Thứ Tư, 18/09/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

18/06/2019 10:06 235
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
* Làm báo Suối Reo trong nhà tù Sơn La

Đồng chí Xuân Thuỷ tên thật là Nguyễn Trọng Nhâm, sinh ngày 02/9/1912, trong một gia đình nhà nho yêu nước ở xã Phương Canh, thuộc tổng Canh, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ; nay là phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Từ quê hương Xuân Phương, với lòng yêu nước, căm thù giặc Pháp xâm lược, năm 1932, đồng chí được giác ngộ cách mạng và đi hoạt động ở vùng Canh rồi sang cả Phúc Yên gây cơ sở. Năm 1938, bị thực dân Pháp bắt giam ở Hoả Lò, đồng chí đã viết bài thơ nổi tiếng: Không giam được trí óc: “Đời ta đã sẵn một con đường/ Ý nghĩ ta đi khắp bốn phương/ Đi đến hang sâu vào ngục tối/ Gọi hồn nhân loại nắn đau thương”. Ra tù, đồng chí lại lao đi hoạt động ở các làng xã của ngoại thành, tuyên truyền chủ trương của Đảng, gây dựng cơ sở. Cuối năm 1939, đồng chí bị bắt ở ngã tư Canh, làng Hoè Thị. Bị thực dân Pháp kết án rồi đày đi Sơn La, đồng chí giữ vững ý chí chiến đấu, trở thành đảng viên cộng sản năm 1941 tại chi bộ nhà tù Sơn La. Tháng 5/1941, chi bộ đã quyết định ra tờ báo sinh hoạt nội bộ và lấy tên là Suối Reo. Lúc đầu đồng chí Trần Huy Liệu được cử làm chủ bút, sau đó Chi bộ giao cho đồng chí Xuân Thủy phụ trách tờ báo.

 

Đồng chí Xuân Thuỷ (1912-1985)

Suối Reo xuất bản mỗi tháng hai kỳ, mỗi kỳ nhiều nhất là hai số, khổ rộng 20cmx14cm, viết tay bằng mực tím trên giấy viết thư về nhà của các bạn tù gom lại. Tôn chỉ của Suối Reo được tóm tắt trong 4 câu thơ của đồng chí Xuân Thủy “Thu sang hoa cỏ già rồi/Suối reo lên để cho đời trẻ trung/Thu sang non nước lạnh lùng/Suối reo lên để cho lòng ta reo”. Báo có các chuyên mục: nghị luận chính trị, truyện ngắn, châm biếm vui cười, thơ ca. Vào những ngày lễ như ngày Quốc tế lao động 1/5, Cách mạng tháng Mười Nga 7/11, Tết Nguyên đán báo được tăng số trang và trang trí đẹp hơn. Đến nay, chúng ta nhắc đến báo Suối Reo là nhớ đến người tạo nên linh hồn của tờ báo - đồng chí Xuân Thuỷ.

* Làm báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Mặt trận Việt Minh

Cuối năm 1943, ra khỏi chốn ma thiêng nước độc, đồng chí lại bị quản thúc ở quê hương. Không chịu tù túng, đầu năm 1944, đồng chí đã bắt được liên lạc với Đảng. Trung ương cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng, bố trí đưa đồng chí Xuân Thuỷ thoát khỏi cảnh bị quản thúc, đến an toàn khu của Trung ương ở vùng Chèm, sau đó sang một cơ sở tại làng Ngọc Giang (Đông Anh). Tại đây, đồng chí Trường Chinh giao cho đồng chí Xuân Thuỷ phụ trách Đặc san về vấn đề hải ngoại của báo Cứu Quốc. Khoảng giữa mùa thu năm 1944, đồng chí được Trung ương giao nhiệm vụ chính thức phụ trách báo Cứu Quốc. (trước đây, báo do Trung ương phụ trách, nay do Xứ ủy trực tiếp phụ trách). Trụ sở báo đóng ở núi Thầy. Nhân dân thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn đặt hai trạm giao thông bí mật; một trạm chuyển giấy mực từ xa đến rồi đưa vào hang núi; một trạm chuyển báo từ núi ra rồi đưa đi phân phát các tỉnh Bắc bộ. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Xứ ủy, trong điều kiện khó khăn, báo Cứu Quốc vẫn kịp thời phản ánh phong trào đấu tranh của nhân dân, nhất là ở nội ngoại thành và Hà Đông, Sơn Tây. Vừa phụ trách báo vừa trực tiếp viết bài với bút danh Ngô Tất Thắng, Tất Thắng, Chu Lang; những bài báo của nhà báo Xuân Thuỷ mang hơi thở nóng hổi của thời cuộc, có tác dụng to lớn động viên nhân dân đứng lên chống phát xít Nhật - Pháp: “Hết thảy đồng bào hãy gom tiền vào quỹ mua súng của Vịêt Minh, hãy sốt sắng ủng hộ các chiến sĩ cứu quốc đang hoạt động, hãy hăng hái tham gia phong trào chống Nhật đang lan rộng. Quân thù đang yếu. Cơ hội tốt đang đến. Với quyết tâm chiến đấu, thắng lợi nhất định về ta” (Báo Cứu Quốc, ngày 21/10/1944).

