Thứ Tư, 21/08/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

13/04/2015 14:32 2921
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Triều nhà Nguyễn tồn tại trong lịch sử nước ta từ năm 1802-1945; Trong đó được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 thời kỳ độc lập từ 1802- 1883; giai đoạn 2 thuộc Pháp từ 1883- 1945. Dưới triều Nguyễn việc học và các chính sách giáo dục tiếp tục được các vua nhà Nguyễn quan tâm.

Sau khi lên ngôi Hoàng đế tháng 9-1802, trong chuyến ra thăm Thăng Long lần đầu tiên, vua Gia Long cùng các tùy tùng đã lo tính khôi phục giáo dục, bàn về việc chuẩn bị cho kỳ thi Hương, thi Hội, đào tạo nhân tài giúp nước. Từ 1803 -1805, 3 năm liền, vua Gia Long ban chiếu mời những người tài hiền dưới triều vua Lê, hoặc những người thông thạo kinh sử cộng tác với triều Nguyễn để có một bộ máy hành chính ổn định giúp vua cai quản đất nước. Ưu điểm cơ bản của nền giáo dục dưới thời các vua Nguyễn là rất coi trọng hiền tài, nhân tài, không phân biệt, kỳ thị xuất thân, không hạn chế số lượng. Giáo dục khoa cử thời Nguyễn là hệ thống đào tạo nhân tài chủ yếu phục vụ trong bộ máy hành chính của hoàng triều nhà Nguyễn từ năm 1802 đến 1919 khi khoa cử chấm dứt. Trường học thời nhà Nguyễn là nơi học sinh đến để học chữ Nho và Nho giáo. Ở nông thôn cũng như thành thị trước khi khoa cử bị bãi bỏ vào đầu thế kỷ 20 thì có những thầy đồ mở trường tư tại gia dạy học. Thầy đồ đa số là những vị quan về hưu hoặc những người chỉ đỗ tú tài tự ý mở lớp chứ không có sự giám sát của chính quyền. Một người thầy hay chữ có thể có đến hàng nghìn học sinh theo học. Với số đông như vậy thầy giáo thường chọn lấy một người học trò giỏi giang hơn cả mà giao phó trách nhiệm làm trưởng tràng, giúp thầy trông coi các môn đệ. Ngoài ra lại có cán tràng và giám tràng hiệp lực.

Trong phần 1, chúng ta cùng tìm hiểu về hệ thống giáo dục dưới triều Nguyễn gồm:

Về nhà học của vua: Năm 1810, vua Gia Long cho dựng điện Dưỡng Tâm để làm nơi đọc sách của vua. Năm 1821, vua Minh Mệnh cho xây thêm điện Trí Nhân Đường để đọc sách và sáng tác. Năm 1887, vua Đồng Khánh cho xây Thái Bình Ngự Lãm Thư Lâu làm nơi cất giữ và đọc sách. Năm 1919, vua Khải Định cho sửa lại đặt tên là Thái Bình Lâu. Đây là những nơi chỉ để cho vua học và đọc sách. Xem lại những điều đó, thì các vua triều Nguyễn đều khá coi trọng việc đọc sách và nâng cao kiến thức của mình dù họ đã ở tột đỉnh của quyền lực và vinh hoa.

Theo sử sách ghi lại: vào năm Tự Đức thứ 1(1848), nhà vua cho mở lại tòa Kính Diên, tức Viện Tập Hiền để nghe giảng bài. Mỗi tháng, vua học 6 ngày, nghỉ học vào tháng 2. Quan phụ trách gồm 2 giảng quan, 6 nhật giảng quan thị độc học sĩ hoặc thị giảng học sĩ, thị độc hoặc thừa chỉ, trước tác hoặc tu soạn (mỗi chức quan 4 người) và 4 người phục vụ bút thiếp. Các giảng quan phải soạn bài và giảng cho vua nghe. Khi nghe giảng, vua có thể góp ý hoặc cùng bình giảng.

