Thứ Năm, 19/09/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

27/08/2019 14:02 107
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Danh nhân văn hoá kiệt xuất đã "hiến dâng cả cuộc đời cho dân tộc", đã dành trọn cuộc đời của mình cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ta khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giành độc lập, tự do, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

 

Ảnh tư liệu

Suốt đời Bác lo cho nhân dân ta "ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Những di sản văn hoá tư tưởng của Người để lại cho dân tộc ta vô cùng vĩ đại, trong đó có bản Di chúc lịch sử. Đó là những lời căn dặn cuối cùng của Bác, là tình cảm và niềm tin của Bác đối với chúng ta và các thế hệ tương lai. Do đó Di chúc của Bác là tài sản chung của Đảng, của dân tộc, là văn kiện, cẩm nang thường nhật soi đường chỉ lối cho mỗi bước chúng ta đi.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm thể hiện tinh thần yêu nước, thương dân, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân của vị lãnh tụ vĩ đại, là di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh. Có thể khai thác, tìm hiểu bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng điểm chung nhất toát lên khi nghiên cứu Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Bản Di chúc chứa đựng cả hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, về đoàn kết quốc tế, về xây dựng Đảng, về đạo đức cách mạng...

Đã 50 năm trôi qua, những tư tưởng của Bác Hồ thể hiện trong Di chúc, những giá trị nhiều mặt của Di chúc đã được nhiều nhà khoa học tìm tòi, khai thác, nghiên cứu và có nhiều công trình đã được công bố. Trong bài viết nhỏ này chỉ xin hệ thống lại đôi nét về địa điểm, thời gian, không gian ra đời bản Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu. Từ đó suy nghĩ tới việc phát huy tác dụng và tuyên truyền giáo dục về Di chúc tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. 

 Trong cuộc đời 79 mùa xuân, Bác Hồ đã ở và làm việc ở nhiều nơi, nhưng Người ở và làm việc lâu nhất là Khu Phủ Chủ tịch (từ 19/12/1954 đến 02/9/1969). Trong 15 năm ấy, Người sống và làm việc ở nhà sàn nhiều thời gian nhất (từ 19/5/1958 đến 17/8/1969). Từ ngày 17/8/1969, do điều kiện sức khoẻ của Người, các bác sỹ đề nghị Người không lên xuống nhà sàn nữa, Người đã xuống ở căn nhà được xây dựng năm 1967. Tại đây, Người đã được các bác sỹ tận tình cứu chữa, nhưng Người đã ra đi lúc 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969 sau một cơn đau tim. Chuẩn bị cho sự ra đi này, từ năm 1965, khi còn ở nhà sàn, Bác đã chọn đúng giờ đẹp nhất trong ngày, chọn đúng lúc sức khoẻ tốt nhất trong những năm đó để viết sẵn Di chúc, mà với đức khiêm tốn cao cả Bác  không gọi là "Di chúc", "Chúc thư" hay "Di huấn"... Bác gọi rất giản dị là "Tài liệu", là "Thư", là " Mấy lời để lại". Bác cũng không muốn cho nhiều người biết việc làm của một người sắp đi xa, ngại dẫn đến những suy nghĩ không có lợi, nên mở đầu bài viết, Bác ghi rõ "Nhân dịp 75 tuổi" và phía bên lề trái, Bác ghi chú thêm hàng chữ "Tuyệt đối bí mật". Có nghĩa tài liệu "Tuyệt đối bí mật" này sẽ chỉ được công bố khi Người đi gặp Cụ Các Mác, Cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác.

