Chủ Nhật, 26/05/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

13/04/2015 14:07 7545
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Ngoại giao có vài trò rất quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Với chủ trương “vừa đánh vừa đàm”, ngoại giao kết hợp với quân sự, chúng ta đã từng bước giành thắng lợi và đi đến thắng lợi hoàn toàn. Nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015), BBT xin giới thiệu đến Quý độc giả bài viết của tác giả Khắc Huỳnh - Nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao, nguyên Vụ trưởng - Đại sứ, nguyên thành viên đoàn Việt Nam DCCH tại Hội nghị Paris và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời tại Hội nghị hiệp thương. Bài viết đã được đăng trên Thông báo Khoa học của Bảo tàng Cách mạng VN (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia) mấy năm về trước. Hy vọng độc giả sẽ có thêm nhiều thông tin hữu ích về lịch sử ngoại giao Việt Nam những năm 1954-1975.

Vượt lên muôn vàn khó khăn, ngoại giao Việt Nam vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, truyền thống ngoại giao thông minh của dân tộc, phát huy chính nghĩa và thế mạnh về pháp lý.... để chống chọi toàn diện với ngoại giao Mỹ. Nếu điểm lại quá trình đối chọi suốt các thời kỳ lịch sử sẽ không đủ thời gian. Ở đây xin nêu mấy vấn đề tiêu biểu và quyết liệt nhất:

Đối chọi trên lập trường cơ bản

Trong thời cận, hiện đại, đã thành qui luật: khi bắt đầu chiến tranh, hai bên nêu lập trường cơ bản của mình. Ngày 7/4/1965, Johnson ra "Lời tuyên bố chính sách của Mỹ", đọc tại Baltimore, gồm các ý lớn: Mỹ vào Việt Nam để bảo vệ tự do của đồng minh, Mỹ đòi miền Bắc chấm dứt xâm lược, hai bên cùng rút quân; Mỹ đòi Việt Nam DCCH ngồi đàm phán không điều kiện với Mỹ; Mỹ sẽ đầu tư vào Đông Nam Á một tỷ USD khi hòa bình lập lại. Mọi người đều biết lập trường cơ bản này của Mỹ bị bác bỏ. Không điểm nào giữ được giá trị. Hầu như đồng thời với Mỹ, ngày 8/4/1965, Việt Nam DCCH công bố "lập trường 4 điểm": Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút hết quân; hai miền sẽ không liên minh quân sự với nước ngoài; công việc miền Nam do nhân dân miền Nam giải quyết theo cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng; thống nhất nước Việt Nam do hai miền tự giải quyết. Đây là một văn bản ngoại giao rất sắc sảo, vận dụng pháp lý và tinh thần Hiệp định 1954, phù hợp với thực tế lúc này, nêu rõ mục tiêu và nguyên tắc giải pháp. Lập trường 4 điểm trở thành ngọn cờ tập hợp lực lượng của Việt Nam suốt cuộc chiến. Cuối cùng, trong 4 điểm có ít nhất 3 điểm rưỡi được thực hiện. (Điểm 3 chưa được thực hiện hoàn toàn khi ký Hiệp định Paris).

Đối chọi về "đàm phán không điều kiện " hay "có điều kiện" ?

Mở đầu chiến tranh, Mỹ dùng một biện pháp ngoại giao nguy hiểm là "đòi đàm phán không điều kiện" để che chắn việc leo thang trên hai miền. Mỹ mở các chiến dịch gây sức ép rất ác liệt như đầu năm 1966, Mỹ mở chiến dịch Pinta, đưa đề nghị hoà bình 14 điểm, vận động 113 chính phủ, cử phái viên tới 40 nước, ngừng đánh miền Bắc tới 37 ngày... Mỹ nhằm vào tâm lý hoà bình, thái độ sợ Mỹ... để gây khó khăn cho ta. Các nước không liên kết cử phái đoàn đến Hà Nội vận động theo yêu cầu của Mỹ. Mỹ đang leo thang, hung hăng. Việt Nam nhận ngồi là bất lợi. Về danh dự, Việt Nam không thể nói chuyện dưới sức ép của bom đạn. Hồ Chủ tịch tuyên bố mạnh mẽ: đề nghị đàm phán không điều kiện của Mỹ là tuyệt đối không thể chấp nhận được. Thế nhưng đến đầu năm 1967, sau hai mùa khô ở miền Nam và trên 1400 máy bay Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc, nghĩa là Việt Nam đã chế ngự được địch, ta dõng dạc nêu: chỉ sau khi Mỹ chấm dứt đánh phá miền Bắc, Việt Nam DCCH và Mỹ có thể nói chuyện. Vận dụng thiện chí hòa bình để tấn công Mỹ phải đúng lúc, phù hợp với thế của ta trên chiến trường và cả trên quốc tế. Thêm đòn Tết Mậu thân, Johnson phải tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc (30-3-1968) để nói chuyện. Thế là ta thắng một keo quan trọng. Không có chuyện “đàm phán không điều kiện”.

