Thứ Tư, 21/08/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

20/04/2015 11:02 3964
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Ngoại giao có vài trò rất quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Với chủ trương “vừa đánh vừa đàm”, ngoại giao kết hợp với quân sự, chúng ta đã từng bước giành thắng lợi và đi đến thắng lợi hoàn toàn. Nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015), BBT xin giới thiệu đến Quý độc giả bài viết của tác giả Khắc Huỳnh - Nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao, nguyên Vụ trưởng - Đại sứ, nguyên thành viên đoàn Việt Nam DCCH tại Hội nghị Paris và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời tại Hội nghị hiệp thương. Bài viết đã được đăng trên Thông báo Khoa học của Bảo tàng Cách mạng VN (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia) mấy năm về trước. Hy vọng độc giả sẽ có thêm nhiều thông tin hữu ích về lịch sử ngoại giao Việt Nam những năm 1954-1975.

Cùng với hệ thống XHCN và khối đoàn kết Đông Dương, ngoại giao góp phần hình thành Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ là một thắng lợi rất có ý nghĩa.

Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ hình thành từ cuối 1964. Những năm 1965-1967 khi Mỹ leo thang, phong trào phát triển mạnh mẽ. Phong trào tập họp các lực lượng rất rộng rãi từ giới công đoàn, thanh niên phụ nữ, trí thức cho đến các giới tôn giáo, từ thiện, môi trường...phong trào lan khắp các nước XHCN, các nước dân tộc và các nước phát triển, sôi động nhất là ở các nước phát triển Tây Bắc Âu. Hình thức ủng hộ rất đa dạng, muôn màu muôn vẻ. Tiêu biểu là Toà án quốc tế Bertrand Russel xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ năm 1967 ở Stokholm và Copenhagen, đậm tính nhân văn và tầm cao trí tuệ. Trước nay chưa có một toà án nhân dân nào có ảnh hưởng rộng lớn như thế. Không kể xiết các sự kiện "hết lòng vì Việt Nam", những con người sẵn sàng "quyết tử vì Việt Nam".

Cùng với phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh cũng rất mạnh mẽ, rộng rãi và bền bỉ. Có những đợt đấu tranh lôi cuốn hàng triệu người ở hơn một trăm thành phố, như đợt mùa xuân 1966, đợt xuân 1967, đợt mùa thu 1967, lôi cuốn tới 3,7 triệu người. Cuộc "ngưng hoạt động" (moratorrium) tháng 10-1969, làm tê liệt nước Mỹ. Phong trào tiếp tục cho đến khi Hiệp định Paris ký kết. Hình thức đấu tranh thì rất quyết liệt, đốt thẻ quân dịch, bỏ nước Mỹ đi lánh nạn, tự thiêu.

Mũ của chiến binh Mỹ đội tham gia cuộc biểu tình ở Oa-sinh-tơn, ngày 20/12/1966. (Hiện vật Bảo tàng lịch sử quốc gia)

Băng da do tổ chức chống chiến tranh ở Việt Nam của Mỹ phát hành, thanh niên Mỹ dùng bịt đầu tham gia biểu tình ở Oa-sinh-tơn, ngày 22/4/1970. (Hiện vật BTLSQG)

Phong trào nhân dân thế giới và phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh - khác thời ta đánh Pháp - không do một tổ chức hoặc một trung tâm nào lãnh đạo. Các học giả và nhà nghiên cứu Mỹ tốn nhiều công sức đào xới hai phong trào này. Chính cuộc chiến đấu kiên cường và thắng lợi của nhân dân ta và lương tri loài người thức tỉnh là động lực thúc đẩy phong trào. Nữ nhà văn người Thụy Điển Saralidman đánh giá "Việt Nam là lương tri của loài người, là trái tim của nhân loại".

Ngoại giao Việt Nam với sức mạnh tổng hợp, ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân, tuyên truyền quốc tế, hệ thống các cơ quan đại diện, cơ quan thông tấn hai miền ở nước ngoài, hoạt động hiệu quả của hai đoàn đàm phán ở Paris, của hàng loạt đoàn Việt Nam dự các diễn đàn và tiếp xúc quốc tế... đã góp phần nuôi dưỡng và liên kết phong trào các nước đi vào một hướng thống nhất, mạnh mẽ. Ngoại giao nhân dân hai miền, bao gồm các nhà ngoại giao, đại diện các đoàn thể, những người dân với tư cách nhân chứng tội ác của Mỹ... đóng vai trò tích cực thúc đẩy phong trào. Ngoại giao nhân dân có những người bạn quốc tế có tên tuổi hỗ trợ đắc lực như ngôi sao điện ảnh Jane Fonda, ca sĩ Joan Baez, nhà giáo Jean Pirre Debrris...

