Thứ Sáu, 03/04/2020
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

03/08/2012 21:13 1664
Điểm: 5/5 (1 đánh giá)
Vùng biên viễn Châu Đốc (An Giang) lâu nay nổi tiếng trong dân gian với những câu chuyện huyền thoại về Bà Chúa Xứ Thánh Mẫu ở Núi Sam (hiện nay lễ hội Vía Bà diễn ra hàng năm ở đền thờ Bà tại chân Núi Sam đã trở thành lễ hội cấp Quốc gia, thu hút hơn 2 triệu du khách/năm).

Nhưng lâu nay trong lòng người dân Châu Đốc còn lưu truyền những câu chuyện cảm động về một người phụ nữ dám đem tính mạng 3 đời thân tộc làm “tài sản thế chấp” để vay lúa của triều đình nhà Nguyễn cứu giúp dân nghèo trong những năm lụt lội đói khổ.

Người phụ nữ đó là bà Huỳnh Thị Phú, thuộc dòng tộc Lê Công nổi tiếng vùng biên giới.

Chấp nhận án “tru di tam tộc” để vay lúa cứu dân

Thị xã Châu Đốc (tỉnh An Giang) là một khu đô thị biên giới cổ kính có tuổi đời hàng trăm năm, nằm ngay ngã ba sông Châu Đốc, với nhiều dinh thự, đền đài xưa cũ.

Châu Đốc gắn liền với lễ hội Bà Chúa Xứ Thánh Mẫu, đồng thời còn ghi dấu nhiều công trình khẩn hoang mở đất của các bậc danh nhân như Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Trụ Quốc công Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại, mà dấu tích đến ngày nay vẫn còn chính là con lộ Châu Đốc - Núi Sam và kênh Vĩnh Tế nổi tiếng, một hệ thống thủy lợi - biên phòng lâu đời nhất miền biên giới Tây Nam của Tổ quốc.

Trên vùng đất Châu Đốc, từ thời khẩn hoang lập ấp đã xuất hiện một dòng tộc nổi tiếng yêu nước thương dân, được triều đình nhà Nguyễn phong tặng danh hiệu “Tiền hiền, Hậu hiền” của làng Châu Phú (bao gồm cả Châu Đốc ngày nay) và giao nhiệm vụ thờ tự, cúng giỗ Thượng đẳng đại thần Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh tại vùng Châu Phú, Châu Đốc, đó là dòng họ Lê Công.

Một góc Lê Công phủ đã 100 năm tuổi ở Châu Đốc.
Một góc Lê Công phủ đã 100 năm tuổi ở Châu Đốc.

Theo ghi chép của gia tộc và những câu chuyện do dân gian truyền tụng thì dòng họ Lê Công đã có mặt tại trấn Châu Đốc từ những ngày đầu khẩn hoang mở đất (khoảng năm 1785 đến 1837).

Ông tổ của dòng họ Lê Công là ông Lê Công Thoàn. Dòng họ Lê Công có gốc tích ở Thanh Hóa, do loạn lạc và mùa màng thất bát, cuộc sống khó khăn nên ông Lê Công Thoàn dẫn dắt bầu đoàn thê tử di cư vào Nam tìm đất khẩn hoang lập nghiệp trong những năm đầu thế kỷ XVIII.

Theo các tư liệu còn ghi chép thì lúc đầu ông Lê Công Thoàn và gia quyến lưu lạc đến lập nghiệp ở đất Long Hồ (thuộc tỉnh Vĩnh Long ngày nay), sau đó không hiểu vì lý do gì họ lại rời bỏ vùng đất quanh năm cây lành trái ngọt ở Long Hồ để đưa nhau đi ngược sông Tiền, trôi dạt qua sông Hậu và đến định cư, khai hoang lập ấp ở vùng Châu Đốc ngày nay.

Thời dòng tộc Lê Công đến vùng Châu Đốc, vùng đất này còn hoang sơ, rừng rú rậm rạp “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um”.