Đối chọi về chấm dứt đánh phá miền Bắc không điều kiện hay có điều kiện?

Đàm phán song phương Việt Nam DCCH - Mỹ bắt đầu ngày 13-5-1968. Suốt gần 6 tháng, ta đòi Mỹ chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện việc ném bom, bắn phá miền Bắc. Mỹ đòi 4 điều kiện là khôi phục khu phi quân sự; Mỹ và Việt Nam DCCH không tăng thêm quân vào miền Nam quá mức hiện nay; quân giải phóng không tấn công Sài Gòn - Đà Nẵng – Huế; Việt Nam không bắn pháo qua khu phi quân sự. Đoàn đám phán Mỹ nhiều mưu mẹo, trình bày 4 điều kiện dưới nhiều dạng khác nhau, ban đầu gọi là “hoàn cảnh thích hợp”, sau gọi là “kế hoạch hai giai đoạn”; cuối cùng nêu là “tìm kiếm các dấu hiệu trực tiếp hoặc gián tiếp”... Việt Nam kiên trì đòi Mỹ chấm dứt vô điều kiện. Khi cuộc bầu cử ở Mỹ đi vào giai đoạn bức bách, chúng ta lợi dụng khó khăn nội bộ nước Mỹ, đi tới thoả thuận hai điều: Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc và triệu tập Hội nghị 4 bên. Mỹ phải chấm dứt ném bom vô điều kiện. Khi bàn thông cáo, ta đề nghị ghi “vô điều kiện” (unconditional), Mỹ không đồng ý từ này đề nghị đổi thành “không kèm theo điều kiện gì” (without condition).

Rõ ràng ngoại giao đã dựa vào thế trận chiến trường và quốc tế mà giành thắng lợi một bước quan trọng, đạt yêu cầu của ta. Nhận bất cứ điều kiện nào cũng sẽ gây khó khăn cho cuộc chiến đấu của ta.

Đấu trí - đấu lý trên bàn đàm phán.

Diễn biến và thắng lợi của đàm phán Paris xin sẽ nói ở phần sau. Các vấn đề đấu tranh, mặc cả với nhau rất nhiều. Ở đây chỉ xin nói sự đối chọi giữa Việt Nam với Mỹ trên một vấn đề về nội dung, vấn đề cơ bản và quan trọng nhất: vấn đề rút quân. Lập trường hai bên hoàn toàn đối lập nhau – Mỹ đòi hai bên cùng rút, quân miền Bắc phải rút khỏi miền Nam. Việt Nam đòi quân Mỹ phải rút khỏi miền Nam mà không được đòi điều kiện gì. Có lẽ đây là vấn đề mà chúng ta phải xử lý kiên trì với nhiều tính toán trí tuệ nhất. Không một phiên họp nào phía Mỹ không đặt vấn đề quân miền Bắc. Có lúc họ tập trung và đòi xác minh có quân miền Bắc ở miền Nam không?

