Thứ Bảy, 17/08/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

17/04/2015 13:00 5279
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng gọi Huế là xứ sở của “Lăng miếu trùng vây”. Có thể nói, ngoài bề dày lịch sử của đất thần kinh (kinh thành), Văn hóa lăng tẩm là một bộ phận quan trọng và độc đáo cấu thành di sản văn hóa Huế. Đặt chân tới xứ Huế, ít ai lại không một lần thăm viếng lăng tẩm Hoàng đế nhà Nguyễn.

Hệ thống lăng tẩm ở Huế gắn liền với sự thăng trầm của chiếc ngai vàng triều Nguyễn (1802-1945). Trải qua 13 đời vua, nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp mà hiện chỉ còn 7 khu lăng tẩm theo thứ tự: Lăng Gia Long (Thiên Thụ Lăng), Minh Mạng (Hiếu Lăng), Thiệu Trị (Xương Lăng), Tự Đức (Khiêm Lăng), Dục Đức (An Lăng), Đồng Khánh (Tư Lăng) và Khải Định (Ứng Lăng). Nếu đứng từ vị trí trung tâm của Cố đô, 7 khu lăng này đều nằm về hướng tây của kinh thành Huế, đó là biểu tượng “Thái dương Tây hạ” (Mặt Trời lặn phía Tây) - chỉ việc băng hà của đấng Chí tôn.

Lăng vua Tự Đức.

Theo quan niệm xưa “Thứ nhất dương cơ, thứ hai âm phần”, việc xây cất quan trọng sau cung điện là lăng mộ. Từ thời Lý về trước, lăng mộ của các vua rất đơn giản, nay chỉ còn dấu vết ít ỏi. Từ đời Trần, Lê về sau, mỗi vua có một lăng riêng, nhưng tẩm thì thờ chung. Đến thời Nguyễn, quốc khố thịnh vượng, các vua mới có lăng tẩm mộ to thờ riêng từng người.

Thuật phong thủy là yếu tố phải tuân thủ triệt để trong kiến trúc lăng tẩm Huế. Với quan niệm “Tức vị trị lăng”, ngay khi tại vị, vua đã cho tiến hành khảo sát địa thế, lập đồ án xây dựng lăng tẩm cho mình. Các quan ở Khâm Thiên Giám, bộ Lễ, bộ Công đi tìm cuộc đất, ngày khởi công, trình đồ án kiến trúc cho vua ngự duyệt.

Các thầy địa lý nổi tiếng nhất phải mất hàng tháng hoặc hàng năm trời dò tìm long mạch để có địa cuộc đại cát hội đủ các yếu tố minh đường huyền thủy, tiền án hậu chẩm, sơn triều thủy tụ, tả thanh long hữu bạch hổ… Huyền cung (nơi đặt quan tài) phải đúng long mạch.

Ngoài sông, núi, khe, hồ của tự nhiên là lầu, đài, đình, tạ hoặc đắp thêm núi đất làm án, chẩm; hoặc đào thêm hào, khe làm huyền thủy… hình thành nên những tòa lăng tẩm với kiến trúc độc đáo, cảnh quan hài hòa, hùng vĩ mà thơ mộng. Hầu hết các lăng đều nằm trên những đồi cỏ mượt với ngút thông xanh, cổ thụ sum suê tỏa bóng xuống mặt hồ lặng biếc.

Nhìn bao quát không gian lớn mới thấy hết vẻ hoành tráng của lăng và mối liên hệ với những thực thể địa lý xa đến hàng chục cây số. Lăng Gia Long có diện tích hơn 20ha, nằm trên núi Thiên Thụ, có núi án là Đại Thiên Thụ, xung quanh có 36 ngọn núi chầu vào. Lăng này do thầy phong thủy Lê Duy Thanh tìm ra địa cuộc. Chính vua Gia Long đích thân cưỡi voi đi khảo sát trước khi chuẩn y.