Hồ Chủ tịch gọi phong trào nhân dân Mỹ là mặt trận thứ hai. Thất bại ở Việt Nam và khủng hoảng nội bộ nước Mỹ đã giáng những đòn nặng vào ý chí chiến tranh của giới cầm quyền. Phong trào nhân dân thế giới tác động mạnh tới chính sách và thái độ nhiều nước trên thế giới đối với chiến tranh Việt Nam. Nhiều nước phương Tây xa dần lập trường của Mỹ. Ôxtrâylia, Niu Dilân, Philipin rút khỏi chiến tranh Việt Nam...

Xích và khóa công nhân Úc dùng khóa nhà Quốc hội Úc để đấu tranh ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ. (Hiện vật BTLSQG)

Trống của đoàn Phật giáo Nhật Bản dùng đấu tranh ủng hộ nhân dân Việt Nam, thời kỳ 1965-1967. (Hiện vật BTLSQG)

Trên bình diện củng cố hậu phương quốc tế, chúng ta có hệ thống XHCN, các nước dân tộc, khối đoàn kết Đông Dương, phong trào nhân dân thế giới liên kết với phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh, một phong trào rộng lớn, hùng hậu chưa từng có. Đảng ta đánh giá đúng đắn rằng sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế là một trong các nhân tố quyết định thắng lợi của chúng ta.

Một thành công có ý nghĩa lớn lao và trực tiếp của ngoại giao là phối hợp và bổ trợ đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến trường một cách tích cực, chủ động, có hiệu quả.

Với sự phối hợp tổng quát của ba mặt trận đấu tranh, chúng ta đã gắn Việt Nam với thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo được sức mạnh tổng hợp giúp Việt Nam yếu và nghèo có thể đánh thắng nước Mỹ giàu mạnh. Đi vào cụ thể hơn, có thể thấy trong thời kỳ chống Mỹ, ngoại giao đã phối hợp với quân sự, chính trị trên tất cả các bình diện.

Về mặt chiến lược, từng thời kỳ, ngoại giao có đường lối bảo đảm nhiệm vụ cách mạng. Thời kỳ 1954-1964, ngoại giao nắm ngọn cờ Giơnevơ để hỗ trợ phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam. Đi vào chiến tranh lớn, ngoại giao góp phần kiềm chế phân hoá, cô lập kẻ thù, góp phần làm thất bại chính sách đánh nhanh của chúng. Ngoại giao cũng góp phần thực hiện nột chiến lược đặc thù là kéo địch xuống thang dần; giành thắng lợi từng bước rồi phát huy thắng lợi chiến trường mà kết thúc chiến tranh.

Trên bình diện chiến thuật, ngoại giao phối hợp với chiến trường làm thất bại các thủ đoạn của Mỹ hòng gây khó khăn cho ta như đòi khôi phục khu phi quân sự, đòi hạn chế ta tiếp tế cho miền Nam, ngăn không cho ta đánh vào các thành phố lớn. Việc ta khoét vào hậu phương địch, phân hoá nội bộ nước Mỹ, nội bộ chính quyền Sài Gòn, xoáy vào khó khăn của Mỹ trên trường quốc tế và ngay trong nước Mỹ... đều rất có lợi cho đấu tranh quân sự và chính trị.

Đối với từng hoạt động quân sự, chính trị lớn, ngoại giao cũng có biện pháp che chắn, hỗ trợ thích hợp. Chỉ xin kể vài ví dụ: sắp đánh đòn Tết Mậu Thân, tháng 12-1967, ngoại giao tuyên bố "sẽ nói chuyện với Mỹ"; tháng 5-1968, sắp mở tổng tấn công đợt hai, Hà Nội thoả thuận với Nhà Trắng bắt đầu họp Hội nghị Paris. Sắp mở đợt tấn công lớn Hè 1969 (tháng 5) ngoại giao đưa đề nghị hoà bình 10 điểm 8/5/1969... Suốt 3 năm 1969-1971, ta có khó khăn trên chiến trường, ngoại giao hỗ trợ bằng những đề nghị cứng rắn như đòi thay Thiệu, đòi Mỹ định thời hạn rút hết quân hoặc dùng các biện pháp khéo như nới rộng quy chế đối với phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc... những việc làm này phục vụ chiến trường, hỗ trợ phong trào đô thi và tác động nội bộ nước Mỹ rất nhiều.

