Thứ Ba, 24/05/2022
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

17/09/2010 17:55 2332
Điểm: 5/5 (1 đánh giá)
Lời dẫn: Bài này là những quan điểm, nhận xét, đúc kết của một quá trình tìm tòi và suy nghĩ về tín ngưỡng, tôn giáo Chăm của chúng tôi từ năm 1991 đến năm 1998. Sau đó, năm 2001 đề tài này trở thành chủ đề nghiên cứu khoa học- ứng dụng vào người Chăm của Ban Dân vận Tỉnh ủy Ninh Thuận do Trương Nghiệp Vũ làm chủ biên, Thành Chiểu, Đổng Văn Dinh và Trương Văn Món… là thành viên. Đề tài được nghiệm thu vào năm 2004, có sự tham gia của nhiều trí thức Chăm. Từ đó chủ đề thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo Chăm được nhiều trí thức đề cập, viết bài tham gia trên nhiều diễn đàn. Bài này cũng đã được đăng tải trong sách và tạp chí ở Việt Nam (Sakaya “Thực trạng tín ngưõng tôn giáo của người Chăm Ninh Thuận hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn Giáo, Số 4 / 2000, tr.40-44 và Sách Tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam , Nxb Chính trị Quốc gia, 2006). Nhận thấy bài này vẫn còn mang tính thời sự cho nên chúng tôi cho đăng tải lại trên web chúng tôi: monsakaya.com để độc giả tiện tham khảo.

Lời dẫn: Bài này là những quan điểm, nhận xét, đúc kết của một quá trình tìm tòi và suy nghĩ về tín ngưỡng, tôn giáo Chăm của chúng tôi từ năm 1991 đến năm 1998. Sau đó, năm 2001 đề tài này trở thành chủ đề nghiên cứu khoa học- ứng dụng vào người Chăm của Ban Dân vận Tỉnh ủy Ninh Thuận do Trương Nghiệp Vũ làm chủ biên, Thành Chiểu, Đổng Văn Dinh và Trương Văn Món… là thành viên. Đề tài được nghiệm thu vào năm 2004, có sự tham gia của nhiều trí thức Chăm. Từ đó chủ đề thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo Chăm được nhiều trí thức đề cập, viết bài tham gia trên nhiều diễn đàn. Bài này cũng đã được đăng tải trong sách và tạp chí ở Việt Nam (Sakaya “Thực trạng tín ngưõng tôn giáo của người Chăm Ninh Thuận hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn Giáo, Số 4 / 2000, tr.40-44 và Sách Tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006). Nhận thấy bài này vẫn còn mang tính thời sự cho nên chúng tôi cho đăng tải lại trên web chúng tôi: monsakaya.com để độc giả tiện tham khảo.

Mở Ðầu.
Ninh Thuận là nơi người Chăm cư trú lâu đời và có số dân tập trung đông nhất (67.649 người) so với người Chăm ở Việt Nam. Hiện nay họ sinh sống ở 22 làng cổ truyền, theo hai tôn giáo chính: Chăm Ahaier (Chăm Bà La Môn) và Chăm Awal/Bani (Chăm ảnh hưởng). Ngoài ra còn một bộ phận Chăm Islam (Hồi giáo mới). Mỗi nhóm tín đồ đều có nếp sống, sinh hoạt, kiêng cữ, lễ nghi, phong tục tập quán củaa riêng mình, góp phần tạo nên diện mạo tôn giáo của người Chăm đa dạng, đặc sắc.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trong công cuộc đổi mới đất nước, cùng với sự giao lưu, hội nhập giữa các nước trên thế giới, vấn đề tôn giáo, dân tộc đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia. Tôn giáo đang có xu hướng thế tục hóa; gần đây những hiện tượng tôn giáo cực đoan xuất hiện; sự lan rộng của Kitô giáo, sự tranh giành ảnh hưởng của Hồi giáo thế giới đã và đang có xu hướng tác động hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp đến tôn giáo của người Chăm. Trước tình hình đó tôn giáo củangười Chăm biến đổi, thích nghi ra sao? Nó vận hành trong xã hội Chăm như thế nào? Ðây là vấn đề quan trọng liên quan đến đời sống của người Chăm nhưng chưa ai đề cập đến. Bài viết này nhằm cung cấp những tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu và công tác quản lí tôn giáo, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy tôn giáo người Chăm Chăm hiện nay.

