Thứ Tư, 21/08/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

22/04/2015 12:39 9065
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Đất nước ta chuẩn bị kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975-30/4/2015), lễ hội văn hóa với tên gọi “Lễ hội thống nhất non sông” sẽ được tổ chức trọng thể và được VTV truyền hình trực tiếp tại Khu di tích lịch sử cầu Hiền Lương. Nhân dịp này, chúng tôi xin giới thiệu lịch sử cây cầu và những câu chuyện đấu tranh khốc liệt xung quanh cây cầu lịch sử đó.

Vềlịch sử cầu Hiền Lương:

Quảng Trị nhìn trên bản đồ như vòng eo thắt của mảnh đất Việt Nam hình chữ S, có một vị trí chiến lược rất quan trọng trong lịch sử, nơi có cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải. Cầu Hiền Lương nối liền quốc lộ 1A, bắc qua sông Bến Hải tại km 735 thuộc thôn Hiền Lương, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

Sông Bến Hải bắt nguồn từ núi Động Chân thuộc dãy Trường Sơn và chảy dọc theo vĩ tuyến 17 từ Tây sang Đông rồi đổ ra cửa biển Cửa Tùng. Sông Bến Hải có tổng chiều dài gần 100 km, nơi rộng nhất khoảng 200m, nơi hẹp nhất khoảng 20-30m, là ranh giới giữa hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh của tỉnh Quảng Trị.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn thì sông Hiền Lương xưa mang tên Minh Lương, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, đổ ra cửa Tùng. Sông có chiều dài khoảng 70km, nơi rộng nhất 200m. Dưới thời vua Minh Mạng (1791-1841), do tên sông trùng với chữ “Minh” phạm phải kiêng húy tên vua, nên được đổi thành Hiền Lương. Sông Bến Hải cũng còn được gọi là sông “Bến Hói”, tiếng địa phương “hói” có nghĩa là dòng sông nhỏ, từ Bến Hói đọc lệch ra là Bến Hải. Dưới thời Pháp thuộc, sông có tên Bến Hải. Cụm di tích đôi bờ Hiền Lương ngày nay thuộc thôn Xuân Hòa (xã Trung Hải, Huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị) và thôn Hiền Lương (xã Vĩnh Thành, Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị).

Cầu Hiền Lương được xây dựng năm 1928 do Phủ Vĩnh Linh huy động nhân dân trong vùng đóng góp công sức. Hồi ấy, cầu được làm bằng gỗ, đóng cọc sắt, rộng 2m, chỉ đủ cho người đi bộ. Năm 1931, cầu được người Pháp cho sửa chữa lại rộng hơn, nhưng xe cộ muốn qua sông vẫn phải đi bằng phà. Năm 1943, cầu được nâng cấp, lúc này xe cơ giới loại nhỏ có thể qua lại được. Năm 1950, Pháp cho xây cầu Hiền Lương bằng bê tông cốt thép, dài 162m, rộng 3,6m, trọng tải 10 tấn. Hai năm sau, cầu bị quân ta đánh sập để ngăn chặn sự đánh phá của địch ra miền Bắc.

Cầu Hiền Lương do người Pháp xây dựng năm 1952.

Tháng 5-1952, Pháp làm lại chiếc cầu mới nối liền hai bờ sông Bến Hải giữa huyện Vĩnh Linh và Gio Linh. Cầu có 7 nhịp, dài 178m, trụ bằng bê tông cốt thép, dầm bằng thép, mặt lát bằng gỗ thông, rộng 4m, hai bên có thành chắn cao 1,2m, tải trọng 18 tấn.

Năm 1954, sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Theo Hiệp định này, Việt Nam tạm thời chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 với sông Bến Hải làm giới tuyến tạm thời trong 2 năm 1954-1956, sau đó Việt Nam sẽ tiến hành tổng tuyển cử tự do, thống nhất đất nước. Theo Hiệp định Giơnevơ, chính giữa của cây cầu cũng là ranh giới tạm thời giữa 2 miền Bắc và Nam Việt Nam. Theo ghi chép của nhà văn Nguyễn Tuân trong bài ký “Cầu ma” thì: Cầu Hiền Lương khi đó chia làm hai phần, mỗi bên dài 89m, sơn hai màu khác nhau. Bờ Bắc gồm 450 tấm ván mặt cầu, cầu bờ Nam có 444 tấm. Tại đây từ 7/1954- 10/1956 đã diễn ra nhiều cuộc tập kết của ta và địch; là nơi diễn ra nhiều câu chuyện cảm động giữa 2 miền Nam, Bắc.