Lúc đầu ta không bác bỏ nhưng cũng không công nhận. Tiến lên một bước Việt Nam dõng dạc trả lời cho phía Mỹ và dư luận: “Với quyền dân tộc tự vệ thiêng liêng, người Việt Nam có quyền chiến đấu trên bất kỳ mảnh đất nào của Việt Nam”. Nhưng đây mới là tranh luận về đạo lý? Còn giải pháp thì tính sao? Ngày 8/5/1969, phía Việt Nam trong đề nghị hòa bình 10 điểm đưa ra giải pháp tuyệt vời: “vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết”. Giải pháp có hàm ý về quân miền Bắc, nhưng nêu “úp mở”, chủ yếu nhằm gạt không cho Mỹ dai dẳng đòi rút quân miền Bắc. Ta kiên trì giải pháp này suốt 4 năm (1969-1972), cuối cùng Mỹ phải chấp nhận (tháng 10-1972). Nhưng rồi Mỹ còn tiếp níu bám; khi đàm phán bổ sung tháng 11-1972 phái Mỹ lại đòi “riêng các đơn vị quân miền Bắc đưa vào tham gia trận Xuân Hè từ 30/3/1972 nhất định phải rút". Cuối cùng khi hai bên đã thoả thuận điều 13 của Hiệp định là “vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do các bên miền Nam giải quyết...”, phía Mỹ vẫn còn đòi “giảm quân số và phục viên về nguyên quán”, nghĩa là ai gốc quê ở miền Bắc, phải trở về miền Bắc... Trình bày khúc khuỷu như vậy để thấy cuộc đấu trí trên bàn đàm phán không dễ dàng đơn giản. Với Hiệp định Paris, Việt Nam giữ nguyên lực lượng, còn quân Mỹ rút hết trong thời hạn 60 ngày.

Các cựu chiến binh cùng nhân dân Mỹ xuống đường biểu tình chống chiến tranh ở Việt Nam. (Ảnh tư liệu)

Nhân đây xin dẫn lời ông Kissinger trong sách Diplomacy xuất bản năm 1994: “Hoà bình lập lại ở châu Âu từ lâu, nhưng hai thế hệ quân nhân Mỹ còn đóng lại đó. Còn để bảo đảm các điều khoản của Hiệp định đình chiến Triều Tiên, hàng trăm ngàn quân Mỹ còn đồn trú tại đó trong hơn 40 năm qua (tính đến 1995). Chỉ riêng ở Việt Nam, Mỹ đã ký một Hiệp định mà không để lại lực lượng bảo đảm thi hành Hiệp định. Do đó cuộc tháo chạy tháng 4-1975 là không thể tránh khỏi”.

Đối chọi trên trận tuyến tập hợp lực lượng quốc tế.

Trong cuộc đối đầu trên mặt trận ngoại giao với Mỹ, ván cờ quyết liệt nhất là tập hợp lực lượng, xây dựng hậu phương quốc tế. Cả hai bên đối địch đều coi đây là nhiệm vụ hàng đầu về đối ngoại.

Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ không dùng được LHQ để kéo phe cánh như trong chiến tranh Triều Tiên. Mỹ xuyên tạc bản chất của chiến tranh, dùng viện trợ và sức ép để lôi kéo một số đồng minh tham chiến hoặc ủng hộ Mỹ; tác động một số nước thuộc thế giới thứ ba để họ làm trung gian có lợi cho Mỹ; Mỹ lợi dụng mâu thuẫn Xô-Trung, kéo ép hai nước giảm ủng hộ Việt Nam. Dai dẳng nhất là Mỹ dùng các chiến dịch hoà bình và đòi “đàm phán không điều kiện” để lung lạc dư luận, gây khó khăn cho Việt Nam trên quốc tế.

Chủ tịch Mao Trạch Đông đón Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm hữu nghị nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. (Ảnh tư liệu)

Để tập hợp lực lượng quốc tế, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Việt Nam dựa vào chính nghĩa, vào pháp lý Hiệp định Giơnevơ, đi đúng trào lưu thời đại, gắn sự nghiệp chống Mỹ của Việt Nam với sự nghiệp của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, dân chủ, hoà bình và đời sống. Hồ Chủ tịch luôn luôn nhắc nhở “ngoại giao của ta là cốt tranh thủ nhiều người ủng hộ cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của ta”. Sức mạnh và chỗ dựa chính để tập hợp quốc tế là cuộc chiến đấu và thắng lợi của nhân dân hai miền. Những lời kêu gọi đi vào lòng người của Hồ Chủ tịch, những hoạt động và động thái ngoại giao khôn khéo của Hồ Chủ tịch, của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ góp phần to lớn tranh thủ giữ vững đồng minh, xây dựng đoàn kết Đông Dương, gắn bó các nước dân tộc, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam – bao gồm cả phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh. Nhìn lại tình hình năm 1966-1967, lúc chiến tranh Cục bộ ở đỉnh cao và Mỹ vận động quốc tế ráo riết nhất chính Mỹ đã rơi vào thế khó khăn cô lập trên quốc tế. Trong số trên 60 nước đồng minh và nhận viện trợ của Mỹ, chỉ còn 10 nước ủng hộ Mỹ. Đến thời kỳ Nixon, nhất là lúc Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia (1970) hoặc dùng B52 đánh Hà Nội, Hải Phòng (1972) thì Nixon bị lên án và Mỹ bị cô lập hơn bao giờ!

