Thứ Tư, 18/09/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

04/01/2019 14:38 880
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Phần 1: Bắc Ninh là một trong những cái nôi của người Việt cổ. Trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, quân và dân tỉnh Bắc Ninh đã có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi chung của cả dân tộc. Bên cạnh đó, những giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống khoa bảng của tỉnh Bắc Ninh cũng được giới nghiên cứu đánh giá cao. Thể hiện rõ nhất là số lượng di tích lịch sử, danh nhân văn hóa, những võ công kiệt xuất, mưu lược tài ba có nhiều đóng góp quan trọng cho quê hương, dòng họ, cho đất nước.

Phần 1:

Bắc Ninh là một trong những cái nôi của người Việt cổ. Trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, quân và dân tỉnh Bắc Ninh đã có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi chung của cả dân tộc. Bên cạnh đó, những giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống khoa bảng của tỉnh Bắc Ninh cũng được giới nghiên cứu đánh giá cao. Thể hiện rõ nhất là số lượng di tích lịch sử, danh nhân văn hóa, những võ công kiệt xuất, mưu lược tài ba có nhiều đóng góp quan trọng cho quê hương, dòng họ, cho đất nước.

Họ Nguyễn Đức là một gia tộc lớn ở huyện Quế Võ cũng như ở Bắc Ninh hiện nay. Các chi họ Nguyễn Đức hiện phân bổ ở nhiều nơi trong cả nước. Dòng chính (đại tôn), hiện ở Quế Ổ, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Dòng họ Nguyễn Đức có tới 18 vị Quận công, trong đó có 3 vị được phong Vương (Ân Quận công Nguyễn Đức Nhuận đời thứ 9, Hiểu Quận công Nguyễn Đức Uông đời thứ 11 và Hội Quận công Nguyễn Đức Thân đời thứ 12), 2 vị Tạo sỹ, 76 tước hầu, 04 người đậu Hương cống ... Nhà sử học Lê Quý Đôn (1726-1784) nhận xét: “Thời Lê Trung Hưng, ở Quế Ổ, có một dòng họ to và mạnh nhất Kinh Bắc”. Còn sách “Lê Quý kỷ sự” ca ngợi: “Họ Nguyễn Đức ở Quế Ổ từ khi Lê Trung Hưng trở về sau nối đời làm tướng, trong họ có tới 18 người được phong tước Quận công, họ hàng to và mạnh nhất ở Kinh Bắc”(1). Sách Đại Việt sử ký toàn thư; Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh; Gia phả họ Nguyễn Đức ở Quế Ổ... đều có ghi chép về các võ tướng dòng họ Nguyễn Đức trong lịch sử.

Hiện nay, những di tích gắn trực tiếp đến quá trình phát sinh, phát triển của dòng họ Nguyễn Đức, có đến trên 40 địa phương trong cả nước có con cháu dòng họ Nguyễn Đức. Riêng ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh có 3 điểm được coi là nơi khởi nguồn cho sự hiển hách của dòng họ. Trong đó Lăng và Nhà thờ 18 vị Quận công ở thôn Quế Ổ, xã Chi Lăng và Miếu Đại Trung ở thôn Dũng Quyết, xã Việt Hùng là những di tích lịch sử - văn hóa có giá trị, trực tiếp gắn với 18 vị võ Quận công của họ Nguyễn Đức.

 

Cổng vào miếu Đại Trung (Nguồn: Ban QL Di tích Bắc Ninh)

Miếu Đại Trung được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 138 VH/QĐ, ngày 07/3/1992. Đây là nơi thờ phụng các danh quan tiêu biểu của chi ất họ Nguyễn Đức, gồm 6 vị Quận công là:

  1. Hùng Quận công, hiệu là Đức Điện, đời thứ 7.
  2. Cẩm Quận công, hiệu là Đức Thiện, đời thứ 8.
  3. Ân Quận công, hiệu là Đức Nhuận, đời thứ 9, được gia phong tước “Đại Vương”.
  4. Quế Quận công, hiệu là Đức Uyên, đời thứ 10.
  5. Chiêm Quận công, hiệu là Đức Tự, đời thứ 10.
  6. Giao Quận công, hiệu là Đức .. .(khuyết tên), đời thứ 11.