Một thành công lớn của ngoại giao là vận dụng phương thức "vừa đánh vừa đàm" để phối hợp với chiến trường, giành thắng lợi từng bước đi tới Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh.

Cuộc đàm phán Paris là đỉnh cao của phối hợp ngoại giao với quân sự chính trị, cũng là đỉnh cao của mặt trận ngoại giao. Đây là cuộc đấu trí, đấu lý quyết liệt và kéo dài suốt năm năm. Trước hết chúng ta tính toán chiến lược trong đàm phán, dùng dàm phán để tranh thủ quốc tế, cô lập kẻ địch, hỗ trợ chiến trường.

Thế trận trên bàn đàm phán rất quan trọng. Làm sao đánh bại chính sách đàm phán trên thế mạnh của Mỹ, phát huy thế chủ động của ta. Chúng ta phát huy cao thế mạnh về chính trị của ta, xoáy mạnh vào chỗ yếu cơ bản của đối phương về chính trị. Để giữ quyền chủ động, chúng ta trù tính bài bản, bước đi của đàm phán, sao cho phù hợp với thế trận chung. Cuối năm 1968, kết thúc đàm phán thay đổi Việt - Mỹ, mở hội nghị bốn bên là đúng lúc, không thể để chậm. Những năm 1969-1970, bước đi đàm phán chậm lại, chờ đợi chiến trường. Năm 1971, Mỹ thúc ép giải quyết, ta không bị động theo địch mà đợi đòn Xuân Hè 1972. Đến giữa năm 1972, ta mới chuyển sang giai đoạn đàm phán thực chất để kết thúc. Từng thời kỳ, căn cứ yêu cầu của chiến trường và dư luận quốc tế, ta phát huy thiện chí hoà bình, đưa ra những đề nghị giải pháp, những đòn tấn công trên bàn đàm phán. Thời kỳ trên chiến trường có khó khăn, ngoại giao vẫn tấn công được. Chúng ta đưa những đòi hỏi cao nhưng hợp lý, vẫn được dư luận đồng tình.

Đàm phán là nghệ thuật của thoả hiệp. Không thể bắt đối phương chấp nhận quan điểm của ta trên mọi vấn đề. Bởi vậy, đi đôi với nắm nguyên tắc, trong đàm phán Hiệp định chúng ta tính toán vận dụng được nhiều sách lược. Không lập được chính phủ liên hiệp thì dùng sách lược gì? Mỹ níu bám vấn đề "rút quân miền Bắc" thì dùng sách lược gì để chế áp nó. Có lẽ suốt cuộc đàm phán, sách lược sắc sảo nhất là "vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết". Sách lược mạnh bạo và thành công nhất là "tạm gác một số vấn đề chính trị nội bộ miền Nam, tập trung giải quyết các vấn đề quân sự để Mỹ rút".

Lễ ký Hiệp định đình chiến, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Hội nghị Paris, ngày 27-1-1973. (Ảnh tư liệu)

Sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị, sự nỗ lực của hai đoàn đàm phán, đưa cuộc đàm phán Paris đến thắng lợi, ký kết Hiệp định Paris 27/1/1973, tạo tiền đề cho Đại thắng mùa Xuân 1975. Anh Tô lúc sinh thời có câu: "Kháng chiến chống Mỹ là bản anh hùng ca trọn vẹn từ đầu đến cuối. Hiệp định Paris năm 1973 là thắng lợi ngoại giao tuyệt vời" (1955).

Quân đội Mỹ cuốn cờ rút khỏi miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Paris,
tháng 3-1973.
(Ảnh tư liệu)

Nhân đây, chúng tôi xin nêu một vấn đề để cùng nghiên cứu: Trung ương có ba lần tính toán việc "giành thắng lợi quyết định" vào các năm 1964, 1968, 1972. Trên thực tế, ta giành thắng lợi quyết định vào thời điểm nào? Có thể coi thắng lợi chiến trường và Hiệp định Paris buộc Mỹ rút hết quân là thắng lợi có ý nghĩa quyết định mở đường cho thắng lợi cuối cùng không? Trong kháng chiến chống Mỹ, ngoại giao góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung. Nguyên nhân có nhiều, dưới đây xin nêu những nguyên nhân chính.