Những lúc thảo tài liệu "Tuyệt đối bí mật", Bác đã ngồi ở chiếc ghế mây để viết hoặc Bác ngồi đánh máy trên chiếc bàn gỗ được kê trong phòng làm việc tầng hai nhà sàn. Cơ sở khẳng định điều này có nhiều tư liệu, song những tài liệu đã công bố và lời kể của đồng chí Vũ Kỳ- nguyên thư ký riêng của Bác, người được Bác tin cẩn giao phó cho cất giữ cẩn thậntài liệu "Tuyệt đối bí mật" là đáng tin cậy.Trong hồi ký của mình, đồng chí Vũ Kỳ viết: "Đúng 9h, Bác Hồ ngồi chăm chú viết. Vấn đề chắc đã suy ngẫm từ lâu. Phòng làm việc trên nhà sàn yên tĩnh. Gió mát dịu, thoang thoảng hương thơm của hoa vườn...

Chính vào giờ phút đó Bác Hồ đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu "Tuyệt đối bí mật" để dặn lại cho muôn đời con cháu mai sau"(1).

Đó là ngày 10/5/1965, ngày đầu tiên Bác viết Di chúc. Rồi những ngày tiếp theo của tháng 5 năm ấy hay những ngày trung tuần tháng 5 của các năm sau cũng vậy, Bác viết, sửa chữa, bổ sung Di chúc ở phòng làm việc nhà sàn. Ngày 19/5/1969 Bác xem lại Di chúc: "Đúng 9h, Bác ngồi vào bàn làm việc với bản Di chúc trước mặt. Bên ngoài nắng đã lên cao. Những chùm hoa phượng nở sớm, bắt nắng khoe màu rực rỡ. Mặt hồ lăn tăn gợn sóng, lấp lánh ánh mặt trời. Một làn gió mát rượi ùa vào khung cửa sổ làm bay bay những sợi tóc bạc của Bác. Bác ngồi đó, tựa lưng vào thành ghế thoải mái, ung dung, nét suy tư hiện lên trên vầng trán rộng..."(2). Ngày 20/5/1969, "Người xem lại tài liệu lần cuối và xếp vào phong bì cất đi"(3).

Ai đã từng được một lần đến nhà sàn ở Khu di tích Phủ Chủ tịch, được lên phòng làm việc của Bác, đứng ở cửa sổ nơi có bộ bàn ghế Bác ngồi làm việc và viết Di chúc để nhìn ra hồ nước, nhìn ra xung quanh mới thấy những điều đồng chí Vũ Kỳ  viết và kể lại là xác đáng. Ngày 8/5/2004 khi chúng tôi vào thăm đồng chí Vũ Kỳ ở bệnh viện Hữu nghị, dù rất mệt, đồng chí vẫn kể lại chuyện này như đồng chí vừa được chứng kiến.

Ngôi nhà sàn lộng gió thời đại. Bác ung dung, thư thái viết ra những điều Bác đã suy nghĩ, đúc kết, những kinh nghiệm mà bằng cả cuộc đời phấn đấu hy sinh Bác thu lượm được. Những điều đó quí giá biết nhường nào. Di chúc của Bác do đó là tài sản tinh thần vô giá Bác trao cho thế hệ chúng ta hôm nay, cũng như các thế hệ mai sau. Ngôi nhà sàn vì vậy đã đi vào huyền thoại trong cái huyền thoại chung của cuộc đời Bác Hồ và ngày càng trở nên có ý nghĩa sâu sắc.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, để chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến bến bờ thắng lợi, Bác đã viết nhiều văn kiện quan trọng. Không kể những văn kiện Bác viết trong những năm ở nước ngoài hay trước tháng 8/1945 mà chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu hết hoàn cảnh ra đời của chúng, thì cuối tháng 8/1945 Bác đã viết bản Tuyên ngôn độc lập ở căn nhà 48, Hàng Ngang, Hà Nội, chuẩn bị cho ngày lễ khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; Đêm khuya ngày 18/12/1946, tại một căn gác nhỏ toả một vùng sáng hẹp quanh chiếc bàn gỗ ở Vạn Phú- Hà Đông, Bác viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến- lời hịch cho cả dân tộc bước vào trận chiến mới đầy thử thách ác liệt giành độc lập, tự do; Tại nhà sàn trong khu Phủ Chủ tịch, tháng 7/1967 khi đế quốc Mỹ leo những nấc thang nghiêm trọng xâm lược nước ta, Bác viết Lời kêu gọi quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Những văn kiện trên, do hoàn cảnh lịch sử cụ thể, Bác đã không dành được nhiều thì giờ. Riêng những lời để lại trước khi từ biệt thế giới này, thì giờ Bác dành cho nó khá nhiều. Theo đồng chí Vũ Kỳ: "Trong khoảng thời gian 4 năm, từ 10/5/1965 đến 19/5/1969, Bác đã để cả thảy 28 buổi, phần lớn mỗi buổi hai giờ rưỡi để viết Di chúc"(4).