Qua nhiều đời con cháu tiếp nối nhau khai khẩn Châu Đốc, dòng tộc Lê Công trở thành một họ lớn ở miền biên viễn, nổi tiếng vì đã có nhiều công lao trong việc xây dựng vùng đất này trở nên trù phú, hiến đất xây dựng trường học, chợ búa và nhà thương từ khi còn là trấn Châu Đốc của nhà Nguyễn cho đến thời Pháp thuộc.

Cũng có chuyện kể rằng, dòng họ Lê Công thuộc dòng dõi của Lê Lai, người đã liều mình đổi Long bào của Vua Lê Lợi để hy sinh cứu Vua Lê thoát khỏi vòng vây của quân Minh. Đến khi nhà Nguyễn cầm quyền, dòng họ Lê Công có một người thân làm quan đến chức thượng thư trong triều đình Huế.

Khoảng năm 1734-1735, ông thượng thư họ Lê Công được triều đình cử đi kinh lược xứ Nam Kỳ, có dẫn theo một số người thân trong dòng học, trong đó có ông Lê Công Thoàn.

Khi đoàn quân binh của quan thượng thư đi đến vùng biên giới Châu Đốc, ông Lê Công Thoàn thấy vùng này tuy hoang vu nhưng tôm cá, sản vật dồi dào, đất đai màu mỡ nên đã ở lại và sau đó đưa thân nhân từ miền ngoài vào hợp lực khai phá đất đai, khẩn hoang lập ấp.

Những câu chuyện còn ghi lại của dòng họ Lê Công và những giai thoại dân gian vùng Châu Đốc kể rằng, trong dòng họ Lê, ngoài ông tổ Lê Công Thoàn có nhiều công lao khai khẩn vùng biên được triều đình nhà Nguyễn ghi nhận công đức và ban chiếu sắc phong chức “Tiền hiền” làng Châu Phú, ông Lê Công Bích là người được triều đình phong chức vụ “Tổng binh” nắm binh quyền, lo việc giữ yên bờ cõi. Dù nắm chức Tổng binh nhưng ông Lê Công Bích là một người nổi tiếng thương dân.

Do lập được nhiều công lao trong việc giữ yên biên cương phía Tây Nam của Tổ quốc nên sau khi mất, ông Lê Công Bích được triều đình nhà Nguyễn phong là "Hậu hiền" làng Châu Phú.

Nhưng người nổi tiếng nhất của dòng họ Lê Công chính là bà Huỳnh Thị Phú, người được dòng tộc tôn xưng là một trong những bà tổ của dòng họ, người có công lao lớn nhất trong họ tộc.

Không thấy tài liệu ghi bà Huỳnh Thị Phú là vợ của ông nào trong dòng họ Lê Công, sinh năm nào, mất năm nào, nhưng có một tài liệu ghi rằng: “Khoảng năm 1820 đến năm 1829 khi Trụ Quốc công Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại làm trấn thủ Châu Đốc, ông đã đứng ra khởi công xây dựng đình Châu Phú để thờ Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh.

Ban đầu đình Châu Phú tọa lạc trong một khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, nhiều bóng cây cổ thụ, mặt chính nhìn ra dòng sông Hậu.

Sách Đại Nam nhất thống chí ghi chép về ngôi đình này như sau: “Đền Lễ Công ở thôn Châu Phú, huyện Tây Xuyên, thờ Nguyễn Hữu Kỉnh (Cảnh). Đền do Nguyễn Văn Thụy (tức Thoại Ngọc Hầu) dựng khi làm Trấn thủ, nay hương lửa vẫn như cũ, thường tỏ anh linh...”.

Đây là ngôi đền được liệt vào danh mục thờ tự chính thống, phụng tự theo quốc điển thời nhà Nguyễn.

Đến thời Pháp thuộc, như nhiều đền thờ khác, Đền Lễ Công cũng bị đình hóa trở thành đình thờ thần của làng với tên gọi mới là Đình Châu Phú.

