Thứ Sáu, 26/02/2021
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

19/02/2021 11:15 40
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Lễ Tiến Xuân (Tiến Xuân ngưu) là một nghi lễ quan trọng thể hiện tinh thần trọng nông của cha ông ta và đặc biệt là ở triều Nguyễn.

Lễ Tiến Xuân đã có từ thời xưa ở Việt Nam. Vào thời Lê - Trịnh, ở Thăng Long theo ghi nhận của một người nước ngoài từng chứng kiến, cứ đến ngày tiến xuân, dân chúng nô nức đi hội, còn lưu dấu qua câu ca dao: Bao giờ Mang hiện đến nay/Cày bừa cho chín mạ này đem gieo.

Năm 1829, bộ Lễ tâu rằng: "Kính xét thiên Nguyệt lệnh Lễ ký tháng quý đông, sai Hữu ty cho trâu bằng đất ra để tống khí rét. Tiên nho bàn rằng tháng bắt đầu ở sửu (tháng 12), sửu là trâu, thuộc về hành thổ, đất có thể ngăn được nước, cho nên làm trâu đất, để tống hết khí rét đi. Lại nói: Đất thắng được nước, trâu thì giỏi cày. Thắng được nước nên chống được rét, giỏi cày nên có thể chỉ bảo việc làm ruộng sớm hay muộn". Xuất phát từ ý nghĩa đó mà lễ Tiến Xuân được chú trọng tổ chức nhằm mục đích khuyến nông, cầu nguyện cho thời tiết hanh thông, mùa màng thuận lợi.

 

Cùng với lễ Tịch Điền, lễ Tiến Xuân đều được tổ chức trên tinh thần nhân văn, điều ấy thể hiện những ước mơ chính đáng về một cuộc sống vật chất đầy đủ trong năm mới (ảnh minh họa Lê Chung)

Vào thời Nguyễn, cứ vào ngày Thìn, tiết đông chí hàng năm, các vị chức trách ở Nha Khâm Thiên Giám kết hợp với Vũ Khố lấy nước và đất ở phương thần Tuế Đức - là hướng xuất hiện sao Tuế đức - để làm ra 3 con trâu đất và 3 vị Mang thần để tế lễ. Sao Tuế Đức được xem là đệ nhất cát thần trong năm, nơi nào có sao Tuế Đức là nơi đó có vạn phúc tụ đến, hung thần phải tránh đi.

Lễ tế phải được tổ chức vào giờ Thìn, bởi giờ Thìn được quan niệm là giờ tốt, ứng với mạng Thiên tử. Nha Khâm Thiên Giám được phân công chọn giờ, nếu giờ Thìn "rơi vào" ban đêm thì phải chọn giờ Thìn của ngày hôm sau.

Trâu đất và Mang thần đều phải được đắp bằng đất (dùng cành hom dâu làm cốt) theo các tỷ lệ kích thước, màu sắc ứng với các ý nghĩa nhất định. Mình Trâu được quy định cao 4 thước tượng trưng cho 4 mùa; từ đầu đến đuôi dài 8 thước tượng trưng cho 8 tiết là lập xuân, xuân phân, lập thu, thu phân, lập hạ, hạ phân, lập đông và đông chí. Các màu sắc được tô lên trâu đất cũng được quy định theo các quan niệm truyền thống. Nếu thiên can của năm ấy là Giáp, Ất thì tô màu xanh; Bính, Đinh thì tô màu đỏ; Mậu, Kỷ thì tô màu vàng; Canh, Tân thì tô màu trắng; Nhâm, Quý thì tô màu đen. Tương tự, các màu sắc ở thân, ở bụng, ở sừng, ở chân, ở móng đều được tô ứng với Địa Chi, Ngũ Hành... Đuôi trâu đất được quy định 1 thước 2 tấc tượng trưng cho 12 tháng v.v.

Cũng như các ý nghĩa đó Mang thần (thần chăn trâu) được đắp cao 3 thước 6 tấc 5 phân tượng trưng 365 ngày. Tất cả những yếu tố như nét mặt, áo quần, mũ mão, giày... trên mình Mang thần cũng được quy định chặt chẽ về tính chất, màu sắc để ứng với âm dương; địa chi, ngày giờ... của năm đó.

Đàn tế được triều Nguyễn chọn đặt ở ngoài quách cửa Chính Đông của Kinh Thành, luôn hướng về phía đông. Đồng thời, các án để thiết trí Mang thần và Trâu đất cũng được chuẩn bị. Ban đầu, các án này được khiêng về và đặt tạm ở các phủ thự. Sau đó, trước ngày làm lễ một ngày, vào sáng sớm, để chuẩn bị cho cuộc lễ, các án đặt trâu, hương đèn nến thắp, lễ phẩm được một người bày biện trước.

Lễ rước xuân được tổ chức một cách long trọng. Các quan viên đề đốc, phủ doãn, phủ thừa... đều phải mặc áo đỏ, hoặc tía đi sau đội lễ nhạc, nghi trượng, tán, lọng và khiêng các án Mang thần và Trâu đất được rước tới nhà bộ Lễ và được để yên tại nơi này.