Tìm hiểu thời điểm khởi thảo và quá trình viết Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta thấy:

Năm 1965: Những dòng đầu tiên của Di chúc đã được Bác viết từ 9h đến 10h, thứ hai ngày 10-5. Cũng vào giờ này của các ngày 11,12,13, Bác tiếp tục viết Di chúc. Ngày 14-5, từ 6h đến 9h Bác đến thăm nông dân xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội, gặt lúa chiêm. Gần 10h, Bác mới về đến nhà kịp tham gia họp Bộ Chính trị bàn về công tác đào tạo cán bộ, nên ngày đó Bác đã không viết tiếp bản thảo như giờ đã định. Buổi chiều, từ 14h đến 16h Bác viết tiếp tài liệu "Tuyệt đối bí mật" và tự tay đánh máy. Đúng 16 giờ ngày 14-5-1965, Bác đánh xong bản Di chúc và cũng đến giờ Bác hẹn đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn sang gặp. Nhưng Bác đánh máy dòng chữ "Hà Nội ngày 15-5-1965" trước chữ ký Hồ Chí Minh. Bên cạnh, phía trái là chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn"(5).Như vậy, sự chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn đã diễn ra trong khoảng thời gian từ 16h đến trước 18h ngày 14/5/1965, vì đúng 18h các đồng chí Trung ương vào chúc thọ Bác 75 tuổi. Sau đó từ 19h30, Bác đi dự mít tinh của thiếu nhi Thủ đô nhân dịp kỷ niệm lần thứ 24 ngày thành lập Đội Thiếu niên tiền phong Việt Nam và chúc thọ Bác 75 tuổi. Đúng 21h hôm đó, về đến nhà sàn, Bác giao lại chiếc phong bì to đựng các bản thảo Di chúc và bản Di chúc đã đánh máy có chữ ký của đồng chí Lê Duẩn cho đồng chí Vũ Kỳ và dặn "Chú giữ cẩn thận, sang năm 10-5 nhớ đưa lại cho Bác"(6).Bản thảo Di chúc của Bác như thế nào đến nay chúng tôi chưa rõ nhưng bản Di chúc đánh máy có 3 trang được Bác đánh trên giấy khổ A4, có màu trắng ngà, chữ viết trên bản Di chúc này chính là từ chiếc máy chữ Bác vẫn dùng ở nhà sàn. Sáng sớm ngày 15/5/1965, Bác đi thăm Trung Quốc, Liên Xô một tháng. Ngày 15 ấy, Bác cũng lấy là ngày viết xong Di chúc. Có sự trùng hợp ngẫu nhiên của con số 15 (ngày 15/2/1965, Bác về thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn- Hải Dương) mà đồng chí Vũ Kỳ cho là "Rồi đây các nhà viết sử có lẽ phải dành nhiều trang cho sự kiện ngẫu nhiên này"(7).