1 - Việt Nam có chính nghĩa dân tộc và mục tiêu chiến đấu của nhân dân ta là vì độc lập, hoà bình và thống nhất... trùng với mục tiêu thời đại, với nguyện vọng chung của các dân tộc. Sự nghiệp của Việt Nam chống Mỹ có đóng góp to lớn cho sự nghiệp chung của loài người cho nên Việt Nam được anh em, bạn bè và cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

2 - Thắng lợi của ngoại giao bắt nguồn từ cuộc đấu tranh của nhân dân và quân đội ta trên cả hai miền. Thắng lợi trên chiến trường tạo thế mạnh cho ngoại giao và góp sức củng cố niềm tin cậy của bạn bè. Mọi thắng lợi của ngoại giao đều gắn với thắng lợi chiến trường. Đánh bại ngoại giao thế mạnh của Mỹ, kéo Mỹ xuống thang từng bước trước hết là do thế trận trên chiến trường. Đạt được Hiệp định Paris với những điều khoản có lợi, xét cho cùng hiệp định cơ bản phản ánh so sánh lực lượng và thế trận trên chiến trường. Có điều là nó phản ảnh ở mức tốt nhất, trên thế có lợi nhất cho Việt Nam.

3 - Đấu tranh ngoại giao do Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của ngoại giao. Những vấn đề lớn về đường lối chủ trương đối ngoại qua kiểm nghiệm của lịch sử đều tỏ ra đúng đắn. Đường lối kết hợp đấu tranh trên ba mặt trận, đường lối độc lập tự chủ đoàn kết quốc tế, đoàn kết XHCN, đoàn kết Xô - Trung, đoàn kết Đông Dương; đường lối tấn công, kiềm chế, kéo Mỹ xuống thang, mở đường để Mỹ ra khỏi miền Nam. Sự chỉ đạo trực tiếp từng thời kỳ cũng rất sắc bén. Vào những thời điểm bước ngoặt, Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng có những quyết sách kịp thời, sáng tạo, có tầm trí tuệ, thể hiện tư duy và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh như miền Nam hoà bình, trung lập (1960), lập trường 4 điểm (1965), Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc mới nói chuyện (1967), Dự thảo Hiệp định để kết thúc đàm phán (10-1972)... Sự chỉ đạo kịp thời và thống nhất ấy bảo đảm cho ngoại giao luôn phát huy chủ động và đạt hiệu quả cao.

4 - Trong cuộc đụng đầu này, ngoại giao Việt Nam vừa chiến đấu vừa xây dựng, từng bước trưởng thành. Ngoại giao tham mưu cho Trung ương đánh giá kẻ địch, phân tích thời cuộc, tìm hiểu bạn bè. Quan trọng là tham mưu về các chủ trương, biện pháp ngoại giao, nhất là mỗi khi có tình thế mới. Sự trưởng thành của ngành ngoại giao, của đội ngũ cán bộ ngoại giao, việc vận dụng sức mạnh tổng hợp của mặt trận ngoại giao, phát huy vai trò ngoại giao nhân dân, kết hợp ngoại giao hai miền với đường lối hoà bình, trung lập...là những đảm bảo cho mặt trận ngoại giao hoàn thành sứ mệnh.

Bài học lớn nhất của ngoại giao thời chống Mỹ là độc lập tự chủ, đoàn kết quốc tế. Đó là đường lối, là tư tưởng chủ đạo, bao trùm toàn bộ hoạt động ngoại giao. Ngày nay tình hình thế giới đã thay đổi, vị thế của Việt Nam trên quốc tế cũng khác trước. Ngoại giao tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ, đoàn kết quốc tế với tư duy mới, phù hợp với tình thế mới góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia, tạo môi trường quốc tế thuận lợi để sớm đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo.

Khắc Huỳnh (BBT giới thiệu)

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 161

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Bảo tàng nghệ thuật Hồi giáo Aga Khan ở Bắc Mỹ

Bảo tàng nghệ thuật Hồi giáo Aga Khan ở Bắc Mỹ

  • 20/04/2015 10:40
  • 1346

Một tỷ phú chịu chơi và hai kiến trúc sư lừng danh thế giới đã tạo ra một không gian hài hòa ở cuối vùng ngoại ô Toronto (Canada) để lưu giữ kho báu nghệ thuật Hồi giáo.