Trong thắng lợi của cuộc chống Mỹ cứu nước, mặt trận ngoại giao có những thành công và đóng góp xứng đáng. Phần trên của bài này ít nhiều cũng đã nói tới. Dưới đây xin điểm lại những thành tựu và đóng góp chính của mặt trận ngoại giao với tinh thần khách quan, đúng sự thật lịch sử.

Việt Nam đã xây dựng, củng cố quan hệ đồng minh chiến lược với Liên Xô, Trung Quốc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của hai nước từ đầu cho đến kết thúc chiến tranh. Đây là một thành công có ý nghĩa chiến lược. Hai nước đồng minh lớn đã ủng hộ cổ vũ Việt Nam rất mạnh mẽ, góp phần kiềm chế chính sách phiêu lưu của các thế lực xâm lược hiếu chiến. Trong tổng số viện trợ quốc tế, ước tính khoảng 2.362.682 tấn, trị giá khoảng 7 tỷ rúp 1 thì phần lớn là từ Trung Quốc và Liên Xô. Riêng viện trợ của Trung Quốc chiếm khoảng 50 % tổng số nói trên. 80-85 % vũ khí hạng nặng là do Liên Xô cung cấp. Mấy thập kỷ qua, thế sự thăng trầm, nên có lúc, có chỗ đánh giá chưa thật đúng ý nghĩa sự viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác. Nói gì thì nói, không có hoặc thiếu sự viện trợ của các nước đồng minh XHCN, Việt Nam đánh Mỹ rất khó khăn.

Buổi đầu (1954-1960), Liên Xô, Trung Quốc đều không muốn Việt Nam phát động đấu tranh võ trang. Đi vào chiến tranh, Liên Xô muốn Việt Nam ngồi vào đàm phán sớm với Mỹ để giữ hoà hoãn Xô - Mỹ. Từ 1967-1968, Việt Nam mở cục diện “vừa đánh vừa đàm” với Mỹ thì Trung Quốc phản đối quyết liệt. Vào thời điểm này báo chí quốc tế bình luận, Trung Quốc muốn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Trung Quốc chống thống nhất hành động, trái lại Liên Xô thúc đẩy mạnh hành động thống nhất để đả kích Trung Quốc. Giai đoạn sau cả hai nước đều hòa hoãn với Mỹ và đàm phán với Mỹ về vấn đề Việt Nam. Mỹ ra sức lợi dụng để ép hai nước giảm viện trợ cho Việt Nam và thúc Việt Nam sớm thỏa hiệp với Mỹ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu nhi Liên Xô trong chuyến thăm hữu nghị Liên Xô, năm 1957. (Ảnh tư liệu)

Trong thế trận quanh co, lắt léo ấy, Việt Nam đứng vững trên lập trường độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế, chọn cách ứng xử khôn khéo, tế nhị để tranh thủ được cả hai nước. Chúng ta chân thành đoàn kết với cả hai, tôn trọng lợi ích của hai nước, cố gắng giữ thế và quan hệ cân bằng, không ngả về bên này chống bên kia, không “nhất biên đảo”. Trên những vấn đề gai góc và nhạy cảm, chúng ta tìm cách ứng xử sao cho khỏi mất lòng bên này hoặc bên kia. Việt Nam không tham gia Hội nghị 75 Đảng Cộng sản công nhân quốc tế do Liên Xô triệu tập mà không có Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam ủng hộ “Đại cách mạng văn hoá” Trung Quốc, Việt Nam coi đó là công việc nội bộ của Trung Quốc. Việt Nam không nhận công binh Trung Quốc tham gia làm đường vào Nam, cũng không nhận chuyên gia Trung Quốc bên cạnh Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam. Việt Nam cũng không nhận quân tình nguyện và bộ đội phòng không Liên Xô giúp Việt Nam.