Năm 1966: Từ ngày 10-5 đến ngày 15-5, từ 9h đến 10h hàng ngày Bác vẫn dành tài liệu "Tuyệt đối bí mật". Theo đồng chí Vũ Kỳ, Bác đã đọc rất chăm chú trên từng câu, từng chữ bản Di chúc Bác đánh máy xong lúc 16h ngày 145//1965. Bác không viết gì thêm, chỉ ghi thêm một câu đặc biệt quan trọng "Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau" sau đoạn "Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên vac nghiêm chỉnh tự phê bình và phên bình, là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng"(8). Nhưng nghiên cứu bản gốc Di chúc, chúng tôi còn thấy có thêm cụm từ"phục vụ Tổ quốc"Bác viết ở bên lề để thêm vào sau cụm từ "phục vụ nhân dân" và Bác mở ngoặc "Tôi viết thêm H.C.M". Câu phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau" và cụm từ "phục vụ Tổ quốc" viết bằng bút mực Cửu long xanh đen. Ngoài ra, chúng tôi cũng còn thấy Bác sửa một sô lỗi chính tả do đánh máy sai bằng bút bi màu mực xanh. Ví như câu "lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp", Bác sửa chữ "tốt" thay cho chữ "lợi".

Năm 1967: Từ ngày 14-4, Bác đi công tác nước ngoài đến 30-6 mới về, nên tài liệu "tuyệt đối bí mật" được đồng chí Vũ Kỳ cất vào một chỗ khác.

Năm 1968: Từ ngày 10-5 đến ngày 19-5, ngày nào Bác cũng dành một giờ, từ 9h đến 10h, tiếp tục viết tài liệu "Tuyệt đối bí mật". Năm này, Bác bổ sung và sửa chữa nhiều cho Di chúc và viết thêm 6 trang:

- Một bản là một tờ giấy trắng ngà khổ 19cm x 24cm có dòng kẻ đỏ. Bác viết cả ở hai mặt và bằng bút mực Cửu long xanh đen. Những chỗ sửa chữa Bác viết bằng bút mực đỏ, những chỗ vạch chân để nhấn mạnh Bác dùng bút bi mực đỏ.

- Một bản gồm 3 tờ giấy ngà khổ 18,5cm x 26cm có dòng kẻ đỏ. Tờ 1, Bác viết 2 mặt; tờ 2 và 3, Bác viết một mặt. Chữ viết bằng bút mực Cửu long xanh đen, chữ sửa bằng bút mực đỏ. Những chỗ viết con số ghi số trang, Bác viết bằng bút bi đỏ, bi xanh. Ở những tờ Bác viết 2 mặt, chữ trang một thấm sang cả trang 2 và ngược lại nên rất khó đọc (9).

Từ ngày 10-5 đến 18-5 năm ấy Bác viết và sửa Di chúc ở nhà sàn. Riêng ngày 19-5, Bác viết ở nhà nghỉ Hồ Tây. Vì 18h ngày 18-5, sau bữa cơm chiều Bác đã bí mật rời Phủ Chủ tịch lên Hồ Tây để tránh liên hoan chúc thọ sinh nhật Bác. Ngày sinh nhật Bác năm ấy, Bác bình thản chuẩn bị cho ngày ra đi của mình.

Năm 1969: Từ ngày 10-5 đến ngày 20-5, Bác vẫn đều đặn dành mỗi ngày 1 giờ, từ 9h đến 10h, để xem lại và sửa chữa Di chúc. Riêng 10-5, do đi dự Hội nghị Trung ương họp ở nhà khách Hồ Tây về đến nhà sàn đã hơn 9h nên "lần đầu tiên trong 4 năm viết Di chúc, Bác đã lùi thời gian từ 9h30 đến 10h30"(11). Ngày đó Bác đã viết lại toàn bộ phần mở đầu của Di chúc vào mặt sau tờ cuối cùng của tập bản tin (tin tham khảo đặc biệt) - số ra thứ 7 ngày 03/5/1969 do Việt Nam Thông tấn xã phát hành. Tập bản tin này gồm 15 trang, khổ A4, in rôneo. Bản viết này, Bác viết bằng bút mực Cửu long xanh đen. Những chữ sửa lại, viết thêm Bác dùng bút mực đỏ, những chỗ gạch chân, chữ số, Bác dùng bút bi đỏ (12). Và ngày 12-5, do buổi sáng Bác đi dự họp Bộ Chính trị nên Bác chuyển giờ viết Di chúc vào buổi chiều, từ 15h đến 16h. Những ngày này Bác chủ yếu tập trung vào sửa chữa đoạn mở đầu và viết thêm Di chúc năm 1968.