Nhưng đến năm 1926, nhà cầm quyền Pháp ở tỉnh Châu Đốc quyết định di dời ngôi đình để lấy đất xây dựng một bệnh viện (hiện nay là Bệnh viện thị xã Châu Đốc).

Khi đó bà Huỳnh Thị Phú của dòng họ Lê Công và Hương chủ Lan, một đại điền chủ ở vùng Châu Đốc, đứng ra vận động nhân dân đóng góp tiền của để chuyển ngôi đình đến đầu chợ Châu Đốc tọa lạc cho đến ngày nay, thuộc phường Châu Phú A thị xã Châu Đốc.

Cho đến nay ngôi đình do bà Huỳnh Thị Phú vận động di dời vẫn giữ nguyên nét đồ sộ và cổ kính. Như vậy cho đến năm 1926, bà Huỳnh Thị Phú vẫn còn tại thế dù không thấy tài liệu nào ghi lúc đó bà đã thọ được bao nhiêu tuổi.

Bàn thờ chính nơi có bài vị thờ bà Huỳnh Thị Phú, phía trên cùng là nơi thờ Thượng đẳng Đại thần Nguyễn Hữu Cảnh.
Bàn thờ chính nơi có bài vị thờ bà Huỳnh Thị Phú, phía trên cùng là nơi thờ Thượng đẳng Đại thần Nguyễn Hữu Cảnh.

Người ta kể rằng, lúc còn sinh thời, bà Huỳnh Thị Phú là 1 người hết mực thương yêu dân nghèo trong vùng.

Hồi đó vùng Châu Đốc chỉ toàn là rừng rậm, đầm lầy lau sậy, bưng trấp hoang vu và rất nhiều thú dữ, không làng, không xóm, chỉ có một cái đồn cheo leo của triều đình lập ra tại trấn này để canh giữ vùng biên cương.

Lúc bấy giờ, thành Châu Phú do các quan võ của triều đình và vài trăm quân lính trông coi. Hồi đó trong những lần đi thăm điền đất, bà Huỳnh Thị Phú đã chứng kiến cảnh nhiều người dân nghèo bị bệnh nhưng không có thầy thuốc chạy chữa nên phải chết oan ức.

Sau nhiều ngày đêm suy tính, cuối cùng bà Huỳnh Thị Phú quyết định bỏ tiền xây một nhà trị bệnh, rước danh y từ các nơi về trả lương bổng hậu hĩnh để họ an tâm lo việc chẩn trị, bốc thuốc miễn phí, trị bệnh cho dân nghèo quanh vùng Châu Phú - Châu Đốc, từ đó cứu mạng được rất nhiều người.

Sau khi lo xong việc trị bệnh cho dân, bà Huỳnh Thị Phú nhận thấy trẻ em trong vùng Châu Đốc đều thất học do không có trường lớp, từ đó không biết lễ nghĩa, nên bà quyết định bỏ tiền, hiến đất mở lớp học, xây trường, rước thầy giáo từ nơi khác về để dạy chữ Nho cho con em dân nghèo trong vùng, khiến nhiều người rất cảm kích.

Thời xưa vùng biên viễn Châu Đốc thường xảy ra động binh do giặc từ bên kia biên giới kéo sang cướp phá, nhiều khi giặc cướp từ các nơi tụ về hoành hành khiến quan quân đồn trú phải vất vả đánh dẹp.

Những lúc biên giới xảy ra chiến tranh ly loạn thì dân tình lao đao khốn khổ, đời sống khó khăn túng thiếu vì không ai dám ra đồng làm ruộng, nhiều gia đình phải lâm cảnh ly tán.

Có rất nhiều trường hợp những gia đình nông dân nghèo khó trong vùng chiến tranh loạn lạc không đủ gạo nuôi con, đành nhắm mắt gạt lệ đem con thả vào rừng cho thú dữ ăn thịt.

Gia đình nào không đành lòng bỏ con vào rừng thì đóng bè bằng cây chuối rồi buộc con cái vào bè, sau đó thả trôi theo dòng nước sông Hậu để mong có người cứu giúp con cái họ thoát cảnh chết đói hoặc chết chìm dưới lòng sông lạnh.

