Thứ Ba, 28/06/2022
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

25/09/2015 09:23 2432
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Sau Chiến dịch Hà Nam Ninh, tại đồng bằng Bắc Bộ, địch ra sức củng cố công sự, tăng cường càn quét vùng hậu địch, tàn phá cơ sở kinh tế của ta; đồng thời chúng đẩy mạnh kế hoạch củng cố vùng Tây Bắc. Địch tăng cường lực lượng củng cố Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái để giữ vựa thóc lớn của Tây Bắc và uy hiếp phía Tây căn cứ Việt Bắc.

Trước tình hình khó khăn ở vùng hậu địch, Tổng Quân uỷ đề nghị với Trung ương cho mở một chiến dịch nhỏ ở hướng Tây Bắc và phát động một tháng chiến tranh du kích, buộc địch phải đối phó. Ngày 11/9/1951, Bộ Chính trị ra chỉ thị mở chiến dịch Lý Thường Kiệt ở Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch, xây dựng cơ sở, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt lực lượng Ngụy quân người Thái. Hướng chính là phân khu Nghĩa Lộ. Hướng phụ do tiểu đoàn địa phương tỉnh Phú Thọ phụ trách, có nhiệm vụ uy hiếp Thượng Bằng La.

Đồn Nghĩa Lộ cách phía đông bắc Sơn La khoảng 100 km và cách Yên Bái khoảng 80 km về phía Tây Nam. Nghĩa Lộ nằm trong một thung lũng rộng lớn phì nhiêu, dài 10 km và rộng 4 km, có khoảng 40 ngàn dân, ngay trên trục giao thông để Việt Minh chuyển vận đồ tiếp tế từ Trung Quốc viện trợ qua Cao Bằng, Tuyên Quang, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Sơn La, Điện Biên Phủ. Quân Pháp ở đây có hai đơn vị trấn giữ, chia ra Đồn thượng trên ngọn đồi cao nhìn xuống thị trấn và Đồn hạ, một đồn thấp nằm ngay trong thị trấn.

Khu Di tích lịch sử, văn hóa Căng - Đồn Nghĩa Lộ, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch Lý Thường Kiệt với chủ đích nắm tất cả vùng Tây Bắc Việt Nam. Nghĩa Lộ là trạm trung chuyển quan trọng và cũng là một vựa thóc lớn.

Lực lượng của chiến dịch Lý Thường Kiệt:

- Quân đội Pháp: Tại phân khu Nghĩa Lộ, lực lượng Pháp có một tiểu đoàn lính người Thái (1e RTA) và bốn đại đội bổ sung chiếm đóng (LCSM), phân ra làm bốn điểm: Nghĩa Lộ, Gia Hội, Ba Khe, Thượng Bằng La, mỗi nơi có một đại đội, do một quan tư chỉ huy chung. Tất cả khoảng chừng 1.000 binh sĩ, trong số đó có 150 sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp, cộng với 60 lính pạc-ti-dăng người Nùng, cùng 1 tiểu đoàn sơn pháo 75mm hỗ trợ.

Ngày 2-10-1951, khi Nghĩa Lộ bị uy hiếp mạnh, một tiểu đoàn dù khoảng 1.000 lính do đại úy Gauthier chỉ huy, được thả xuống Gia Hội cách Nghĩa Lộ 20 km về phía Bắc để tiếp viện. Sáng ngày 4-10, một tiểu đoàn dù khác do đại úy Raffali chỉ huy được thả xuống Gia Hội để phụ lực với Gauthier, và đến 5-10 thì Pháp huy động thêm 1 tiểu đoàn dù nữa để chi viện.

- Quân đội nhân dân Việt Nam: Đại đoàn 312 gồm: Trung đoàn 141, 165, 209. Ngoài ra có Trung đoàn 148 độc lập cùng một liên đội sơn pháo 75mm. Được 2 đại đội, 1 tiểu đoàn bộ đội và du kích địa phương hỗ trợ. Quân số tham gia gồm 8.479 người. Bộ Tư lệnh đại đoàn 312 được Tổng Quân ủy giao trách nhiệm điều hành chiến dịch.