Như vậy, bản Di chúc đã được Bác khởi thảo từ ngày 10/5/1965. Ngày 20/5/1969 là ngày Bác xem lại lần cuối cùng. Trong khoảng 4 năm ấy cứ vào trung tuần tháng 5 hàng năm, phần lớn mỗi ngày Bác đều dành 1 giờ để xem lại, sửa chữa, bổ sung những chỗ cần thiết, có khi viết thêm một số trang, hoặc sửa chữa một số câu, có khi chỉ thay đổi một vài chữ trong Di chúc. Với trách nhiệm với hậu thế, Bác cân nhắc từng ý, từng lời, nhưng mỗi ý, mỗi lời đều giản dị, chân thành, trong sáng, tự nhiên như chính cuộc đời mà Bác đã sống.

Liên quan đến sự ra đời bản Di chúc lịch sử Bác Hồ để lại, Bác thể hiện trên những bản thảo Di chúc Bác viết tay hay những trang Di chúc Bác tự tay đánh máy, còn có nhiều kỷ vật khác. Đó là ngôi nhà sàn, là phòng làm việc tầng 2 nhà sàn, là bộ bàn ghế Bác vẫn thường ngồi làm việc và đã ngồi để thảo Di chúc, là chiếc giá sách trên đó Bác đã từng cất tài liệu "Tuyệt đối bí mật", là chiếc máy chữ Bác đã dùng đánh văn bản và đánh Di chúc (bản năm 1965), những chiếc bút Bác đã dùng để viết, sửa chữa, bổ sung Di chúc, là chiếc phong bì Bác đựng tài liệu "Tuyệt đối bí mật"... Tất cả đều là những di vật lịch sử, đã tồn tại cùng với sự tồn tại của ngôi nhà sàn, trong thời gian và không gian Bác đã ở và làm việc ở khu Phủ Chủ tịch. Chúng đã trở thành những vật chứng thiêng liêng, chứng kiến những hoạt động cụ thể của Bác Hồ, chứng kiến những suy nghĩ sâu sắc được Bác nghiền ngẫm, chắt lọc để rồi được hiện hữu thành di sản văn hoá cho muôn đời sau, không chỉ cho các thế hệ người Việt Nam mà còn cho cả nhân dân yêu lao động, hoà bình, công lý trên thế giới.

Thời gian trôi đi, khách trong nước, khách quốc tế tới thăm Nhà sàn Bác Hồ ngày một đông hơn, nhu cầu tìm hiểu về Di chúc của Bác Hồ ở ngay tại nơi Bác viết Di chúc đặt ra cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Chúng ta cần tổ chức tốt việc nghiên cứu, sưu tầm đầy đủ các bản thảo của Bác Hồ về Di chúc, xây dựng thành một sưu tập Di chúc hoàn chỉnh; Sưu tầm toàn bộ sách, báo, tài liệu liên quan đến Di chúc; nghiên cứu, xác định xây dựng hồ sơ khoa học cho các hiện vật ở nhà sàn liên quan đến Di chúc; Tổ chức các phương thức giới thiệu, tuyên truyền Di chúc của Bác ở Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và ở các địa phương, trường học, cơ quan. Kết hợp với việc nghiên cứu trưng bày bổ sung Di chúc (có thể cả bút tích Di chúc các năm 1965, 1968, 1968) trên bàn làm việc tầng 2 nhà sàn. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ thuyết minh cần giới thiệu cho khách tham quan hiểu một cách có hệ thống quá trình Bác Hồ viết Di chúc, những vấn đề liên quan đến Di chúc, để trong tình hình đất nước hiện nay, sẽ có ý nghĩa làm tăng thêm niềm tin của nhân dân đối với Đảng... Tiến hành các mặt hoạt động đó là chúng ta thiết thực góp phần vào tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng hiện nay và kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ.