Toàn cảnh Cầu Hiền Lương (ảnh chụp ngày 2-9-1959)

Năm 1956, Ngô Đình Diệm-Tổng thống của Việt Nam cộng hòa với sự hậu thuẫn của Mỹ đã không thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định Giơnevơ quy định. Từ đây, cây cầu Hiền Lương đã trở thành chứng tích lịch sử trong 20 năm chia cắt hai miền Nam-Bắc. Cây cầu cũng chứng kiến nhiều sự kiện đấu tranh ngoan cường, anh dũng và trở thành một biểu tượng to lớn cho khát vọng thống nhất non sông, sum họp, đoàn tụ của biết bao gia đình và toàn dân Việt Nam.

Cầu Hiền Lương (1956-1964) phía bờ Bắc với những khẩu hiệu thể hiện khát vọng thống nhất Tổ quốc.

Đến năm 1965, Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc. Từ đây, quân và dân Bắc giới tuyến bước vào một cuộc chiến đấu mới. Phía bờ Bắc đạn bom mù trời, cột cờ Hiền Lương là mục tiêu đánh phá trước tiên của máy bay, tàu chiến Mỹ. Ngày 2/8/1967, địch tập trung nhiều tốp máy bay thay nhau ném bom một ngày liền, cầu Hiền Lương bị sập và cột cờ bị gãy. Cũng ngay trong đêm đó, các chiến sĩ đặc công thủy Đoàn 126A và dân quân vùng Bắc giới tuyến đã dùng bộc phá đánh sập cột cờ bờ Nam, chấm dứt vĩnh viễn sự hiện diện lá cờ ba que trên bầu trời giới tuyến.

Cầu Hiền Lương bị bom Mỹ đánh sập năm 1967.

Đến năm 2001, cầu Hiền Lương được phục chế lại nguyên bản theo thiết kế của chiếc cầu cũ, dài 182,97m, gồm 7 nhịp, mặt lát gỗ lim có đánh số thứ tự từng tấm ván.

Ngày 17/9/2003, khu di tích lịch sử cầu Hiền Lương được chính thức khởi công phục hồi, tôn tạo. Di tích cầu Hiền Lương được phục chế với cổng chào, nhà liên hiệp, đồn công an giới tuyến, tháp canh... Tháng 3/2014, cầu Hiền Lương được phục chế nguyên trạng 2 màu sơn xanh và vàng, như từng tồn tại trong lịch sử.

Trong hàng ngàn ký ức lịch sử về cây cầu Hiền Lương, nhất định phải kể đến những câu chuyện về "chọi cờ", "đấu loa", “đổi màu sơn cầu” giữa bờ Bắc (chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) với bờ Nam (chế độ Sài Gòn) và những tấm gương đấu tranh kiên cường sau đây:

Chuyện về những cuộc "đấu loa" ở cầu Hiền Lương từ 1954-1965:

Cuộc đấu tranh chính trị, không tiếng súng diễn ra suốt từ năm 1954-1964 ở hai bên bờ sông Bến Hải. Theo hiệp định Giơnevơ, mỗi bên có 2 đồn cảnh sát: đồn Hiền Lương, Cửa Tùng (bờ bắc), đồn Xuân Hòa và Cát Sơn (bờ nam), thường gọi là Đồn Liên hợp. Số cảnh sát mỗi đồn quy định không quá 20 người. Cảnh sát có nhiệm vụ giữ gìn quy chế khu phi quân sự, kiểm tra người qua lại giới tuyến. Ai muốn qua phải có giấy thông hành do hai đồn hai bên cấp, chỉ được vào các chợ buôn bán, không được đi sâu vào các làng xóm. Riêng cầu Hiền Lương dân không được qua. Hàng tháng vào ngày chẵn, một tổ 3 cảnh sát của ta mang sổ trực qua cầu sang bờ Nam, và vào ngày lẻ, một tổ 3 cảnh sát ngụy sang bờ bắc trao đổi công tác. Ở đồn Cửa Tùng, mỗi tuần cảnh sát hai bên “đổi bờ” một lần với một tổ 6 người. Mỗi đồn thường xuyên có 2 người trực, một ta một địch . Đến cuối tuần, hai bên cùng ký biên bản đổi bờ. Cuốn “sổ trực ban” đồn Cửa Tùng hiện vẫn còn được lưu giữ tại Bảo tàng Vĩnh Linh.