Căn cứ vào nhiệm vụ chiến dịch và nghiên cứu thực địa, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh đại đoàn 312 quyết định kế hoạch tác chiến như sau: Trung đoàn 165 được phối thuộc một đại đội địa phương Yên Bái, một khẩu pháo 75mm, có nhiệm vụ tiến công Ca Vịnh, Ba Khe, Cốc Báng, Cửa Nhì; 2 trung đoàn 141 và 209 cùng với liên đội pháo tiến công Bản Tú, Nghĩa Lộ, Gia Hội. Chỉ huy sở đại đoàn đặt ở giữa Khe Phong và Ngã Hai.

Về đảm bảo hậu cần, ngoài việc bố trí các kho gạo dọc đường đủ cung cấp cho bộ đội hành quân từ Phú Thọ lên Yên Bái, còn bố trí bên tả ngạn sông Hồng một số lượng gạo bổ sung cho toàn đại đoàn mỗi người 10 ngày ăn và mỗi dân công 21 kg trước khi sang sông. Kho dự trữ của đại đoàn khi tác chiến, một đặt ở Nậm Mười để cung cấp cho hai trung đoàn 141 và 209, một đặt ở gần Ca Vịnh để cung cấp cho trung đoàn 165.

Để phục vụ chiến dịch, vận chuyển hàng hoá, làm lán trại, bè mảng cho bộ đội qua sông, quân dân Tây Bắc đã huy động trên 29.000 dân công, cung cấp 522 ngựa thồ, vận chuyển 96.411 kg lương thực, thực phẩm, vũ khí, trang bị cho bộ đội.

Phương châm chiến dịch đặt ra là tranh thủ bất ngờ, bao vây tiêu diệt những cứ điểm, đánh chắc thắng, giải quyết nhanh, đánh liên tục cả đêm và ngày. Vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, phục kích, tập kích, công kiên. Kết hợp tác chiến của chủ lực với các lực lượng vũ trang địa phương, phát triển chiến tranh du kích. Phối hợp chặt chẽ giữa tác chiến với vận động nhân dân và ngụy binh.

Quán triệt phương châm trên, ngày 13 tháng 9, Bộ Tổng tham mưu ra chỉ thị cho các đơn vị khẩn trương bước vào chuẩn bị chiến dịch.

Ngày 25 tháng 9, đại đoàn 312 vượt sông Hồng tiến vào Tây Bắc theo hai cánh. Cánh chính gồm hai trung đoàn 141, 209, cùng liên đội pháo 75mm vượt rừng núi hiểm trở, thâm nhập vào cánh đồng Nghĩa Lộ theo hướng Bắc. Cánh phụ do trung đoàn 165 tiến theo đường 13, tiếp cận Nghĩa Lộ ở hướng Đông Nam.

Đêm 29 rạng ngày 30 tháng 9, phía cánh phụ trên đường 13, tiểu đoàn 115 trung đoàn 165 tiến công đồn Ca Vịnh. Lực lượng địch ở Ca Vịnh có 135 tên, do quan hai Roch chỉ huy, vũ khí có 12 trung liên, hai súng cối 61mm, một đại liên và nhiều súng trường, lựu đạn. 3 giờ 10 phút, ta nổ súng, đến 7 giờ 30 phút, ta mới phá hủy được một phần công sự, nhưng Quân đội Nhân dân Việt Nam không giải quyết được hoàn toàn cứ điểm và phải rút ra ngoài, vì thương vong cao (hy sinh 36 người, bị thương 118 người). Ngày 1 tháng 10, địch bỏ Ca Vịnh rút về Ba Khe.

Đêm 1 tháng 10, ở cánh chính, tiểu đoàn 166 trung đoàn 209 tiến công Bản Tú (tiền đồn của Nghĩa Lộ). Quân Pháp ở đây có 120 tên, do quan một Renault chỉ huy, vũ khí có sáu trung liên, hai cối 61mm và tiểu liên, súng trường. 23 giờ 30 phút, Quân đội nhân dân Việt Nam nổ súng, sau 5 phút đã mở được cửa và phát triển vào trung tâm. 24 giờ, ta hạ lệnh xung phong, địch rút về phía Nghĩa Lộ khoảng hai trung đội. Đến 24 giờ 40 phút, ta chiếm xong đồn, diệt 12 tên địch, bắt 16 tên (có tên quan một đồn trưởng). Trận này, Quân đội nhân dân Việt Nam hy sinh 9 người, bị thương 71 người.