Những trường hợp như vậy, khi được gia nhân hoặc người dân trong vùng báo tin, bà Huỳnh Thị Phú đều tức tốc cho người vào rừng tìm những đứa trẻ vô phúc hoặc bơi thuyền ra sông Hậu tìm vớt những đứa trẻ bị thả trôi sông đem vào một ngôi nhà chung nuôi ăn học tử tế.

Từ việc làm nhân nghĩa của bà Huỳnh Thị Phú, sau này những gia đình nghèo khó không khả năng nuôi con không còn đem con cái bỏ vào rừng hoặc đóng bè thả trôi sông mà đem con đến nương nhờ người phụ nữ tốt bụng.

Nhưng câu chuyện được người ta nhớ nhiều nhất là việc bà Huỳnh Thị Phú dám mang sinh mạng của hàng trăm người trong 3 đời dòng tộc ra làm “tài sản thế chấp” với triều đình Huế để vay lúa cứu giúp dân nghèo khỏi lâm cảnh chết đói trong cơn lụt lội.

Người ta kể rằng vùng Châu Đốc xưa năm nào cũng bị lũ lụt tràn ngập từ tháng 7 đến tháng 11 Âm lịch, do dòng nước từ thượng nguồn phía Campuchia tuôn theo sông Hậu, kênh Vĩnh Tế vào vùng Châu Đốc gây ngập lụt ruộng đồng, nhà cửa.

Vào mùa lụt lội kéo dài mấy tháng trời, trên đồng nước ngập sâu 4 - 5 mét khiến người dân phải bỏ nhà cửa, đùm túm nhau đến những nơi khô ráo như Núi Sam và các ngọn núi lân cận để chạy lụt.

Nước ngập quá sâu nên không thể làm ruộng được, mùa nước lụt kéo dài 5 - 6 tháng, những người dân nghèo chạy lụt đều lâm cảnh đói kém, không có lúa gạo để cầm cự qua ngày.

Năm nào lũ lụt hoành hành khiến nhiều người dân lâm cảnh thất mùa, đói khát, khi nghe gia nhân báo tin, bà Huỳnh Thị Phú tức tốc sai người mở kho lúa của gia đình để cứu tế cho dân nghèo.

Nhưng kho lúa của gia đình có hạn, trong khi số người nghèo đói mỗi ngày một tăng do nước ngập tràn đồng lâu ngày, nên sau nhiều ngày suy đi tính lại, bà Huỳnh Thị Phú đã quyết định làm đơn xin vay lúa của triều đình nhà Nguyễn để cứu tế dân nghèo.

Thời đó ở thành Châu Đốc có một kho dự trữ lương thực của triều đình nhà Nguyễn để phòng khi có giặc ngoại xâm, việc sản xuất bị trở ngại thì quân binh có lương thực để đủ sức đối phó với quân giặc, bảo vệ biên cương.

Nếu vùng biên cương yên ổn, quan binh trong thành tuyệt đối không được mở kho lương nếu không có lệnh của triều đình nhà Nguyễn, ai vi phạm sẽ mang tội chết.

Nhưng trước tình cảnh dân chúng trong vùng và nhân công khẩn hoang lập ấp đói ăn do lụt lội, bà Huỳnh Thị Phú đã nhiều lần dâng sớ tâu rõ sự tình thương tâm và đứng ra chịu trách nhiệm, xin vay lúa của triều đình nhà Nguyễn trong kho Châu Đốc để cứu tế cho dân nghèo qua cơn nguy khốn.

Khi nhận “sớ vay lúa” của bà Huỳnh Thị Phú, quan binh trong thành Châu Đốc rất cảm kích trước tấm lòng thương dân như con của người phụ nữ thuộc dòng tộc Lê Công, nhưng họ tuyệt đối không dám làm trái lệnh triều đình mở kho xuất lúa cứu dân.