Trần Thị Thuấn-Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Chú thích:

1. Vũ Kỳ. Càng nhớ Bác Hồ, Nxb Thanh niên. Hà Nội. 1999. Tr 130

2, 3. Hồ Chí Minh- Biên niên tiểu sử. Nxb Chính trị quốc gia. 1996. T10. Tr 351.

4. Vũ Kỳ. Tưởng nhớ Bác Hồ viết Di chíc lịch sử. Tạp chí Văn hoá - Nghệ  thuật. Số 8-1999. Tr 12.

5. Vũ Kỳ. Càng nhớ Bác Hồ. Nxb Thanh niên. Hà Nội. 1999. Tr 152.

6. Vũ Kỳ. Càng nhớ Bác Hồ. Nxb Thanh niên. Hà Nội. 1999. Tr 154.

7. Bác Hồ viết Di chúc. Hồi ký của Vũ Kỳ. Thế Kỷ ghi. NXB Chính tri quốc gia. Hà Nội. 1999. Tr 11.

8. Xem bản thảo Di chúc của Bác năm 1965 lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

9. Xem bản thảo Di chúc của Bác năm 1965 lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

10. Xem các bản thảo Di chúc gốc của Bác năm 1968 lưu tại Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng. Vũ Kỳ. Càng nhớ Bác Hồ. Nxb thanh niên. Hà Nội. 1999. Tr 225.

11. Xem Bản thảo Di chúc gốc của Bác năm 1969 lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

12. Khu di tích Phủ Chủ tịch. Hồ Chí Minh gương sáng đời đời. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội.1998.Tr 19.

 

toquoc.vn

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 225

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Nhà mồ và tượng mồ Tây Nguyên

Nhà mồ và tượng mồ Tây Nguyên

  • 21/08/2019 09:46
  • 113

Nhà mồ và tượng mồ là mảng đặc sắc của văn hóa cổ truyền Tây Nguyên (Nam Trung bộ, Việt Nam). Trong thời gian gần đây, truyền thống dựng nhà mồ, tượng mồ chỉ còn thấy tập trung ở các dân tộc Ba na, Ê đê, Gia rai, Mnông, Xơ Đăng. Nghĩa địa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thường được bố trí ở những cánh rừng già khá thâm u, cùng với vô vàn tượng gỗ đủ hình thù, tư thế, khiến người ta có cảm giác như lạc vào ranh giới giữa thế giới thực tại và thế giới tâm linh. Tượng Nhà mồ được các nghệ nhân của đại ngàn làm ra để dùng cho lễ bỏ mả - cuộc chia tay tưng bừng cuối cùng giữa người sống và người chết, để tiễn những linh hồn về thế giới ông bà. Sau lễ bỏ mả, tượng Nhà mồ cũng nằm lại nghĩa địa cùng thời gian, mưa nắng. Quần thể tượng mô tả sự hình thành, ra đời và lớn lên của một đời người với đủ các cảnh sinh hoạt và các mối quan hệ của con người. Nhà mồ được xây trùm trên nấm mộ và là trung tâm của lễ bỏ mả. Nhà mồ có nhiều loại khác nhau. Trang trí nhà mồ thường sử dụng 3 màu: đen, đỏ và trắng. Tượng mồ là những tác phẩm điêu khắc độc đáo bậc nhất của đồng bào các dân tộc vùng đất này, trong đó tượng mồ Gia rai, Ba na phong phú và đặc sắc hơn cả.