt được quả tang thì việc đó không có bằng cớ và chỉ là lời khai người nào đó thông dâm với mình.

Nếu lời khai không có bằng chứng thì đều không xét tội. Gian phụ có thai thì ở phía gian phụ là có bằng chứng, mà ở phía nam phu lại không có bằng chứng, chỉ có thể xử gian phụ cái tội thông gian… Căn cứ vào những điều đó, kính cẩn tâu xin ban bố điều lệ để thi hành”.

Trên cơ sở những tấu trình của quan Trạng Lương Thế Vinh, vua Lê Thánh Tông xét thấy cần ban bố một số quy định về vấn đề “nhạy cảm” này nhằm chấn chỉnh phong hóa, giữ gìn nền nếp gia phong, đạo đức xã hội nên vào năm Bính Thân (1476) niên hiệu Hồng Đức thứ 7, đã ra chiếu lệnh với cách xử lý những sự việc liên quan như sau:

“Nếu là thông dâm thì phạt đánh 80 trượng. Có chồng mà thông dâm thì phạt đánh 90 trượng; dụ dỗ, tán tỉnh người khác thông dâm, phạt đánh 100 trượng, lưu đày 3000 dặm.

Thông dâm với trẻ nhỏ từ 12 tuổi trở xuống thì tuy là thuận tình nhưng vẫn xử theo tội cưỡng dâm, tội thông dâm và tội dụ dỗ người khác thông dâm, nam nữ cùng tội như nhau.

Những đứa trẻ do thông dâm mà sinh ra là trai hay gái đều bắt gian phu phải nuôi dưỡng, gian phụ thì tùy cho người chồng gả hay bán, hoặc người chồng vẫn giữ lại làm vợ thì cũng cho phép.

Nếu gả bán gian phụ cho gian phu thì người chồng và gian phu mỗi người bị phạt đánh 80 trượng, gian phụ phải li dị trở về nhà mình, tài sản thì bị tịch thu sung công.

Trường hợp cưỡng dâm thì đàn bà, con gái không bị xử tội. Những kẻ môi giới, chứa chấp làm nơi thông dâm, đều bị xử tội giảm một bậc so với kẻ phạm tội thông dâm. Nếu thỏa thuận riêng với kẻ thông dâm thì cũng bị xử tội, giảm một bậc.

Nếu không bắt được quả tang, không có bằng chứng hoặc không chỉ ra được thủ phạm thì không được xử tội. Nếu gian phụ có thai, không tìm ra được thủ phạm thì không được gán tội cho người khác, nếu vi phạm điều này sẽ bị xử tội “thêm bớt tội cho người”.

Một ông Trạng có cuộc đời huyền thoại

 Chân dung Lương Thế Vinh (tranh lụa)
Chân dung Lương Thế Vinh (tranh lụa)

Lương Thế Vinh (1441-1495) tự là Cảnh Nghị, hiệu là Thụy Hiên, người làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Vụ Bản, Nam Định), từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng, rất giỏi tính toán, không sách nào không đọc, am tường nhiều việc..

Là một người đầy tài năng nên xung quanh cuộc đời Lương Thế Vinh được bao phủ bằng nhiều thuyết lạ. Chuyện ly kỳ về việc đầu thai của Lương Thế Vinh được ghi lại trong cuốn “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn như sau:

Tục truyền rằng Lương Thế Vinh là sao Văn Khúc từ trên trời giáng xuống nước Nam. Kiếp trước ông đã thác sinh vào một nhà ở huyện Nam Xương (sau này là huyện Nam Ninh, Nam Định), khi lên 7 tuổi được cha mẹ cho đi học; ở bên cạnh đường có con chó đá, mỗi khi thấy cậu học trò này đi qua thì nó lại vẫy đuôi mừng.

Cậu bé về kể chuyện với cha, người cha bảo: “Nó đã biết vẫy đuôi thì hẳn nó cũng biết nói. Con hỏi xem vì cớ gì mà nó mừng”. Hôm sau đi học qua, con chó lại vẫy đuôi, cậu bé đứng lại và hỏi, nó nói rằng: “Ngày sau cậu đỗ Trạng nguyên nên tôi mừng vậy!”.

Nghe kể lại, người cha bấy giờ tin rằng con mình sau này sẽ đỗ cao, làm quan lớn, từ đó ông sinh kiêu ngạo, thường hay va chạm, tranh chấp với người khác và đe rằng: “Mai sau con ông đỗ Trạng nguyên, ông sẽ hỏi tội chúng mày” (Người ta cho rằng câu tục ngữ: “Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng” được xuất phát từ chính câu chuyện này).

Thấy cha như vậy, cậu bé rất buồn, can ngăn mãi mà không được đành nói với mẹ rằng: “Mẹ thì hiền hậu mà cha lại kém đức, con không ở đây nữa. Xin từ giã mẹ, con đi chỗ khác đây!”.

Người mẹ ngạc nhiên hỏi: “Sao con lại nói gở thế. Công cha mẹ nuôi con bấy lâu nay, mong ngày sau con thành danh có chỗ để nương tựa. Nay chưa lấy gì trả được ơn cha nghĩa mẹ mà con lại nói lời từ biệt như vậy ?”.

Cậu bé vẫn khăng khăng nhất mực xin đi, người mẹ khuyên nhủ thế nào cũng không được đành khóc mà nói: “Con nói phải đi, vậy định đi đâu, hãy nói cho mẹ biết”. Cậu bé dặn mẹ cứ đến ngày ấy, tháng ấy thì tới làng Cao Hương, huyện Thiên Bản thì rõ. Lại còn dặn giữ lại sách vở của mình đã học. Nói xong thì mất.