Các quan trấn giữ thành Châu Đốc chỉ có thể xác nhận việc dân nghèo trong vùng đói kém do lụt lội là có thật và việc bà Huỳnh Thị Phú vay lúa cứu dân là chuyện cấp thiết, sau đó chuyển “sớ vay lúa” của bà về cấp trên giải quyết.

Thời đó giao thông liên lạc khó khăn, công văn thư từ (và cả “sớ vay lúa” của bà Huỳnh Thị Phú) từ thành Châu Đốc phải dùng ngựa trạm, ngày đi đêm nghỉ chuyển về thành Gia Định, từ đây công văn giấy tờ lại tiếp tục được chuyển về triều đình Huế cũng bằng ngựa trạm, cả hai lượt đi về mất thời gian mấy tháng trời.

Trước tình cảnh đó, bà Huỳnh Thị Phú phải thực hiện kế sách: khi nước lụt bắt đầu tràn xuống thì bà viết “sớ vay lúa” gửi triều đình Huế.

Trong thời gian tờ sớ được chuyển đi từ Châu Đốc ra đến Huế và chờ phê duyệt rồi đưa trở về Châu Đốc thì bà Phú cho mở kho lúa của gia đình cứu tế dân nghèo.

Đến khi “sớ vay lúa” được triều đình phê duyệt chuyển về đến thành Châu Đốc thì lúa trong kho gia đình vừa hết, lúa đó tiếp tục lấy lúa trong kho của thành Châu Đốc cứu dân.

Từ lâu đã nghe uy tín, công đức của bà Phú và gia tộc Lê Công đối với dân nghèo nên khi nhận được “sớ vay lúa” của bà Phú thì triều đình nhà Nguyễn chấp thuận mở kho lúa thành Châu Đốc cho bà Phú vay để cứu dân nghèo trong cơn lụt lội.

Tuy nhiên triều đình Huế ra một điều kiện ngặt nghèo: bà Huỳnh Thị Phú phải làm cam kết trả lúa đúng hạn vào mùa lúa năm sau. Nếu không trả đủ lúa theo cam kết thì bà Phú và gia tộc Lê Công sẽ mắc tội với triều đình và phải chịu án “tru di tam tộc”.

Trước điều kiện ngặt nghèo của triều đình nhà Nguyễn, nhiều người trong gia tộc Lê Công đã hết sức hoang mang, lo lắng vì sợ năm sau mùa màng thất bát, không đủ lúa trả cho vua thì cả dòng họ sẽ bị xử chết.

Nhưng bà Huỳnh Thị Phú vẫn bình tĩnh khuyên mọi người trong gia tộc đừng hốt hoảng và bà mạnh dạn cam kết chịu trách nhiệm trả đủ lúa cho triều đình.

Người dân Châu Đốc kể rằng, sau khi nước lũ rút đi, người dân nghèo vì cảm kích trước tấm lòng thương dân của bà Huỳnh Thị Phú nên ra sức cày cấy trên đồng ruộng, cộng thêm lớp phù sa màu mỡ do nước lụt để lại nên năm nào cũng trúng mùa, giúp bà Phú có đủ lúa trả cho triều đình không thiếu một cân.

Những năm sau đó vào khoảng tháng 6, tháng 7 nếu nhìn thấy những hiện tượng thời tiết bất thường cho thấy khả năng sẽ có lụt lớn xảy ra, dân tình đói khổ là bà Huỳnh Thị Phú sai gia nhân đi một vòng trong vùng Châu Phú - Châu Đốc thống kê sơ bộ số dân nghèo cần cứu tế, sau đó viết “sớ vay lúa” gửi ra triều đình Huế.

Do bà Phú giữ uy tín, năm nào cũng trả đủ lúa vay nên triều đình nhà Nguyễn sẵn sàng mở kho cho bà vay lúa cứu dân nghèo. Tuy nhiên chưa bao giờ triều đình bỏ “điều kiện thế chấp” là án tru di tam tộc khi phê duyệt cho bà Huỳnh Thị Phú vay lúa cứu dân.