Lý lịch di tích Miếu Đại Trung do Sở Văn hóa Thông tin Hà Bắc (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh) biên soạn năm 1991 đã nêu bật những giá trị cơ bản của di tích. Dưới góc độ bài viết này, chỉ xin đề cập một số nội dung tiêu biểu của di tích.

Thứ nhất, Miếu Đại Trung là nơi thờ những võ quan cao cấp.

Như trên đã nêu, Miếu Đại Trung thờ 6 vị Quận công. Cả 6 vị đều là võ công có đẳng cấp.

  • Hùng Quận công, tên thật là Đạt, tự là Trí, thụy Hùng Lĩnh, là con thứ hai của Tài Quận công. Ông được tiến cử là Phụ quốc Thượng tướng quân, Hữu Đô đốc, tặng phong Thái Bảo Hùng quận công. Ông là người tài danh một thời, đã nhiều lần theo Quốc vương đi chinh phạt các nơi, lập được nhiều chiến công, được phong An Bắc quân Đô đốc.
  • Cẩm Quận công, tên chữ là Cương Hào, tên thụy là Khang Uy, có nhiều công lao với đất nước nên được phong Tiền đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân An Bắc quân.
  • Ân Quận công, tên chữ là Trung Lương, tên thụy là Kiêm Dũng, húy Đức Nhuận- người có tài lược, khí phách hơn người, ông lấy việc thao giỏi võ nghệ làm hướng tiến thân, ông được phong Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Bắc quân Đô đổc Thái tế. Quế Quận công (con của Ân Quận công) cũng là người có khí chất tinh anh khác thường (khí bẩm anh nghị), “nghề vũ rất mạnh”, “mã mâu rất giỏi”. Trong các cuộc khảo sát ở võ trường, Quế Quận công luôn đứng ở hạng vô địch. Quế Quận công thường theo cha đi đánh chúa Nguyễn Hiền ở Phú Xuân, Thiên Lộc, Hưng Nguyên tới cửa Nhật Lệ. Bản thân là người rất chịu khó học hỏi. Khi cha mình vì trung quân mà phải tuẫn tiết, ông đã nối giữ nghiệp binh của cha đánh Mạc Nghiệt ở Cao Bằng, đánh Bảo tặc ở Tuyên Quang. Ông được vua rất mực yêu mến, gả em gái út của mình cho con trai Quế Quận công.

Trong gia phả còn ghi lại một cách sống động câu chuyện tỉ thí võ công của Quế Quận công với một người tên Trung Quận công giỏi việc dùng mâu, ông đã chiến thắng sau chưa đầy một hiệp giao đấu trước sự thượng lãm của chúa Trịnh và đông đảo văn võ bá quan. Từ đó, ông được vua rất yêu mến, ai gièm pha gì vua cũng không nghe.

Quế Quận công không chỉ tinh thông võ nghệ, uyên thâm mưu lược, giỏi cầm quân, ông còn chỉ huy giúp dân phòng, chống thiên tai. Phụng mệnh vua trông coi việc đắp đê Vĩnh Bảo - Hải Phòng, ông đã chủ động mang tiền của nhà ra phục vụ đắp, kè đê. Nhân dân trong vùng hết sức cảm kích trước công đức và tấm lòng của Quế Quận công, đã lập miếu thờ, đến nay vẫn còn (hiện nay tại Miếu Đại Trung còn lưu giữ được chiếc cọc gỗ, vật chứng có giá trị quan trọng phản ánh việc kè đê, phòng chống thiên tai, giúp nhân dân tại Vĩnh Lại, Hải Dưong).

- Nhậm Quận công là con trưởng của Quế Quận công, ông là người có chí khí anh hào, tinh thông võ nghệ, cưỡi ngựa bắn cung cực kỳ thiện nghệ.

- Giao Quận công là con Chiêm Quận công. Khi còn ít tuổi đã mồ côi cha, song nhờ đức tính kiên trì, ham học hỏi, chuyên tâm đọc kinh sách đến nỗi hầu như không ra khỏi phòng, nên không sách nào không thuộc, lại thích chuyện đàm đạo binh cơ, luật võ càng tinh thông. Khi triều đình mở khoa thi, ông ra ứng thi Bác cử, đỗ Tạo sỹ, và là Khai khoa Tạo sỹ (người chiếm bằng đầu tiên).

Thứ hai, Miếu Đại Trung - một công trình kiến trúc độc đáo.