Bấy giờ người phương Bắc xem thiên văn thấy vận nước Nam đang thịnh, người tài có nhiều, lại thấy Văn Khúc (sao văn học) sáng ngời giáng xuống bèn sai người sang nước ta tìm cách trấn yểm, diệt đi.

Lại nói, khi còn ở Nam Xương cậu bé đi chơi với một lũ trẻ con. Thầy phong thủy người Bắc qua đó, biết sao Văn Khúc ở trong đám trẻ nhưng không rõ là đứa trẻ nào mới đem bỏ một quả bưởi xuống hố sâu, đố lũ trẻ ai lấy lên được sẽ thưởng tiền.

Cậu bé không tự mình ra lấy nhưng bày cách cho một bạn đem nước đổ xuống, khi hố đầy nước thì quả bưởi sẽ tự nổi lên. Người phương Bắc kia gạn hỏi lũ trẻ mới biết được đó chính là mưu của cậu bé, đang nghĩ cách trừ đi nhưng không lâu sau đó thì cậu bé mất.

Khi xem thiên văn, biết vị thần ấy đã đi sang làng Cao Hương, ông ta liền đuổi theo thì thấy thần đã nhập vào một khối đá lớn. Nghe người khách lạ hỏi mua, chủ khối đá tưởng hỏi đùa nên nói:

“Phải đủ một trăm quan tiền tôi mới bán”. Khách trả đến bảy mươi quan, nhưng người chủ không biết thế nào, nghĩ rằng mình bị bỡn cợt, nhất định không bán; khách thấy vậy liền bỏ đi.

Có một người đàn bà đi làm đồng về, qua đó nghe mọi người bàn tán chuyện có khách lạ hỏi mua khối đá bèn dừng lại rồi đến giậm chân vào khối đá mà nói: “Khối đá này quý gì mà ông ta hỏi mua đắt thế ?”.

Không ngờ vị thần ở trong khối đá từ bấy giờ đầu thai ngay vào người đàn bà ấy. Hôm sau, người khách phương Bắc kia quay lại định mua khối đá cho bằng được, nhưng khi đến biết thần đã xuất mất rồi mới nói rằng:

“Bây giờ thì một đồng tôi cũng chẳng mua”. Biết là không thể trấn yểm được nữa, ông ta đành trở về phương Bắc.

Người đàn bà kia sau đó sinh một cậu bé rất rắn rỏi, tinh anh, người cha là Lương Thế Thiện mới đặt tên cho con là Lương Thế Vinh. Lạ một điều, khi mới sinh ra cậu bé ngày đêm chỉ khóc ròng; cha mẹ rồi hàng xóm thay nhau bế ẵm, dỗ dành nhưng không có kết quả.

Còn người mẹ trước, nhớ lời dặn mới tìm đến làng Cao Hương hỏi thăm. Nghe nói có một nhà mới sinh con trai, đứa bé khóc suốt ngày đêm, bà tới gia đình đó xin bế đứa bé trong chốc lát. Lúc này đứa bé mới thôi khóc.

Bấy giờ bà kể lại mọi chuyện cho chủ nhà nghe và từ đó thường xuyên qua lại thăm nom Lương Thế Vinh. Đến khi lớn, một hôm Lương Thế Vinh nói với mẹ trước rằng: “Mẹ về đem sách vở của con thuở trước cùng với số tiền con chôn ở dưới gốc cây táo mang sang đây cho con”.

Bà mẹ trở về đào dưới gốc táo, quả nhiên thấy có tiền liền đem sách và tiền đưa cho Lương Thế Vinh. Cha mẹ đẻ giờ mới thực sự tin, lại thấy người cha trước của con đã mất bèn đón bà mẹ trước về ở cùng.

Câu chuyện đầu thai kỳ lạ của Lương Thế Vinh hư thực thế nào không ai lý giải rõ được. Chỉ biết rằng ông là người được đánh giá có tài “kinh bang tế thế”, “danh vọng vượt bậc”.

Khi ông mất, triều đình thương tiếc khôn nguôi, vua Lê Thánh Tông đã ban sắc phong ông làm thượng đẳng phúc thần, hàm Đại vương và lệnh cho dân địa phương lập miếu thờ phụng mãi mãi.

  • Lê Thái Dũng
phunutoday.vn

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

  • 08/07/2019 14:36
  • 2401

Duyên nghiệp sử sách cho tôi nhiều dịp may hiếm có, ví như bỗng một ngày, tôi được gặp nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh ở tọa đàm về cuộc đấu tranh của những người yêu nước và cộng sản ở nhà tù Sơn La do cụ Nguyễn Văn Trân tổ chức vào hè năm 2007. Không thể hình dung được ông nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng, dáng cao manh mảnh, đôi mắt tinh anh, lại đã từng bị tù ở Sơn La cùng với bí thư chi bộ nhà tù Trần Huy Liệu.

Bài viết khác

GS Tôn Thất Dương Kỵ và người vợ cành vàng lá ngọc

GS Tôn Thất Dương Kỵ và người vợ "cành vàng lá ngọc"

  • 13/08/2012 09:14
  • 2240

Vốn xuất thân trong một gia đình danh giá, người phụ nữ ấy có ánh mắt cương nghị, vầng trán rộng và luôn giữ một “tinh thần thép” trong mọi hoàn cảnh. Bà đã một mình gánh vác, vực dậy cơ ngơi của gia đình ngay cả khi chồng bị tuyên án tử hình. Người phụ nữ ấy có công lớn đối với Cách mạng Việt Nam. Bà là Trần Xuân Huệ Phương - phu nhân Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ và là cháu nội của Đề đốc Trần Xuân Soạn.