Người ta còn kể rằng, ngoài việc cứu giúp dân nghèo, bà Huỳnh Thị Phú còn là người sáng suốt minh mẫn, có đức độ và am hiểu nhiều việc thế sự.

Chính vì vậy mà trong cuộc sống hàng ngày bà Phú đã đóng góp nhiều sáng kiến hay để giải quyết tốt đẹp mọi việc rắc rối, tranh tụng của dân vùng Châu Phú - Châu Đốc thời đó.

Những việc làm nhân đức cũng như công lao khai hoang lập ấp, mở rộng đất đai canh tác, nỗ lực cải thiện cuộc sống cho cộng đồng của các vị tổ tiên tộc họ Lê Công và bà Huỳnh Thị Phú tại vùng Châu Phú - Châu Đốc đã được triều đình nhà Nguyễn ghi nhận và ban thưởng xứng đáng.

Ngoài việc phong hai ông Lê Công Thoàn, Lê Công Bích làm “Tiền hiền, Hậu hiền” của làng Châu Phú, triều đình nhà Nguyễn còn dành cho tộc họ Lê Công ở Châu Đốc một vinh dự khác là ban chiếu chỉ triệu họ về Huế tiếp nhận sắc phong của Thượng đẳng Đại Thần Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh về Lê Công phủ thờ tự, cúng giỗ.

Trong chiếu chỉ vua ban ghi rõ: “Vì tưởng nhớ công cao dày đức trọng của ông Nguyễn Hữu Cảnh ba lần đem quân dẹp giặc Cao Miên xâm lấn biên giới và lập công cuộc bảo hộ đất Miên, sắc này đã lập và phong chức Đại Thần từ đời vua Minh Mạng nhưng lựa không được người xứng đáng để thờ vị Thượng đẳng Đại thần nầy. Sau còn phong chức Lễ Thành Hầu tất cả là hai chức.

Xét vì ông Lê Công Thoàn có công lao khó nhọc khai hoang lập ấp và lập làng Châu Phú.

Ông Lê Công Bích nối tiếp cha khai cơ lập nghiệp cho dân, làm quan Tổng Binh công bằng chính trực, biết thương dân. Nay hai ông xứng đáng được thờ vị linh thần này.

Còn nghi thức tế lễ được đúng quy cách thì họ Lê Công phải đảm nhiệm và sau này phải phái người đến triều đình (bộ Lễ) đặng học nghi cách theo cuộc tế lễ Nam Giao”.

Vì vậy mà ngày nay trên bàn thờ chính giữa Lê Công phủ vẫn còn thờ Thượng đẳng Đại thần Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh.

Những di tích còn lại của họ Lê Công

Hiện nay ngoài những câu chuyện thú vị về dòng họ Lê Công và người phụ nữ một lòng vì dân Huỳnh Thị Phú, di tích còn lại của dòng họ này là một tòa nhà đồ sộ là phủ thờ của dòng họ Lê Công (mà người dân thường gọi là Nhà Lớn), tọa lạc trên đường Lê Lợi thị xã Châu Đốc, mặt tiền ngôi phủ thờ quay ra ngã ba sông về hướng thị xã Tân Châu.

Ngôi phủ thờ dòng họ Lê Công tính đến nay đã được tròn trăm tuổi, được khởi công xây dựng vào năm 1908 và hoàn thành năm 1912, trong khuôn viên khoảng một mẫu đất (10.000m2).

Theo tài liệu của gia tộc Lê Công thì ngôi nhà do bà Lê Thị Hạnh cho xây dựng từ năm 1908 đến năm 1912. Bà Hạnh là con của ông Lê Công Thành, con trai của cụ tổ Lê Công Thoàn. Để cung cấp vật liệu cho quá trình xây nhà, bà Hạnh cho thành lập một số cơ sở riêng chuyên sản xuất gạch ngói, gạch lát nền.