 

Báo Cứu Quốc, số Mùa Xuân ngày 10-2-1942

Cuối năm 1944, địch tổ chức vây quét Sài Sơn, hòng bắt sống “lãnh đạo Việt Minh”, do đó, các đồng chí phải chuyển sang làng Vạn Phúc (nay thuộc quận Hà Đông); tháng 01/1945 lại chuyển tiếp đến thôn Thu Quế, xã Song Phượng (Đan Phượng). Lúc này, không khí cách mạng đã dâng cao ở khắp nội ngoại thành và các vùng nông thôn. Với bút danh Ngô Xuân Đan, Chu Lang… những bài viết của đồng chí nêu rõ quan điểm của Đảng chuẩn bị khởi nghĩa, giúp cán bộ, đảng viên, quần chúng có nhận thức đúng đắn trong tình hình chính trị phức tạp, tin tưởng vào ngọn cờ cứu nước của Mặt trận Việt Minh: “Trải bao phen giặc Pháp khủng bố dã man, Việt Minh không những không bị tiêu diệt mà còn phát triển ngày thêm mạnh mẽ. Dân chúng Việt Nam chẳng những không sợ sệt mà còn ngày càng chen vai thích cánh dưới lá cờ đỏ sao vàng” (Báo Cứu Quốc ngày 13/7/1945). Đặc biệt, ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, ngày 15/8/1945, đồng chí viết bài Nhật đầu hàng, nêu rõ chủ trương của Đảng: Dù trong trường hợp nào, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của dân ta nhất định phải nổ ra. Nhật hàng chỉ tạo điều kiện cho cuộc Tổng khởi nghĩa của ta dễ dàng thắng lợi hơn (Báo Cứu Quốc, ngày 15/8/1945). Đặc biêt, Lệnh Tổng khởi nghĩa được đăng trang trọng trên báo Cứu Quốc số 30 như một lời Hịch cứu nước của Đảng, đã quy tụ toàn dân nhất tề vùng dậy giành quyền sống trong tự do và độc lập.

Ngày 19/8/1945, Hà Nội tưng bừng trong nắng thu khởi nghĩa! Từ thôn Thu Quế, đồng chí Xuân Thủy về trung tâm thành phố. Ngay tối 19/8, tại Bắc Bộ phủ, đồng chí được phân công phụ trách công tác Thông tin - Tuyên truyền - báo chí của Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời Bắc bộ; ngay sau đó đồng chí đề nghị thành lập Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Báo Cứu Quốc, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh đóng trụ sở tại toà báo cũ L’Action ở phố Hàng Trống (nay là Tòa soạn báo Hà Nội Mới, 44 phố Lê Thái Tổ). Đồng chí Xuân Thuỷ là chủ nhiệm kiêm chủ bút; đồng chí Văn Tân làm thư ký toà soạn. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, để thực hiện sách lược mềm dẻo, Đảng phải tuyên bố tự giải tán, nhưng Cứu Quốc là tờ báo công khai của Đảng vẫn ra hàng ngày, phổ biến chính sách của nhà nước Việt Nam DCCH. Chỉ 5 ngày sau khi Tổng khởi nghĩa thắng lợi, ngày 24/8/1945, báo Cứu Quốc số 31 đã phát hành rộng rãi, công khai. Trang nhất của báo trang trọng đăng bài xã luận của đồng chí Xuân Thuỷ “Lời chào cứu quốc”. Từ đó, những sự kiện quan trọng diễn ra ở Thủ đô và đất nước đều được đăng tải, củng cố niềm tin của nhân dân, cổ vũ quần chúng đoàn kết, kháng chiến - kiến quốc, giữ vững độc lập dân tộc. Đặc biệt, các bài xã luận cô đọng, xúc tích, luôn có sức nặng “ngàn cân” đối với cán bộ đảng, cán bộ đoàn thể và các tầng lớp nhân dân đang phải đối mặt với các đảng phái tay sai phản động:“Giờ đây, Tổ quốc thân yêu của chúng ta lại đang qua cơn thử thách gay go. Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết… Không có một sức mạnh nào có thể thắng được cả một dân tộc đã giác ngộ, đoàn kết, kiên quyết phấn đấu vì độc lập tự do” (Báo Cứu Quốc ngày 29/5/1946).