Sơ đồ trận Nghĩa Lộ ngày 2/10/1951.

Ngày 2/10/1951, Raoul Salan ném tiểu đoàn dù 8 (8th BPC) do đại úy Gauthier chỉ huy xuống Gia Hội, cách Nghĩa Lộ 20 km về phía Bắc để tiếp viện, đe dọa sau lưng cánh quân 312 đang tiến về Nghĩa Lộ. Nhiệm vụ tiểu đoàn này là phá rối trung đoàn 141 và 209 để cầm chân và làm giảm nhẹ áp lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào Nghĩa Lộ.

Đêm 2/10, trung đoàn 141 cùng một liên đội pháo tăng cường (năm khẩu), hai đại đội công binh, tiến công đồn hạ phía nam Nghĩa Lộ nhưng không thành công, quân ta vẫn không chiếm được đồn này.

Về phía Bắc, 7 giờ 30 phút ngày 3 tháng 10, hai tiểu đoàn 154 và 166 thuộc trung đoàn 209 vận động đánh quân dù hành quân từ Gia Hội đến tiếp viện cho Nghĩa Lộ, cách Gia Hội 8 km. Sau một giờ chiến đấu, quân Pháp bị cắt làm hai bộ phận. Bộ phận đi đầu khoảng một đại đội cơ bản bị diệt, số còn lại chạy về Gia Hội bị đại đội 612, đại đội 606 truy kích diệt 40 lính. Bị đánh mạnh, tiểu đoàn dù của Gauthier phải rút về giữ thế thủ ở đèo Gia Hội.

Suốt ngày 3 đến sáng ngày 4-10-1951, tiểu đoàn 546 của trung đoàn 165 tiến công đồi Cửa Nhì ở phía đông, cùng lúc trung đoàn 141 Quân đội Nhân dân Việt Nam tấn công đồn Sơn Búc, cách Nghĩa Lộ khoảng 10 km phía Đông Nam, nhưng vấp phải sức kháng cự mãnh liệt của đại uý Bes de Berc và lính người Nùng. Đến 4 giờ sáng ngày 4-10, Quân đội Nhân dân Việt Nam rút lui. Kết quả hai trận đánh ở Nghĩa Lộ (đêm 2 và 4 tháng 10), Quân đội Nhân dân Việt Nam đã diệt khoảng 150 lính, bắt 19. Ta hy sinh 118 người, bị thương 200 người.

Sáng ngày 4/10, Salan được tin tiểu đoàn dù bị thiệt hại nặng đã ném tiếp tiểu đoàn 2 dù do đại úy Raffali chỉ huy xuống Gia Hội để phụ lực với Gauthier. Nhưng cả 2 tiểu đoàn dù đều bị chặn đánh ở Văn Tông và gần Nậm Mười, không liên lạc được với nhau.

Ngày 5/10, Salan đổ thêm tiểu đoàn 10 dù xuống Nghĩa Lộ, định cắt đường tiếp tế của đại đoàn 312 đang ở trên cánh đồng Nghĩa Lộ. Tiểu đoàn 2 dù và 8 dù tiến về phía rừng núi Khâu Vác. Những phân đội của đại đoàn 312 phát hiện quân dù lập tức nổ súng.

Ngày 6-10, tiểu đoàn 154 phục kích cánh quân của tiểu đoàn 8 dù ở bản Văn Tông, sau 10 phút nổ súng và truy kích đến 2 giờ sáng, diệt và bắt 26 lính. Cũng trong thời gian đó, cánh quân của tiểu đoàn 2 dù tiến đến Nậm Mười, bị tiểu đoàn 130 của ta nổ súng chặn đánh. Sau năm đợt xung phong, quân Pháp yếu thế phải bỏ chạy. Quân đội Nhân dân Việt Nam truy kích đến 4 giờ ngày 7 tháng 10 thì rút quân. Kết quả toàn trận, Pháp chết 60 lính; Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh 15 người, bị thương 62 người.

Trên hướng thứ yếu Phong Thổ, từ đêm 29 tháng 9 đến ngày 10 tháng 10, trung đoàn 148 cùng bộ đội địa phương Lào Cai bao vây, tiến công các đồn Yên Na (4 tháng 10), diệt 113 lính, thu 12 súng các loại và 20 tấn quân trang quân dụng. Ngày 9 tháng 10, tiểu đoàn 930 tiến công Than Thuộc, Pác Tà. Sau 30 phút chiến đấu Pháp bỏ đồn chạy. Tiểu đoàn 910 tiến công Than Uyên nhưng không đạt được kết quả.