Cụm loa phát thanh bên bờ Bắc.

Chính tại những đồn liên hợp này đã diễn ra những “cuộc chiến âm thanh” căng thẳng giữa cảnh sát Sài Gòn và công an ở bờ Bắc. Hai bên giới tuyến đều được trang bị các giàn loa công suất lớn, phát thanh hàng ngày. Bên bờ Nam liên tục phát đi những lời nói xuyên tạc chế độ miền Bắc, nhằm chia rẽ tình cảm hai miền, lung lạc ý chí của nhân dân các vùng lân cận.

Cụm loa phát thanh bên bờ Nam.

Lúc đầu, phía bờ Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) có hệ thống loa 5 cụm với chiều dài 1.500m, mỗi cụm gồm 24 loa có công suất 25W. Song hệ thống loa này không thể át được các loa do Tây Đức, Úc cung cấp cho chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng thêm 8 loa có công suất 50W và 1 loa có công suất 250W của Liên Xô (cũ). Ngược lại, phía miền Nam được Mỹ viện trợ cho những loại loa hiện đại, âm thanh vang xa hàng chục cây số.

Không chịu thua, bên ta đã lắp đặt chiếc loa có công suất 500W với đường kính rộng đến 1,7m được đặt trên xe lưu động tại đầu cầu Hiền Lương (hiện nay chiếc loa này được trưng bày phía trước Bảo tàng Vĩnh Linh). Khi thuận gió, tiếng loa có thể truyền xa hơn 10km. Mỗi ngày 24/24 giờ, hệ thống loa này phát đi chương trình của Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền thanh Vĩnh Linh, các chương trình ca nhạc, ngâm thơ, nói vè, kịch, dân ca, chương trình của Đội truyền thanh lưu động…. rất hấp dẫn, được bà con hai bên bờ sông Bến Hải ưa thích. Một số bài thơ, ca cổ do các nghệ sĩ nổi tiếng của miền Bắc thể hiện được nhiều binh sĩ địch "thuộc lòng"!.

O Nhạn- phát thanh viên chính của Đài Truyền thanh Vĩnh Linh
trong thời kỳ đấu loa ở cầu Hiền Lương
.

Để “đấu khẩu”, Mỹ - Diệm đã cho phát đi những điều xuyên tạc, sai lịch sử, tung hô chính quyền Ngụy Sài Gòn.... Mỗi ngày chúng nói từ 14 đến 15 tiếng đồng hồ, bắt đầu từ một, hai giờ sáng, mở hết công suất loa, gây khó chịu cho nhân dân quanh vùng. Qua thông tin tình báo, công an miền Bắc biết được tên của tên “tâm lý chiến” hàng đêm đó là Phương. Vào một đêm năm 1963, 4 chiến sĩ công an ta đã bí mật vượt sông, giết tên Phương ngay lúc hắn đang xuyên tạc qua loa phát thanh, nhân dân biết tin vậy vô cùng mừng rỡ. Đến năm 1965, khi Mỹ ném bom miền Bắc, hệ thống loa phóng thanh của cả hai bờ mới hoàn toàn ngưng hoạt động…

Câu chuyện “chọi cờ” ở 2 đầu cầu Hiền Lương:

Đây là một cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt xảy ra tại hai đầu cầu Hiền Lương từ những năm 50 đến những năm 60 của thế kỷ XX. Ban đầu từ năm 1954 đến 1956, bên ta làm một cột cờ bằng cây phi lao cao 12 m, treo lá cờ rộng 3,2x4,8m.

Cầu Hiền Lương nhìn từ phía Nam, năm 1964.

Ở bờ Nam, Pháp cho cắm cờ tam tài trên nóc lô cốt Xuân Hòa, cột cờ cao 15 m. Theo đề nghị của nhân dân, cờ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải cao hơn cờ kẻ thù. Quân ta đã làm một cột cờ bằng gỗ cao 18 m, treo lá cờ rộng hơn của địch là 24 m bằng vải sa tanh. Ngay sau đó, quân Việt Nam Cộng hòa không chịu kém. Một trụ cờ bằng xi măng cốt thép cao 30m được Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm cho dựng ở bờ Nam. Trên đỉnh, chúng treo một lá cờ vàng ba sọc đỏ lớn, có hệ thống đèn nhấp nháy nhiều màu. Tháng 7-1957, Tổng Công ty lắp máy Việt Nam đã gia công cột cờ bằng thép ống cao 34,5m chuyển vào giới tuyến. Trên đỉnh cột cờ gắn một ngôi sao bằng đồng có đường kính 1,2m, 5 đỉnh ngôi sao gắn chùm bóng điện loại 500W, lá cờ rộng 108m2. Chính quyền miền Nam bị "dội" trước sự kiện bất ngờ này nên gấp rút đôn cột cờ của họ lên 35m và lên giọng: "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muốn chọi cờ nhưng chọi sao nổi với Quốc gia".