Điều này thể hiện trước hết ở tính nguyên gốc của Miếu. Do điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, sự biến động của lịch sử xã hội, qua thời gian, nhất là chiến tranh liên miên, sự thay đổi của các vương triều phong kiến nên trong cả nước còn rất ít những di tích giữ được nguyên vẹn về kiến trúc như Miếu Đại Trung. Trải qua hơn 300 năm, Miếu Đại Trung vẫn giữ được tính nguyên gốc của di tích như khi di tích mới được khởi dựng năm Canh Tý (1660) và hoàn thành vào năm 1708, thời chúa Trịnh Cương.

Toàn cảnh miếu Đại Trung (Nguồn: Ban QL Di tích Bắc Ninh)

Kế đó là nguồn nguyên liệu (đá) để xây dựng Miếu được Quế Quận công đưa về từ vùng Đông Triều, Quảng Ninh, khi Quế Quận công làm Đồ lĩnh Tứ thành Hải Dương, Quảng Yên, Lạng Sơn và cho đắp kè đê ở Cổ Am.

Đặc biệt hơn phải kể đến cấu trúc tường và mái của công trình. Tiêu biểu là Miếu trong (chuôi vồ), tường xây dày từ 120-135cm, phần mái được cuốn vòm dày 70cm, mặt trên của mái nhọn như mái nhà thường nhưng mặt dưới cuốn hình pa-ra-bôn rất chắc chắn. Cửa ra vào, từ cánh cửa, đến chốt và ngưỡng cửa đều bằng đá, chạm khắc hình cánh sen rất công phu. Phần Miếu ngoài, gồm 5 gian 2 dĩ. Vào năm 1974, gia tộc tu bổ dồn lại còn 3 gian 2 dĩ. Miếu ngoài được xây cất bằng gỗ lim, gạch, ngói đơn giản (kẻ chàng, cánh ác) nhưng rất chắc chắn, đúng theo phong cách thời Lê.

  

Vói đá, ngựa đá, cây hương đá thời Lê (Nguồn: Ban QL Di tích Bắc Ninh)

Phần sân miếu được bài trí hai bên là dãy voi đá, ngựa đá, chó đá, thống và cây hương cũng bằng đá. Giữa sân là cột cờ chạm hình cánh sen, hai bên còn những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Bên ngoài, cổng xây bằng gạch không quá cầu kỳ, nhưng chăc chắn, trang nghiêm, với ba chữ Hán lớn “Đại Trung Miếu” dẫn thẳng vào sân chầu.

Các công trình trên bài trí trên một diện tích 1500m2, hài hòa với thiên nhiên. Hiện nay, các con cháu đời sau đang mở rộng thêm diện tích của Miếu Đại Trung, phù hợp với việc tổ chức các hoạt động gắn với di tích sau này, khi mà diện tích của Lăng và nhà thờ họ Nguyễn Đức còn khá khiêm tốn.

Thiếu tướng. TS Nguyễn Xuân Năng
(Nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam)

Chú thích:

  • Theo một số thông tin gần đây các nhà nghiên cứu mới phát hiện thêm 02 người được phong tước Quận công nữa, nâng số lượng lên 20 Quận công của dòng họ Nguyễn Đức.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 224

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Cầu may đầu năm ở Nhật

Cầu may đầu năm ở Nhật

  • 03/01/2019 10:13
  • 706

Người Nhật có một tôn giáo riêng là Thần đạo (Shinto), thờ Thái Dương thần nữ và chư vị thần linh theo tín ngưỡng đa thần cổ truyền. Đền Thần đạo hiện diện khắp “xứ sở mặt trời mọc”. Khoảng giữa thế kỷ 6, Phật giáo từ Trung Hoa du nhập vào Nhật Bản, nhanh chóng dành vị thế độc tôn và ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính giới Nhật Bản, đặc biệt là trong thời Nara (710-794) và thời Kamakura (1185-1333). Được nhà nước bảo trợ, chùa chiền được xây cất ở khắp xứ Phù Tang, cùng với những ngôi đền Thần đạo, trở thành những địa chỉ khai sinh và nuôi dưỡng đời sống tâm linh của người Nhật suốt cả ngàn năm qua. Đó là những nơi mà người Nhật thường đến cầu nguyện những điều tốt lành và mong ước may mắn, bình yên cho bản thân và gia đình, nhất là trong dịp xuân về, Tết đến.