Di sản tôn giáo của người Chăm ở Ninh Thuận
Tôn giáo củangười Chăm là một bộ phận quan trọng của văn hóa Chăm. Tôn giáo đã in dấu sâu sắc trên mọi lĩnh vực văn hĩa, kinh tế, xã hội và hiện nay đã để lại cho người Chăm một di sản đồ sộ. Ở Ninh Thuận có 3 tháp nổi tiếng: Tháp Hòa Lai, tháp Po Klaong Garai và tháp Po Rome. Bên cạnh những ngơi tháp cịn có các đền thờ (danok) như đền Po Nagar (Hữu Ðức), đền Po Rome (Hậu Sanh), đền Po Klaong Garai (Phước Ðồng), đền Po Klaong Chan (Bầu Trúc)… Cùng với đền tháp còn có một tầng lớp tu sĩ (basaih) gồm 38 vị, đứng đầu là ba vị cả sư (Po Adhia) quản lí tín đồ và chăm lo cúng tế đền tháp.
Song song với đền tháp của người Chăm Ahie, r ở Ninh Thuận còn có 7 thánh đường Hồi giáo Bani ở 7 thôn (Văn Lâm, Tuấn Tú, Thành Tín, Phú Nhuận, Lương Tri, An Nhơn, Phước Nhơn) với 128 vị tu sĩ (Po Acar) đứng đầu là 7 vị cả sư (Po Gru) quản lí 7 thánh đường và phục vụ nghi lễ cúng tế tôn giáo cho 23.000 tín đồ Chăm Bani. Ngoài Chăm Bani, còn có Chăm Islam với khoảng 2.500 tín đồ, 18 vị tu sĩ và 4 thánh đường ở 4 thôn (Văn Lâm, Nho Lâm, An Nhơn, Phước Nhơn).
Cùng với hệ thống đền tháp, thánh đường, người Chăm Ninh Thuận đến nay vẫn cịn baœo lưu khá tốt những nghi lễ, hội hè, đình đám liên quan đến tín ngưỡng tôn giáo. Theo thống kê ban đầu, người Chăm có đến gần 100 lễ tục khác nhau và 128 vị thần linh mà họ thường kêu cầu, cúng tế. Trong hệ thống nghi lễ trên, nổi bật là các lễ cúng tế đền tháp, thánh đường hàng năm như lễ Péh bang yang (lễ mở cửa tháp), lễ Yuer yang (lễ cầu đảo), lễ Ca-mbur (lễ cúng nữ thần vào tháng 9 lịch Chăm), lễ hội Katê, lễ hội Ramawan, lễ Waha (lễ cúng chay niệm của Hồi giáo), Suk Yeng… Bên cạnh nghi lễ, đền, tháp, thánh đường, người Chăm Ninh Thuận cón có một hệ thống lễ nghi liên quan đến cộng đồng, tộc họ như: Lễ Raja Nagar (lễ hội múa tống ôn đầu năm), lễ Raja Harei (lễ múa ban ngày), lễ Raja Praong (lễ múa lớn); các lễ nghi nơng nghiệp và các lễ nghi khác liên quan đến đời sống cá nhân con người như lễ nhập đaư (kakréh, katat), lễ cưới, lễ tang, lễ nhập kut …
Nói chung, tôn giáo của người Chăm khơng chỉ lưu lại hệ thống đền tháp, thánh đường – đỉnh cao của văn hóa vật chất, nơi ngưng đọng những giá trị kĩ thuật và mĩ thuật củanền văn hóa Chăm mà còn sản sinh ra những nghi lễ, hội hè, trong đó chứa đựng những lời ca, tục cúng, nghệ thuật múa hát đặc sắc… Tất cả đã trởthành một di saœn văn hóa Chăm ngày nay. Ðó chính là cái cốt lõi, cái tinh hoa văn hóa dân tộc mà qua hàng nghìn năm người Chăm đã chiết xuất, hội tụ thành các biểu tượng, các mô thức vật chất và tinh thần. Vì vậy, tôn giáo đã thực sự thấm sâu, chi phối đời sống cộng đồng, tạo nên phong tục, lối sống, phong cách, tư duy, thị hiếu… Tất cả những cái đó đã tạo nên nét riêng biệt của văn hóa, tôn giáo của cộng đồng người Chăm ngày nay.