 

Hình ảnh về lễ Tiến Xuân được lưu trữ trong tư liệu thời Nguyễn

Sáng sớm ngày lập xuân, bộ Lễ cùng với phủ Thừa Thiên và các quan ở Khâm Thiên Giám đều mặc triều phục khiêng 2 án Trâu đất và Mang thần với đầy đủ tàn, lọng, nhã nhạc, nghi trượng dẫn đầu. Sau đó, chia ra đến ngoài cửa Tiên Thọ và cửa Hưng Khánh đứng đợi. Đến giờ tốt, các quan trong nội giám tiếp nhận, đưa tiến. Lúc này, viên phủ Thừa Thiên trở về phủ thự, đưa trâu ra đánh 3 roi để tượng trưng cho sự khuyên cày. Buổi lễ được cử hành xong thì Trâu đất và Mang thần được đưa vào cất giữ ở Vũ Khố. Năm sau, làm lễ Tiến Xuân lại đưa Trâu đất và Mang thần từ Vũ Khố để sử dụng lại. Nhưng đến năm Minh Mạng thứ 11 (1831) thì sự việc này có sửa đổi: "Từ nay về sau, hàng năm, làm lễ Tiến Xuân xong, bưng Trâu đất và Mang thần lần trước ra, bộ Lễ hội đồng và Vũ Khố chọn đất sạch chôn cất, không nên để trữ".

Tuy nhiên, những năm tổ chức lễ Tiến Xuân mà có đại tang, quốc tang thì nghi lễ có một số điều chỉnh. Tùy theo tính chất, triều Nguyễn quy định lại về nghi thức cử hành lễ Tiến Xuân cũng như trang phục trong buổi lễ. Sử sách cho biết, trong lịch sử, vào năm 1841, triều thần đã có sớ dâng lên vua như sau: "Năm nay, gặp nghi lễ đại tang Thánh tổ Nhân hoàng đế, về lễ Đón xuân, Tiến xuân, xin do bộ Lễ và viên Kinh doãn mặc lễ phục, kính đem Mang thần và Trâu đất vào nhà Duyệt Thị, tiến lên (...) nhưng Nhã nhạc có đặt mà không tấu". Bấy giờ là vua Thiệu Trị mới có lệnh như sau: "Mang thần và Trâu đất, là lễ đời cổ để khuyên cày, lại là việc quan trọng đầu xuân, xét nguồn gốc có quan hệ đến sinh dân, thực không thể thiếu được. Chuẩn cho khi Đón Xuân, Tiến Xuân, cứ đình bớt 1 tiết xuân sơn không có hại gì, để cho hợp tình, hợp lễ; còn các khoản khác y lời nghị".

 

Lễ Tiến Xuân được tái hiện tại Hoàng thành Thăng Long vừa qua

Lễ Tiến Xuân ngưu có một ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống tinh thần của con người dưới thời các vua Nguyễn.

Nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp lúa nước nên cuộc lễ này lại có quan hệ mật thiết đối với đời sống của nhân dân nhiều hơn. Nhận thức rõ về điều ấy, các vua Nguyễn có những quan tâm hợp lý. Vào năm 1833, vua Minh Mạng xuống dụ rằng: "Về khoản Trâu đất và Mang thần, nguyên là ý chăn việc cày ruộng, khuyên bảo giúp đỡ, ở Kinh đã cử hành trước, các địa phương cũng nên tuân làm tất cả, để cho phù hợp lễ đời cổ".

Suy cho cùng, cùng với lễ Tịch Điền, lễ Tiến Xuân đều được tổ chức trên tinh thần nhân văn, điều ấy thể hiện những ước mơ chính đáng về một cuộc sống vật chất đầy đủ trong năm mới, hơn nữa đó còn phản ánh được một dạng nghi lễ có màu sắc tín ngưỡng trong đời sống tâm linh của người Việt ngày xưa, khi mà nền kinh tế quốc gia chủ yếu dự vào nông nghiệp lúa nước.

Hồng Hà (ghi theo lời nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế)

 

bvhttdl.gov.vn

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 2152

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Thiện chí hòa bình của Việt Nam qua sắc lệnh lùi ngày bầu cử năm 1945

Thiện chí hòa bình của Việt Nam qua sắc lệnh lùi ngày bầu cử năm 1945

  • 18/02/2021 09:15
  • 62

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DCCH) vừa ra đời đã gặp rất nhiều khó khăn đe dọa trực tiếp đến nền độc lập và chính quyền non trẻ. Tình hình thực tiễn của đất nước khi đó, việc triệu tập quốc dân đại hội để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống ngoại xâm là rất cần thiết. Vì vậy, trong một trong sáu nhiệm vụ cấp bách mà chính phủ đề ra là phải “tổ chức càng sớm càng hay TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống…”. Với thiện chí hòa bình, không muốn đối đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc, Chính phủ Việt Nam DCCH đã thi nhiều chính sách ngoại giao khôn khéo, một trong các đối sách đó là chấp nhận lùi ngày tổng tuyển cử 2 tuần so với ngày đã định theo yêu sách của Tưởng Giới Thạch.