Lăng Minh Mạng rộng 15ha, nằm trên núi Cẩm Kê (Hiếu Sơn), có núi Kim Phụng chầu, toàn lăng như một người nằm gối lên đồi cao, chân tay duỗi ra phía ngã ba sông. Quan Lê Văn Đức tìm ra đất này được vua thăng liền hai cấp.

Lăng vua Minh Mạng.

Lăng Thiệu Trị nằm trên núi Thuận Đạo, rộng 6ha, theo phong thủy là thế “sơn chỉ thủy giao” (núi dừng, nước giao). Phía trước có đồi Vọng Cảnh chầu bên phải, núi Ngọc Trản chầu bên trái thành thế “tả thanh long, hữu bạch hổ”. Trước lăng khoảng 9km có núi Chằm làm tiền án, phía sau có núi Kim Ngọc làm hậu chẩm.

Khu lăng tẩm nào cũng chia làm hai phần chính, lăng và tẩm. Lăng là nơi an táng thi hài vua; tẩm là hành cung nơi vua làm việc, sinh hoạt, giải trí, kiến trúc mô phỏng như hoàng cung. Vua ngự giá đến đây để tiêu khiển, ngắm cảnh, làm thơ, nhìn ngắm sinh phần của mình mà ý thức rằng cõi trần tạm bợ, đời người chóng qua như giấc mộng:

“Sự đời ngẫm nghĩ nghĩ mà ghê

Sống gửi rồi ra lại thác về

Khôn dại cùng chung ba tấc đất

Giàu sang chưa chín một nồi kê…”

(Ngẫm sự đời - Vua Tự Đức)

Với quan niệm “Sống gửi thác về”, lăng tẩm là hoàng cung vĩnh hằng của các vị vua. Vì thế trong hầu hết các lăng tẩm đều trang trí vô số hoa văn các chữ “thọ”, “hỷ”, hình ảnh sông núi thân quen, những bức họa sinh động để không có cảm giác chết chóc, nặng nề.

Nhà bia trong lăng Tự Đức.

Lăng được kiến trúc từ thấp lên cao. Ngoài cùng là thành bao bọc, có hồ thả sen, bờ hồ trồng sứ, cây cảnh. Cổng chính là đến một sân gạch rộng, hai bên sân có đúc tượng người, voi, ngựa bằng đá. Cuối sân là Bái đình để các quan làm lễ khi tế tự. Tiếp đó là Bi đình (nhà bia) là tòa nhà nhỏ có một tấm bia lớn trên bệ đá cao gọi là bia Thánh đức thần công. Trong bia khắc bài ký ghi nhớ công đức của vua.

Sau lưng Bi đình là hai trụ hoa biểu (trụ dẫn linh hồn) cao vút. Qua Bi đình là tẩm điện, thờ thần vị của hoàng đế và hoàng hậu, bên ngoài bày những đồ ngự dụng lúc sinh thời. Phía trong tẩm điện và hai bên có hai dãy nhà lớn gọi là Tả hữu tùng viện để các bà phi và kẻ hầu ở.

Toàn cảnh lăng vua Gia Long.

Lăng Gia Long còn gọi là Thiên Thọ Lăng, bắt đầu được xây dựng từ năm 1814 và đến năm 1820 mới hoàn tất. Lăng thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyến. Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi, núi lớn nhỏ, trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và là tên gọi của cả quần sơn này.

Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu Lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 để chôn cất vua cha Minh Mạng. Lăng nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km.

Lăng vua Thiệu Trị.

Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng, nằm ở địa phận thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy. Lăng được vua Tự Đức cho xây dựng vào năm 1847 để chôn cất vua cha Thiệu Trị. So với lăng tẩm các vua tiền nhiệm và kế vị, lăng Thiệu Trị có những nét riêng. Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng Tây Bắc, một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn.

Lăng Tự Đức còn gọi là Khiêm Lăng, được chính vua Tự Đức cho xây dựng khi còn tại vị, là một quần thể công trình kiến trúc trong đó có nơi chôn cất vua, tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh cũ, nay là thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Lúc mới xây dựng, lăng có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi loạn Chày Vôi, Tự Đức bèn đổi tên thành Khiêm Cung. Sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên là Khiêm Lăng. Lăng có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn.