Thực trạng tín ngưỡng ,tôn Giáo của Người Chăm ở Ninh Thuận .
Tín ngưỡng tôn giáo củangười Chăm một thời đã đĩng góp tích cực vào sự hình thành nên diện mạo văn hóa Chăm. Nhưng ngày nay, trải qua một quá trình dài củal ịch sử, nền văn hóa này không cịn giữ nguyên được bản chất ban đầu của nó mà đã bị nhiều lớp văn hóa sau hội nhập. Vốn là những tôn giáo được du nhập từ bên ngồi vào (Ấn Ðộ, Ả Rập, Ba Tư),… người Chăm tiếp thu, cải biên, kết hợp với văn hóa bản địa, lấy tín ngưỡng dân gian làm gốc tạo nên bộ mặt tôn giáo mới của người Chăm. Do đó, bản thân tôn giáo của người Chăm không có giáo lí, giáo chức và một hệ thống tổ chức giáo hội chặt chẽ, nó là sự dung hợp nhiều yếu tố văn hóa, tùy theo từng giai đoạn lịch sử, đặc tính địa phương mà có sự biến đổi cho phù hợp. Từ đó dẫn đến mỗi tôn giáo, mỗi địa phương, mỗi nhóm tín đồ của người Chăm trong sinh hoạt tôn giáo có nhiều nét dị biệt khác nhau về giáo lí, giáo lịch, tiểu tiết hành lễ… Ngày nay, do những nét khác biệt đó, cùng với sự tác động của cuộc sống hiện đại, mặt trái của cơ chế thị trường đang làm rạn nứt tôn giáo truyền thống và thúc đẩy xu hướng thế tục hĩa trong xã hội người Chăm. Một số người Chăm khơng còn tin theo tôn giáo truyền thống của họ, bắt đầu lìa bỏ nó để đi tìm một đức tin khác. Nội bộ tu sĩ, giáo lí, giáo lịch, không thống nhất với nhau. Có thể nói diện mạo tín ngưỡng tôn giáo củ angười Chăm ngày nay đang lâm vào thực trạng khá nan giải.

Tôn giáo củangười Chăm Ninh Thuận khơng tồn tại theo một thể thống nhất
Trên thực tế hiện nay, tôn giáo của người Chăm chia ra làm 5 khu vực với nhiều đền tháp, thánh đường bị phân tách không tạo được mối liên kết thống nhất. Chăm Ahier chia ra làm 3 khu vực có 3 nhóm tín đồ và đứng đầu là 3 vị Po Adhia phụ trách tế lễ ở 3 đền tháp (tháp Po Nagar ở Hữu Ðức, tháp Po Klaong Garai ở Tháp Chàm, tháp Po Rome ở Hậu Sanh). Hồi giáo chia ra làm 2 nhóm tín đồ: Chăm Awal/Bani và Chăm Islam. Các chùa tháp thường xảy ra những cuộc tranh chấp cả sư chủ trì tháp Po Rome – Hậu Sanh vào năm 1972; Cuộc tranh chấp cả sư chủ trì tháp Po Nagar – Hữu Ðức vào năm 1993 đã ảnh hưởng không ít đến tình hình đời sống, an ninh, chính trị ở vùng Chăm.
Ở người Chăm cũng có sự tranh giành ảnh hưởng giữa Chăm Awal/Bani và Chăm Islam làm xáo trộn trong đời sống sinh hoạt ở thôn Văn Lâm (Ninh Phước) vào năm 1978. Cuộc xô xát giữa Chăm Ban và Islam ở Phước Nhơn (Ninh Hải) kéo dài từ năm 1978 đến 1985 mới tạm chấm dứt.

Tình hình trên trong tôn giáo của người Chăm đã dẫn đến hậu quả là sự chia rẽ cục bộ, địa phương. Hiện nay, vấn đề thống nhất nội bộ tôn giáo của người Chăm thành một hội đồng liên chùa, liên tháp vẫn là nguyện vọng bức xúc và tha thiết củangười dân ở đây.