Về phía Việt Nam, sau 10 ngày chiến đấu liên tục, lực lượng của đại đoàn 312 cũng bị tiêu hao nhiều (287 người hy sinh, 702 người bị thương, 22 người mất tích), lương thực chỉ còn 2 ngày. Ngày 10 tháng 10, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định thời cơ đánh địch đã hết và ra lệnh kết thúc chiến dịch.

Kết quả toàn chiến dịch, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.258 tên địch (trong đó có 255 tên bị bắt); thu trên 300 súng các loại gồm 20 trung liên, một đại liên, 76 tiểu liên, năm súng cối, 229 súng trường, 28 súng ngắn và 20 tấn quân lương, 11 tấn đạn dược. Riêng hướng chính tiêu diệt 476 lính, bắt 42 lính. Từ khi nổ súng (29 tháng 9 đến 31 tháng 10) đã đánh 16 trận công đồn, sáu trận phục kích, ba trận tao ngộ, hai trận đánh quân nhảy dù, hai trận truy kích. Qua 29 trận đánh trên các hướng, đã diệt chín đại đội địch, diệt sáu cứ điểm Than Thuộc, Hua Tà, Ca Vịnh, Bản Tu, Tan Man, Pa Pé; bức rút tám vị trí Thượng Bằng La, Đồng Bò, Đèo Pho, Khe Tùa, Cốc Báng, Cửa Nhì, Khang Tiêu, Sài Lương. Chiến dịch đã giải phóng một vùng rộng lớn từ Quang Huy lên Ca Vịnh, Ba Khe, Sài Lương và từ Phong Tô qua Bình Lư tới Than Uyên.

Tháng 12 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ đại đoàn 312, khen ngợi thành tích trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt và căn dặn cán bộ chiến sỹ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm để lập nhiều chiến công hơn nữa. Người viết: “Bác vui lòng vì kết quả khá... Nhất là vì các chú tiến bộ khá. Tinh thần chiến đấu cao. Ý thức dân vận khá. Đối với chiến lợi phẩm, giữ vững kỷ luật. Kỹ thuật khá tiến bộ”.

Thắng lợi quan trọng của ta trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy công tác vùng địch tạm chiếm ở các huyện Văn Chấn và Than Uyên phát triển lên bước mới. Chiến dịch đạt được các yêu cầu đặt ra, làm thay đổi cục diện ở Tây Bắc, góp phần vào thắng lợi chung của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.

Phương Anh (Tổng hợp)

Nguồn:

- Trần Quỳnh Cư, “Từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 31 tháng 10 năm 1951: Chiến dịch Lý Thường Kiệt”, Việt Nam những sự kiện lịch sử 1945-1975, H. Giáo dục, 2006, tr. 102.

- Lê Mậu Hãn, “Đấu tranh quân sự và ngoại giao (1951-1954)”, Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 3, H. Giáo dục, 1998, tr. 104-123.

- https://vi.wikipedia.org/wiki.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Đồng chí Xuân Thủy với báo Suối Reo và báo Cứu Quốc

Đồng chí Xuân Thủy với báo Suối Reo và báo Cứu Quốc

  • 18/06/2019 10:06
  • 2768

* Làm báo Suối Reo trong nhà tù Sơn La

Bài viết khác

Chiến dịch Biên giới Thu đông (16/9 - 17/10/1950) sự thành công trong sử dụng kế hoạch tác chiến

Chiến dịch Biên giới Thu đông (16/9 - 17/10/1950) sự thành công trong sử dụng kế hoạch tác chiến

  • 11/09/2015 08:04
  • 17593

Trong giai đoạn nửa cuối năm 1949 - đầu năm 1950, thành trì vững chắc của phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc thế giới là Liên Xô đã có nhiều sự thay đổi trong chính sách đối ngoại, tạo điều kiện có lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới. Cách mạng Trung Hoa thành công, nước CHND Trung Hoa cùng với hàng loạt nước XHCN ở Đông Âu ra đời…đều là những diễn biến có lợi cho tiến trình cách mạng ở Việt Nam.