Một số vật liệu khác thì được mua từ bên Pháp. Trong chiến tranh chống Pháp, có lần ngôi Lê Công phủ bị trúng bom hư hại nặng, sau đó được sửa chữa lại. Từ đó đến nay ngôi từ đường của họ Lê Công đã trải qua hai lần trùng tu: năm 1984 làm lại mái và trần nhà, năm 2004 làm lại hàng rào và sơn vách.

Theo giới am hiển về kiến trúc, hiện nay giá trị của ngôi nhà cổ Lê Công phủ không chỉ ở tuổi thọ của công trình mà còn quý hiếm vì nội thất cổ xưa và giá trị tinh thần được tôn vinh, bảo tồn của một dòng họ ở Châu Đốc.

Dáng vẻ kiến trúc bên ngoài ngôi nhà trông tựa như những tòa nhà của người Pháp xây dựng ở Việt Nam thời xưa, nhưng bên trong mang đậm kiến trúc thuần Nam Bộ.

Mái nhà theo kiểu “bánh ếch” (bốn mái, lợp ngói, có mái ở giữa cao như chiếc bánh ếch ngày xưa hay gọi nay thường gọi là “bánh ít”) với ba gian hai chái. Mặt tiền nhà có 3 cửa chính, vách được xây bằng gạch.

Hành lang bao quanh rộng ba mét với những ô cửa mái vòm thông gió có lợp ngói, nền nhà được bao quanh bằng đá tổ ong.

Bên trong là những bộ bàn ghế cẩn ốc xà cừ, mặt ghế và lưng tựa ốp phiến đá cẩm thạch trông sang trọng, nơi ngày xưa chỉ những vị khách quan trọng mới được mời ngồi bộ ghế này.

Nhìn thẳng vào bên trong là ba bàn thờ lớn. Chính giữa là bàn thờ cửu huyền thất tổ của dòng họ và ông bà tổ (trong đó có bàn thờ bà Huỳnh Thị Phú), hai bên thờ các vị tổ kế tiếp.

Trước 3 bàn thờ này là 3 tủ thờ bằng gỗ cẩm lai có cẩn ốc xà cừ rất đẹp, chạm trổ hết sức công phu hình ảnh tích truyện Tam Quốc Chí của Trung Quốc. Hình ảnh được chạm khắc và cẩn nổi rõ từng ngọn cỏ, cờ xí các trận đánh như trận Xích Bích, cảnh Quan Công phục binh đón Tào Tháo…

Tất cả đều do thợ lành nghề được rước từ miền Bắc vào làm. Kèo, đòn tay, cột, trần la - phông cũng toàn bằng gỗ quý.

Trên cùng là nơi thờ sắc thần của Thượng đẳng Đại thần Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh.

Muốn đi lên chỗ để sắc thần có một cầu thang riêng biệt và chỉ có những người có trách nhiệm mới được bước lên nơi thiêng liêng đó. Theo giới chuyên môn, Lê Công phủ là 1 di tích độc đáo cần được bảo tồn, gìn giữ.

  • Thường Dân
phunutoday.vn

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

  • 08/07/2019 14:36
  • 448

Duyên nghiệp sử sách cho tôi nhiều dịp may hiếm có, ví như bỗng một ngày, tôi được gặp nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh ở tọa đàm về cuộc đấu tranh của những người yêu nước và cộng sản ở nhà tù Sơn La do cụ Nguyễn Văn Trân tổ chức vào hè năm 2007. Không thể hình dung được ông nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng, dáng cao manh mảnh, đôi mắt tinh anh, lại đã từng bị tù ở Sơn La cùng với bí thư chi bộ nhà tù Trần Huy Liệu.

Bài viết khác

Tuyệt chiêu khiến sứ Thiên triều run sợ của Lê Đại Hành

Tuyệt chiêu khiến sứ "Thiên triều" run sợ của Lê Đại Hành

  • 03/08/2012 08:32
  • 1472

Không chỉ "phô" sức mạnh quân sự của Đại Cồ Việt, Vua Lê Đại Hành còn có tuyệt chiêu dùng thú dữ... uy hiếp tinh thần của sứ "Thiên triều" thật độc đáo.