Giáo lịch của người Chăm khơng thống nhất, không ổn định, thường chênh lệch về ngày tháng
Lịch củangười Chăm có hai loại: Lịch Ahier và Chăm Awal. Hai loại lịch phục vụ cho hai nhóm tôn giáo khác nhau và cách tính cũng khác nhau. Lịch Chăm Ahier được tính theo chu kì mặt trời , dùng để xem ngày tháng, phục vụ các lễ nghi đền tháp, quan, hơn, tang, tế trong xã hội Chăm. Ngược lại, lịch Chăm Bani được tính theo chu kì mặt trăng (âm lịch Hồi giáo) chỉ dùng xem ngày tháng để hành lễ ở thánh đường Hồi giáo như lễ Ramawan, lễ Waha, Suk Yeng … Còn về việc tính ngày tháng để thực hiện quan, hơn, tang, tế… trong đời sống hàng ngày thì người Chăm Bani vẫn sử dụng ngày tháng của lịch Chăm Ahier.
Việc xem ngày lành tháng tốt để thực hiện các nghi lễ là quan trọng. Cổ thư Chăm có ghi: “Nếu việc tính ngày, giờ, tháng, năm sai lệch hoặc dời ngày giờ của năm này sang năm khác thì thiên hạ sẽ bị thiên tai, đại hạn, mất mùa, đói kém”. Thế nhưng cách tính lịch của tu sĩ Chăm hiện nay khơng thống nhất với nhau. Tuy cùng một lịch nhưng mỗi vùng, mỗi nơi đều có cách tính khác nhau. Lịch Chăm Ahier ở vùng Phan Rang và lịch Chăm Ahier ở Phan Rí (Bắc Bình) có một thời gian dài khơng thống nhất. Lịch Chăm Awal/Bani ở 7 thánh đường vẫn chưa ổn định, còn chênh lệch về ngày tháng. Giải quyết vấn đề trên, tu sĩ Chăm, Ban tôn giáo, chính quyền địa phương để tìm nhiều biện pháp để thống nhất lịch. Cụ thể vào năm 1987 đã tổ chức thống nhất lịch Chăm 2 lần tại huyện Bắc Bình (Thuận Hải cũ) và lần thứ 3 năm 1988 tại huyện Ninh Phước. Ðến nay, lịch Chăm mới tạm thời thống nhất.
Việc sử dụng lịch chênh lệch ngày tháng ở vùng Chăm đã đưa đến hậu quả là cùng một dân tộc, một tôn giáo, nhưng tổ chức lễ cưới, ngày hội ở mỗi vùng, mỗi nơi lại khác nhau. Từ đó tạo nên một tâm lí không tốt trong tín đồ và nội bộ tu sĩ.

Tôn giáo của người Chăm không có một hệ thống giáo lí ổn định
Ðạo Chăm Ahier và Chăm Awal/Bani có ảnh hưởng đạo Balamôn và Hồi Giáo. Hai tôn giáo này khi vào cộng đồng người Chăm đã kết hợp với văn hóa bản địa, lấy tín ngưỡng dân gian làm nền tảng. Vì vậy, xét về mặt giáo lí, giáo lịch, hệ thống thần linh, đề tài, mục đích cúng tế… thì không theo một mẫu hình nhất định nào được quy định bởi giáo lí chính thống mà tùy theo điều kiện lịch sử, đặc tính củatừng địa phương các tôn giáo này có những nghi lễ, tục cúng tế khác nhau. Chẳng hạn trong việc thờ Po Nagar ở mỗi thôn lại có sự khác nhau, cả các vị thần cũng mang tên khác nhau như: Po Nagar Taha, Pơ Nagar Hamu Kut, Po Nagar Marau… Ở vùng Chăm còn có sự khác nhau về lễ Raja Nagar giữa người Chăm Ahier và Chăm Awal. Về nghi thức lễ cầu kinh Ramawan cũng có sự khác nhau giữa người Chăm Awal giữa thôn Lương Tri và các thôn Chăm Awal khác. Đó là khi hành lễ Ramawan, tu sĩ ở thôn Lương Tri phải dùng cơm trước sau đó mới được làm lễ cầu kinh (kakuh po), ngược lại, ở các thánh đường Chăm Awal khác, sau khi làm lễ cầu kinh xong tu sĩ mới được dùng cơm.
Nói chung tôn giáo của người Chăm, xét về mặt hình thức, không có giáo lí chặt chẽ mà chỉ dựa vào kinh chép tay, truyền miệng. Từ đó trải qua nhiều thời gian các kinh này có sự biến đổi, xáo trộn, “tam sao thất bổn”, làm cho giáo lí các tôn giáo củangười Chăm bị biến dạng. Họ thường linh thiêng hóa giáo lí và thực hiện theo lễ thức truyền thống dân gian “xưa sao nay vậy”.