Cùng với nhiệm vụ phụ trách báo Cứu Quốc, đồng chí còn đảm nhận nhiều trọng trách như: đại biểu Quốc hội khóa I, Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khoá I; Uỷ viên Thường vụ Tổng bộ Việt Minh. Đồng chí đi giải thích cho cử tri và bạn đọc báo Cứu Quốc về chính sách đại đoàn kết dân tộc, kể cả những đại biểu của các nhóm chống đối cách mạng trong Quốc hội, đưa yêu sách ngang ngược đòi thay cờ đỏ sao vàng. Cách mạng và báo chí hòa quyện làm một trong người chiến sĩ cộng sản Xuân Thuỷ với cái nhìn sắc bén và bản lĩnh vững vàng. Chính Bác và Thường vụ Trung ương Đảng đã phái đồng chí Nguyễn Khang và Xuân Thuỷ trực tiếp đi từ Hà Nội xuôi xuống các làng ven đường số 5, tuyên truyền giải thích về Hiệp định sơ bộ (06/3/1946) và phân phát báo Cứu Quốc cho nhân dân. Ở Hà Nội, đồng chí Xuân Thủy chỉ đạo Thành bộ Việt Minh thực hiện đúng đắn, linh hoạt, mềm dẻo chủ trương của Đảng để đoàn kết toàn dân. Người trực tiếp truyền đạt chỉ thị của đồng chí Xuân Thủy là đồng chí Khuất Duy Tiến, Bí thư Thành bộ Việt Minh.

Sau Hội nghị mở rộng của Trung ương, đầu tháng 11/1946, quán triệt chủ trương gấp rút chuẩn bị kháng chiến, đồng chí Xuân Thuỷ đề nghị cần phải tổ chức làm báo Cứu Quốc ở các tỉnh thành trong toàn quốc. Bài viết của đồng chí “Giờ nghiêm trọng”, đăng ngày 12/12/1946 trên báo Cứu Quốc báo hiệu cho toàn dân nhất tề đứng đậy kháng chiến giữ nền độc lập của tổ quốc “Toàn thể chúng ta hãy tỉnh táo và sẵn sàng quyết đánh”.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đồng chí Xuân Thuỷ cùng cơ quan báo Cứu Quốc rời khỏi nội thành. Từ làng xóm gần Ngã ba Thá, đau đáu trông về thành phố đang ngập tràn khói lửa chiến đấu, nhà báo, nhà thơ Xuân Thuỷ đã viết bài thơ Tiếng súng Hà Nội ngay trong tháng Chạp 1946 “Cả Hà Nội tắt điện/Cả Hà Nội kháng chiến/Khói lửa ngút trời cao… Đây Hà Nội! Hà Nội/ Anh dũng biết nhường bao”. Đầu năm 1947, báo Cứu Quốc chuyển ra Sài Sơn. Tin và bài về cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Hà Nội quyết tử để Tổ quốc quyết sinh được đăng tải đều đặn trên báo Cứu Quốc mà đồng chí Xuân Thuỷ là kiến trúc sư của tờ báo. Kỷ niệm ngày báo chí cách mạng Việt Nam, chúng ta tri ân đồng chí Xuân Thủy- nhà cách mạng, nhà báo, nhà ngoại giao xuất sắc của Đảng và nhân dân ta.

Sinh ra, lớn lên ở làng khoa bảng, cống hiến suốt đời cho thủ đô Hà Nội và cho đất nước, với đức tính thanh liêm, giản dị, hoà nhã, thu phục nhân tâm và được bạn bè yêu chuộng hoà bình trên thế giới khâm phục, quý mến, đồng chí là tấm gương sáng để cán bộ đảng viên Đảng bộ Thủ đô noi theo.

Ngày nay, một phố đẹp ở phía tây bắc thành phố đã được đặt tên là đường Xuân Thuỷ. Tên Xuân Phương - ghép chữ Xuân Thuỷ và Phương Canh, thể theo nguyện vọng của dân làng, thành cái tên có ý nghĩa sâu sắc, để nhân dân Xuân Phương kế tục và phát huy truyền thống làng khoa bảng, xây dựng quê hương giàu đẹp, góp phần vào sự nghiệp đổi mới của Thủ đô./.

 

                                                                 Ths. Phạm Kim Thanh

 

 

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Đồng chí Xuân Thủy với báo Suối Reo và báo Cứu Quốc

Đồng chí Xuân Thủy với báo Suối Reo và báo Cứu Quốc

  • 18/06/2019 10:06
  • 235

* Làm báo Suối Reo trong nhà tù Sơn La

Bài viết khác

Hồ Chí Minh - cả cuộc đời vì nước, vì dân

Hồ Chí Minh - cả cuộc đời vì nước, vì dân

  • 21/05/2019 09:18
  • 557

Năm 1946, phát biểu tại cuộc mít tinh của nhân dân Hà Nội tiễn Người đi thăm nước Pháp tổ chức ở Việt Nam học xá, Hồ Chí Minh nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân; Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, là vì mục đích đó. Bất kì ở đâu, bất kì lúc nào, tôi cũng chỉ có một tâm nguyện: làm cho ích quốc, lợi dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, CTQG, H, 2011, tr. 240)