Năm 1962, nhân dịp sửa lại cổng chào và Đồn Công an Hiền Lương bị hư hoại do bão, Trung ương điều hẳn một đơn vị công binh và đưa vật liệu từ Hà Nội vào Vĩnh Linh xây dựng một trụ cờ mới bằng thép ống cao 38,6m, lá cờ rộng 134m2, nặng 15 kg. Với chiều cao của cột cờ và độ rộng của lá cờ, đồng bào bờ Nam ở tận Dốc Miếu hay trên Kinh Môn cách xa 6 – 8km đều có thể nhìn thấy. Hàng ngày, lá cờ của ta được kéo lên từ 6h30 đến 18h30. Vào dịp lễ tết hay quốc khánh, cờ được duy trì 24/24 giờ. Cột cờ này được xem là cột cờ cao nhất ở vĩ tuyến 17 (Theo Hồ sơ di tích đôi bờ Hiền Lương của Bảo tàng Quảng Trị).

Cột cờ tại cầu Hiền Lương ngày nay.

Ngày 2-8-1967, địch tập trung nhiều đợt máy bay dội bom liên tục suốt ngày đêm. Cột cờ bờ Bắc trúng bom bị gãy và cầu Hiền Lương bị đánh sập. Tối hôm ấy, loa của bờ Nam huyênh hoang: "Cột cờ của Bắc Việt trên đầu cầu Hiền Lương đã bị không lực Hoa Kỳ đánh tan thành tro bụi". Nhưng ngay đêm hôm đó, một cột cờ mới được dựng lên. Sáng hôm sau, lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện tung bay trong gió. Tiếp sau đó, quân ta đã ôm bộc phá sang đánh gãy cột cờ ở bờ Nam. Kể từ đó, lá cờ của chính quyền Sài Gòn không còn hiện hữu trên bầu trời của sông Bến Hải nữa. Cầu Hiền Lương chỉ có duy nhất lá cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tung bay phấp phới, uy nghi, hùng tráng đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, và bị bom đạn đánh phá làm rách cờ; tính từ 19/5/1956 đến 8/10/1967, ta đã treo tổng cộng 267 lá cờ các loại.

Minh Vượng

TLTK:
- Tài liệu của Bảo tàng di tích lịch sử cầu Hiền Lương (2013).

- Tạp chí Cửa Việt năm 2013.

- Tạp chí Văn nghệ Thái Nguyên tháng 1-2015.

- Báo Biên phòng Việt Nam tháng 1-2014.

- Đôi bờ Hiền Lương (Ban Quản lý di tích và danh thắng Quảng Trị- 2005).

- Trung tâm Thông tin Tư liệu/TTXVN.

- Tài liệu của Bảo tàng Quảng Trị v.v…

- Huyền thoại cầu Hiền Lương- NXB Giao thông vận tải- 2012.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 161

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Ngoại giao Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 (Phần 3 và hết)

Ngoại giao Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 (Phần 3 và hết)

  • 20/04/2015 11:02
  • 3964

Ngoại giao có vài trò rất quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Với chủ trương “vừa đánh vừa đàm”, ngoại giao kết hợp với quân sự, chúng ta đã từng bước giành thắng lợi và đi đến thắng lợi hoàn toàn. Nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015), BBT xin giới thiệu đến Quý độc giả bài viết của tác giả Khắc Huỳnh - Nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao, nguyên Vụ trưởng - Đại sứ, nguyên thành viên đoàn Việt Nam DCCH tại Hội nghị Paris và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời tại Hội nghị hiệp thương. Bài viết đã được đăng trên Thông báo Khoa học của Bảo tàng Cách mạng VN (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia) mấy năm về trước. Hy vọng độc giả sẽ có thêm nhiều thông tin hữu ích về lịch sử ngoại giao Việt Nam những năm 1954-1975.