Tín ngưỡng tôn giáo củangười Chăm nghiêng về hình thức cầu cúng
Tín ngưỡng tôn giáo của người Chăm có nhiều nghi lễ, hội hè, đình đám (gần 100 lễ tục và 123 vị thần linh).Những nghi lễ, hội hè của người Chăm một mặt chứa đựng tinh hoa văn hóa, một mặt tạo ra gánh nặng cho xã hội Chăm. Những hình thức cúng tế, những loại quần áo ngũ sắc, lễ vật cúng cho người chết… đã làm tốn nhiều công sức, thời gian và tiền của nhân dân. Ðặc biệt là đám tang Chăm Ahier và đám tang Chăm Bani với những mặt hạn chế của nó đang trở thành mối quan tâm của nhiều người Chăm. Ðiều đó đang đặt ra cho xã hội Chăm một vấn đề là nên bảo tồn và phát huy phong tục tập quán như thế nào cho phù hợp với cuộc sống mới ngày nay.

Tu sĩ Chăm đang thiếu vắng một thế hệ kế tục trong tương lai.
Tu sĩ Chăm là tầng lớp quan trọng trong tín ngưỡng tôn giáo củangười Chăm. Người ta nhận diện được các tôn giáo của người Chăm thông qua tầng lớp tu sĩ. Thế nhưng ngày nay tầng lớp tu sĩ Chăm đang thiếu vắng một thế hệ kế tục. Theo số liệu điều tra mới đây, tu sĩ Chăm Ahier có 38 vị, tu sĩ Chăm Bani có 128 vị và tu sĩ Hồi giáo Islam, có 10 vị. Tuổi đời trung bình củacác tu sĩ này khá cao, đặc biệt la tu sĩ Chăm Ahier (tuổi đời từ 40 – 85). Theo phong tục truyền thống, tu sĩ Chăm Ahier là “cha truyền con nối”, nhưng đến nay các tu sĩ kể trên, trong đó có 3 vị cả sư (Po Adhia), người đứng đầu tôn giáo, vẫn chưa có người kế tục. Ngày nay do nhiều nguyên nhân khác nhau, tu sĩ Chăm đang mất dần đi địa vị được trọng vọng trong xã hội, không còn là mẫu người hấp dẫn, lí tưởng cho mọi người vươn tới. Nếu đúng như vậy thì khoảng 10 – 20 năm nữa, tầng lớp tu sĩ Ahier sẽ rất hẫng hụt. Ðến lúc đó hệ thống lễ nghi của người Chăm Ahier sẽ do ai đảm nhiệm hoặc biến đổi theo chiều hướng nào đang là vấn đề suy nghĩ trăn trở của người Chăm hiện nay.

Một số tín đồ tôn giáo truyền thống của người Chăm từ bỏ đạo mình đi tìm một đức tin khác – một ý thức tôn giáo mới được xác lập
Ðứng trước những luồng tư tưởng văn hĩa mới, các tôn giáo truyền thống của người Chăm chưa kịp thích nghi với thời đại và còn có những biểu hiện trì trệ… Ðiều này làm cho người Chăm phai dần niềm tin tôn giáo của mình, tìm đến các tôn giáo khác. Theo số liệu thống kê hiện nay ở vùng Chăm Ninh Thuận đã có khoảng hơn 200 người Chăm Ahier và Cha9m Bani theo các tôn giáo khác. Bằng nhiều con đường khác nhau, các tôn giáo khác đang vận động những người Chăm dễ tin đi theo đạo của họ. Sự hình thành ý thức tôn giáo mới ở người Chăm sẽ là một nguyên nhân tiềm ẩn tạo ra xung đột với ý thức tôn giáo truyền thống củangười Chăm
Như vậy, thực trạng tín ngưỡng tôn giáo củangười Chăm Ninh Thuận trong đời sống hiện nay là một bức tranh đa dạng và phức tạp với những vấn đề nổi cộm, mâu thuẫn, trái ngược nhau. Một mặt, vai trò, ảnh hưởng củatôn giáo truyền thống trong đời sống xã hội ngày càng suy giảm. Mặt khác, gia tăng sự hiện diện của các tôn giáo khác làm cho diện mạo tín ngưỡng tôn giáo ở khu vực này phát triển theo chiều hướng mới.