Trưng bày về triều Nguyễn thời kỳ độc lập từ 1802 - 1883; và giai đoạn thuộc Pháp từ 1883- 1945 tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Về Giảng đường: (Tập thiện đường) Dưới triều Nguyễn, Giảng đường được lập từ năm Gia Long thứ 16 (1817). Đây là nơi để dạy dỗ các hoàng tử, thái tử con vua. Đối tượng học là những người tương lai sẽ trị vì đất nước nên việc tuyển thầy dạy học ở các Giảng đường rất được vua coi trọng. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) vua có lời dụ: "Không cứ là quan trong hay quan ngoài, cốt được người vốn có học hạnh, giữ lấy công chính…đợi ta chọn dùng để ngày thường thay ta dạy bảo bọn hoàng tử ngày ngày chăm chỉ việc học, thường gần người trung chính, đôn đốc khuyến khích hiếu đễ, mài rũa rèn luyện cho tiến bộ để cho sự học và bản chất tốt cũng đưa đến kết quả đạo đức ngày càng tấn tới, để sẵn cho kén chọn vào địa vị làm chủ tể nối dòng dõi ngày sau, thì nghiệp lớn nước nhà được lâu, nền thịnh trị được bền vững” (Theo “Nội các triều Nguyễn: Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ”- NXB Thuận Hóa- Huế- 1993 (tr.113 tập 2).

Triều đình cũng quy định số người phụ trách việc giảng dạy cho các Hoàng thân, Hoàng tử, Hoàng đệ, Thái tử dưới các triều vua như sau: Sư bảo 1 người, giáo đạo 1 người, tán thiệp từ 2 đến 4 người, giảng tập từ 2 đến 20 người, chính tự từ 4 đến 10 người. Ty tùy biện chánh cửu phẩm thư lại 1 người, vị nhập lưu thư lại 4 người.

Về Sở Tôn học: (còn gọi là Tôn học đường) là trường học giành cho những người trong tôn thất. Tôn học đường được bố trí: 1 hoàng thân công đôn đốc, 2 hàn lâm viện thị giảng học sĩ làm tổng quản, 1 thị giảng học sĩ, 1 thị độc, 1 chánh cửu phẩm thư lại, 2 vị nhập lưu thư lại. Những người này sau 3 năm sẽ đổi lại 1 lần. Các học quan ở đây , một phần được tuyển từ các học sinh của Quốc Tử Giám.

Về Quốc Tử Giám: Năm Gia Long thứ 2 (1803), nhà vua cho dựng trường Quốc học ở Kinh đô Phú Xuân (Huế) và xuống chỉ đặt 1 quan đốc học, 1 trợ giáo. Đến đời vua Minh Mệnh thứ 2, trường đổi tên thành Quốc Tử Giám. Triều đình còn xây thêm Giảng đường, Di luân đường và 2 học xá ở hai bện tả, hữu; biến nơi đây thành trung tâm giáo dục Nho giáo của nhà nước.

Văn Miếu Quốc tử Giám tại Kinh thành Huế dưới triều Nguyễn (Ảnh trưng bày của BTLSQG).

Nối tiếp truyền thống giáo dục khoa cử của thời Lê, Vua Gia Long rất đề cao Nho học, ông cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở kinh thành Huế để dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan. Cũng trong năm này, Gia Long cho ban hành hai đạo dụ về việc mở các trường ở các tỉnh, ấn định nhân viên giáo giới và chương trình học chế đồng thời tái lập lại các khoa thi ở các trấn. Ở mỗi trấn có một quan Đốc Học, một phó Đốc Học hay Trợ Giáo. Cứ tháng 10 hàng năm triều đình mở một kỳ thi. Theo thông lệ cứ ba năm triều đình mở khoa thi Hương ở các địa phương. Những người trúng cao ở khoa thi Hương gọi là cử nhân, trúng thấp gọi là tú tài. Năm sau ở Kinh đô mở khoa thi Hội tại bộ Lễ, những cử nhân năm trước khi ứng thí, nếu trúng cách thì được tiếp tục thi Đình ở trong điện nhà vua để lấy các bậc Tiến sĩ.