Lăng vua Đồng Khánh.

Lăng Đồng Khánh còn gọi là Tư Lăng, tọa lạc giữa một vùng quê thuộc làng Cư Sĩ, xã Dương Xuân (nay là thôn Thượng Hai, phường Thủy Xuân, thành phố Huế). Trước đây là điện Truy Tư được vua Đồng Khánh xây dựng để thờ cha mình là Kiên Thái Vương. Khi Đồng Khánh mắc bệnh và đột ngột qua đời, vua Thành Thái (1889-1907) kế vị trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, kinh tế suy kiệt nên không thể xây cất lăng tẩm quy củ cho vua tiền nhiệm, đành lấy điện Truy Tư đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh.

Lăng Dục Đức tên chữ An Lăng, tọa lạc tại thôn Tây Nhất, làng An Cựu, phường An Cựu, thành phố Huế; cách trung tâm thành phố chưa đầy 2 km. Đây là nơi an táng của ba vua nhà Nguyễn: Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân. Dục Đức lên ngôi năm 1883 được 3 ngày thì bị phế truất và mất, sau này con ông là vua Thành Thái (lên ngôi năm 1889) cho xây lăng để thờ cha đặt tên là An Lăng. Năm 1954, khi vua Thành Thái mất, thi hài được đưa về chôn tại địa điểm hiện nay trong khu vực An Lăng và được thờ ở ngôi điện Long Ân. Năm 1987, hài cốt vua Duy Tân được đưa về an táng cạnh lăng Thành Thái.

Tổng thể lăng vua Dục Đức.

Lăng Khải Định: Lăng Khải Định còn gọi là Ứng Lăng, tọa lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế là lăng mộ của vua Khải Định, vị vua thứ 12 của triều Nguyễn. Lăng được xây dựng từ năm 1920 ngay sau khi Khải Định lên ngôi. Về kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi sự pha trộn kiến trúc Đông Tây Kim cổ lạ thường, với các tác phẩm nghệ thuật ghép tranh sành sứ độc đáo.

Toàn cảnh lăng vua Khải Định.

Như đã nói triều đại nhà Nguyễn trải qua 143 năm với 13 vị vua nhưng do những biến cố của lịch sử nên chỉ có 7 khu lăng tẩm, mặc dù quy cách, bố cục kiến trúc là tương đồng nhau nhưng mỗi một lăng lại có một phong cách nghệ thuật khác nhau và những phong cách đó lại thể hiện tư tưởng và suy nghĩ của mỗi vị vua đó là: Lăng Gia Long hoành tráng; Lăng Minh Mạng thâm nghiêm; Lăng Thiệu Trị thanh thoát; Lăng Tự Đức thơ mộng; Lăng Dục Đức đơn giản; Lăng Đồng Khánh xinh xắn; Lăng Khải Định tinh xảo.

Thu Nhuần (tổng hợp)

Nguồn: Minh Châu, “Bí sử triều Nguyễn, Giai thoại 9 chúa, 13 vua”, nxb Thanh Hóa, 2013.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 155

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

NORMAN MORRISON – ngọn đuốc của lương tri

NORMAN MORRISON – ngọn đuốc của lương tri

  • 17/04/2015 11:37
  • 2047

Cách đây 50 năm, giữa những năm tháng cả nước Mỹ đang dấy lên phong trào phản đối cuộc chiến tranh do Chính phủ Mỹ đang mở rộng tại Việt Nam, buổi sáng ngày 2-11-1965 đã trở thành một thời khắc không thể nào quên với những người yêu công lý trên toàn thế giới khi Norman Morrison - một công dân Mỹ, bế con gái út mới 18 tháng tuổi tên là Emily đến đặt trước cửa Lầu Năm Góc (trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ), hôn vĩnh biệt đứa con gái yêu rồi đổ can xăng mang theo lên người mình và châm lửa tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của nhà cầm quyền Mỹ tại Việt Nam