Kết luận và kiến nghị
Tôn giáo có vai trị quan trọng, chi phối sâu sắc đời sống xã hội của người Chăm. Tôn giáo gắn chặt với quá trình phát triển lịch sử của dân tộc Chăm. Vì vậy, vấn đề tôn giáo của người Chăm gắn liền với vấn đề dân tộc và có mối quan hệ với sự phát triển củacác tôn giáo thế giới (Ấn Ðộ giáo, Hồi giáo) ở các quốc gia Nam Á, Tây Á và Ðông Nam Á. Do đó, tôn giáo của người Chăm ngày nay cũng có ảnh hưởngvà chịu sự tác động từ bên ngoài.
Bức tranh tôn giáo đa dạng và phức tạp đang tồn tại trong xã hội Chăm là một thực tế. Thực tế ấy đang trong quá trình vận động và phát triển. Một mặt, nếu tôn giáo của người Chăm thống nhất sẽ quy tụ và cấu kết được cộng đồng còn mặt khác, nếu không thống nhất sẽ dẫn đến phát triển biệt lập, cục bộ địa phương giữa các những nhóm tín đồ, giữa các khu vực, giữa các chùa tháp. Hai chiều hướng vận động trên phụ thuộc vào điều kiện chủ quan của bản thân người Chăm và điều kiện khách quan là chính sách của Ðảng – Nhà nước đối với tôn giáo của người Chăm. Do vậy, ngày nay vấn đề này đang trở thành mối quan tâm của nhiều ngành, nhiều cấp. Thiết nghĩ, muốn giải quyết được những vấn đề nêu trên cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
1. Củng cố nội bộ chức sắc và Hội đồng tôn giáo truyền thống của người Chăm để tạo ra sự đồn kết nhất trí. Vấn đề này cần có sự giúp sức của chính quyền địa phương. Từ đó tạo điều kiện cho các chức sắc, tu sĩ Chăm hướng dẫn tín đồ hành đạo trong phạm vi lễ nghi tôn giáo, phong tục tập quán và gắn bó hài hòa trong khối đại đồn kết dân tộc. Hiện nay Hội đồng tôn giáo Chăm Bani đã thành lập gọi là Hội đồng Sư cả Bani. Hi vọng Hội đồng này sẽ khắc phục nhược điểm và phát huy tính tích cực của tôn giáo trong cuộc sống.
2. Thống nhất lịch Chăm, xóa bỏ sự chênh lệch ngày tháng, tránh việc mỗi cả sư, mỗi thánh đường đều có lịch riêng, gây nhiều xáo trộn trong cuộc sống đồng bào Chăm. Việc này các tôn giáo củangười Chăm cần kết hợp và tranh thủ sự giúp đỡ của chính quyền địa phương và cơ quan nghiên cứu soạn theo lịch. Việc này nếu Hội đồng tôn giáo, Hội đồng chức sắc Chăm đi vào hoạt động vững mạnh thì sẽ thống nhất được lịch Chăm.
3. Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, xóa bỏ hủ tục, tiếp thu tinh hoa văn hóa bên ngoài để làm giàu thêm bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Muốn giảii quyết tốt vấn đề này trước hết bản thân tu sĩ phải tự trang bị cho mình kiến thức, củng cố kinh luật, giáo lí, nếp sống sinh hoạt; cải tạo những hủ tục cúng tế để phù hợp với cuộc sống mới.
5. Giải quyết vấn đề tôn giáo ở vùng Chăm, ngoài bản thân người Chăm cần có sự kết hợp của nhiều ngành, nhiều cấp chính quyền địa phương… nhất là Ban Tôn giáo, Mặt trận Tổ quốc, Ban Dân vận… Các ban ngành trên cần có chuyên viên nắm vững vấn đề dân tộc, tôn giáo. Trước hết là cần đào tạo những cán bộ là người dân tộc Chăm để họ có thể đi sâu, đi sát và hiểu được tâm tư nguyện vọng củađồng bào họ, hướng dẫn đồng bào họ sống và làm việc theo phương châm “tốt đạo, đẹp đời”./.
Sakaya
Bảo tàng Nhân học

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 3662

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Từ đường biên văn hoá làng đến đường biên văn hoá dân tộc - quốc gia

  • 17/09/2010 17:52
  • 1459

Làng và văn hóa làng là một nội dung chính yếu trong nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Không một công trình nào nghiên cứu văn hóa Việt Nam lại không trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến văn hóa làng. Làng và văn hóa làng cũng là một trọng tâm của khoa học xã hội nhân văn Việt Nam, được nghiên cứu ở nhiều góc độ, từ sử học, dân tộc học, tâm lý học, văn hóa dân gian đến kinh tế học, chính trị học, xã hội học và triết học.