Trong dân chúng, việc học tập có tính chất tự do hơn. Bất kỳ người nào có học lực kha khá cũng có thể mở trường tư thục để dạy học. Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học. Theo ông Trần Trọng Kim thì người Việt Nam vốn chuộng sự học, cho nên người đi học cũng nhiều. Dù vậy, việc học tập càng lúc càng thoái hóa. Nhiều người học chỉ để ra làm quan. Trần Quý Cáp, đậu tiến sĩ khoa Giáp Thìn 1904 có mở trường dạy học ở thôn Thái Lai, làng Bất Nhị, Quảng Nam, có tiếng là hay chữ nên học trò theo học đông lắm. Nhà văn Phan Khôi từng theo học Trần Quý Cáp 10 năm từ năm 9 tuổi đến 19 tuổi sau ghi lại trường học thời đó như sau: Cái nhà ba gian, hai chái, sườn bằng gỗ, rộng lòng căn. Trong nhà trừ ba gian bàn thờ và một cái buồng ở góc, còn thì liệt ván cả. Một bộ ván cao ở giữa là chỗ thầy ngồi; còn bao nhiêu ván thấp, cho học trò... Sách giảng hàng ngày là kinh, truyện, sử, mà cứ ngày chẵn ngày lẻ đổi khác nhau. Như ngày chẵn: Kinh Thi, truyện Luận Ngữ, sử Hán, thì ngày lẻ: Kinh Dịch, truyện Mạnh Tử, sử Đường. Rồi theo đó cứ luân lưu mà giảng tiếp. Thầy ngồi yên rồi dưới này một trò nào chẳng hạn chiếu theo ngày mà mở ba cuốn sách nhằm chỗ tiếp với hôm trước, theo thứ tự đè chồng lên nhau và đem đặt lên ghế xuân ý[2] trước mặt thầy. Đọc đi! Thầy truyền... Rồi một người tốt giọng bắt đầu đọc. Đọc chậm rãi mà ngân ngợi. Được vài ba tờ, tới chỗ thầy bảo dứt thì dứt. Đến phiên thầy cắt nghĩa. Trường của Trần Quý Cáp hàng ngày có 150 - 200 học trò đến "nghe sách". Ngoài ra có những người không đến nghe giảng nhưng khi thầy ra đầu bài thì cũng làm bài nộp vào để thầy chấm, con số lên đến non 100.

Sách học của các sĩ tử dưới thời Nguyễn (Hiện vật trưng bày của BTLSQG).

Trẻ con muốn nhập học thì thường mang xôi, gà đến biếu thầy và làm lễ khai tâm, cúng Khổng Tử để xin làm đệ tử.

Ở những làng giàu có thì một phần công điền gọi là "học điền" có thể được dùng để lấy tiền gạo nuôi thầy đồ trong làng, còn ở những làng không có phương tiện thì chỉ nhà giàu mới có tiền cho con theo học mà thôi. Mỗi năm vào hai ngày tết (Tết Đoan dương và Tết Nguyên đán) thì học trò đem tiền vật đến biếu thầy.

Ngoài ra còn có một số cơ sở giáo dục thuộc nhà chùa, tuy không với mục đích dạy học trò để thi đỗ nhưng cũng góp phần vào việc đào tạo một số người. Triều đình thì ở cấp huyện trở lên mới tham gia trong việc giáo dục. Thấp nhất là trường huyện có quan huấn đạo (hàng thất phẩm) dạy. Lên tới phủ thì quan giáo thụ (hàng lục phẩm) rồi đốc học (hàng tứ phẩm) ở trường tỉnh trông coi.

Ống quyển, bút nghiên, hộp mực tàu, hòm đựng sách vở của các sĩ tử (Hiện vật trưng bày của BTLSQG).

Kể từ năm 1803 thì ở Huế mở trường Quốc Tử Giám để các con quan và những người trúng tuyển ở các tỉnh vào thụ giáo các quan tế tửu va tư nghiệp. Vào năm 1908 con số ước đoán là trong hai xứ Bắc và Trung Kỳ thuộc quyền cai trị của nhà Nguyễn có 15.000 trường học và khoảng 200.000 học sinh. Sách dùng trong việc học hành ở thời Nguyễn có hai loại, sách của người Việt soạn và sách của người Tàu làm sẵn.

Sách riêng của người Việt có cuốn Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học vấn tân, và Âu học ngũ ngôn thi.

Sách dùng chung cho các sĩ tử ở Trung Quốc lẫn Việt Nam là những cuốn Thiên tự văn, Hiếu kinh, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, và Tam tự kinh. Khi đã giỏi chữ Nho rồi thì mới học thêm Tứ Thư, Ngũ Kinh. Ngoài ra còn các sách chuyên đề về Bắc sử, Nam sử, cổ thi. Sách truyện thì hoàn toàn bị các nho gia cho là không đáng đọc vì không truyền đạt đạo Thánh hiền

Trong hệ thống trưng bày thường trực của Bảo tàng Lịch sử quốc gia, triều Nguyễn được trưng bày khá đậm nét. Trong nội dung trưng bày về triều Nguyễn, còn có một số hiện vật, hình ảnh về việc học và thi cử thời đó như: sách học, bút nghiên, ống quyển, hòm đựng sách vở của sĩ tử; ảnh thi Hương dưới triều Nguyễn, ảnh giới thiệu về Văn Miếu (Huế)…

Ngày 28/10/2014, tại nhà Tiền đường, khu Thái Học Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã khai mạc triển lãm: "Giáo dục Việt Nam giai đoạn 1802-1945" qua tài liệu lưu trữ do Trung tâm Lưu trữ quốc gia I phối hợp với Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức.

Triển lãm trưng bày 120 phiên bản tài liệu, hình ảnh, bản vẽ kỹ thuật được lựa chọn từ khối Châu bản triều Nguyễn và các tài liệu tiếng Pháp. Các phiên bản tài liệu và hiện vật trưng bày tại triển lãm tái hiện chân thực nền giáo dục của Việt Nam giai đoạn 1802 – 1945 với sự tồn tại của hai nền giáo dục: Giáo dục khoa cử nho học dưới triều Nguyễn và giáo dục khoa cử Tây học thời Pháp thuộc. Qua đó thấy rõ được quá trình thay thế từng bước của nền giáo dục Tây học trước sự suy yếu của nền giáo dục Nho học trong những năm cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.

Đặc biệt, trong tài liệu Châu bản lưu giữ có ghi vua Gia Long đã có nhiều ngự phê tập trung về giáo dục, chú trọng việc thi cử, tuyển chọn nhân tài, học tập tại Văn Miếu Quốc Tử Giám; Vua Khải Định đã ra bản Dụ số 123 ngày 6/12/1918 về việc bãi bỏ kì thi Hội và khoa thi Hội cuối cùng năm 1919, chấm dứt thời kì thi cử Nho học và nền giáo dục phương Tây ngày càng được chiếm lĩnh. Học trong nền giáo dục phương Tây không còn gói gọn trong văn hay, chữ tốt mà đã kết hợp giữa lí thuyết và thực hành.

Minh Vượng

Nguồn TLTK:

Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Phan Trọng Báu - NXB Khoa học và xã hội, 1994.

Nội các triều Nguyễn: Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ - NXB Thuận Hóa - Huế, 1993 (các tập 2, 5, 7).

Kỷ yếu Hội thảo ”Những vấn đề văn hóa - xã hội Việt Nam thời Nguyễn” - NXB Khoa học xã hội, 1992.

Hệ thống giáo dục và khoa cử triều Nguyễn - NXB Chính trị quốc gia, 2011.

Khoa cử Việt Nam thế kỷ XIX, đầu TK XX - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1994.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 160

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Ngoại giao Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 (Phần 2)

Ngoại giao Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 (Phần 2)

  • 13/04/2015 14:07
  • 7721

Ngoại giao có vài trò rất quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Với chủ trương “vừa đánh vừa đàm”, ngoại giao kết hợp với quân sự, chúng ta đã từng bước giành thắng lợi và đi đến thắng lợi hoàn toàn. Nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015), BBT xin giới thiệu đến Quý độc giả bài viết của tác giả Khắc Huỳnh - Nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao, nguyên Vụ trưởng - Đại sứ, nguyên thành viên đoàn Việt Nam DCCH tại Hội nghị Paris và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời tại Hội nghị hiệp thương. Bài viết đã được đăng trên Thông báo Khoa học của Bảo tàng Cách mạng VN (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia) mấy năm về trước. Hy vọng độc giả sẽ có thêm nhiều thông tin hữu ích về lịch sử ngoại giao Việt Nam những năm 1954-1975.