Chúng ta biểu thị tôn trọng vai trò và tiếng nói của Liên Xô, Trung Quốc. Việt Nam thường có các cuộc trao đổi, thông báo với lãnh đạo hai nước về những vấn đề lớn của chiến tranh. Ngày 8/10/1972, khi nhà đàm phán Việt Nam trao cho đoàn đàm phán Mỹ bản “Dự thảo hiệp định Paris” để sớm kết thúc chiến tranh, thì hai ủy viên Bộ Chính trị cũng đồng thời trao bản đó cho lãnh đạo hai nước ở Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh.

Hồ Chủ tịch và các vị lãnh đạo Đảng có vai trò rất lớn và đặt rất cao việc đoàn kết Xô - Trung. Tháng 2/1965, Hồ Chủ tịch làm việc trực tiếp với Thủ tướng Liên Xô Kôxưghin. Rồi Người trực tiếp sang Trường Sa làm việc với Chủ tịch Mao Trạch Đông (5/1965). Đối với một số yêu cầu do Hồ Chủ tịch đưa ra, Chủ tịch Mao Trạch Đông trả lời: “Xin mệnh lệnh của Hồ Chủ tịch, chúng tôi xin bao, không thành vấn đề”. Giải đáp mối băn khoăn của bạn, lãnh đạo Việt Nam trình bày rõ Việt Nam kiên trì đấu tranh trên ba mặt trận, cố gắng kiềm chế và thắng Mỹ trong phạm vi Việt Nam và Đông Dương...

Đoàn kết, tranh thủ được Liên Xô, Trung Quốc lúc hai nước đối địch nhau và Mỹ ra sức lôi kéo hai nước là một thắng lợi ngoại giao có ý nghĩa chiến lược. Thắng lợi này bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới hình thành từ rất sớm. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã dự tính việc nước Nga cách mạng ủng hộ giúp đỡ cách mạng Đông Dương. Rồi thắng lợi ngoại giao 1950, mở đột phá. Đi vào chống Mỹ, Hồ Chủ tịch và Đảng vun đắp tiếp quan hệ đồng minh cho đến thắng lợi.

Xây dựng mặt trận nhân dân ba nước Đông Dương đoàn kết chống Mỹ là một thắng lợi vô cùng to lớn.

Chúng ta thường nói Việt Nam đánh Mỹ bằng nhiều tầng mặt trận: mặt trận trong nước, mặt trận Đông Dương, mặt trận XHCN, mặt trận nhân dân thế giới. Đoàn kết Đông Dương luôn luôn là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đây là một quá trình lâu dài, khúc khuỷu. Sau Giơnevơ, đoàn kết Đông Dương chống Pháp không còn. Hai Vương quốc Lào, Campuchia được Hội nghị Giơnevơ công nhận hợp pháp. Việt Nam chuyển hướng, xây dựng quan hệ láng giềng với hai vương quốc. Với Lào, chúng ta tận tình giúp đỡ lực lượng kháng chiến, đồng thời tích cực tranh thủ các lực lượng hoà bình trung lập kể cả phái bảo hoàng (phái Fuma). Với Campuchia, Việt Nam khéo léo quan hệ tốt với chính quyền Vương quốc, tạo thuận lợi để Mặt trận Dân tộc Giải phóng nhận tiếp tế và lập hậu cứ trên đất Campuchia. Khi Mỹ mở rộng chiến tranh, tăng cường can thiệp vào Lào, Việt Nam cùng lực lượng kháng chiến Lào đánh mạnh, mở rộng vùng giải phóng. Từ 1970, Quân giải phóng ta phối hợp, giúp đỡ lực lượng kháng chiến Campuchia giải phóng Đông Campuchia, tạo chuyển biến mạnh, đưa tới hình thành một chiến trường Đông Dương chống Mỹ, có sự phối hợp đấu tranh toàn diện giữa ba dân tộc, phát huy được sức mạnh toàn Đông Dương. Với Hội nghị cao cấp nhân dân Đông Dương mùa xuân 1970, đoàn kết Đông Dương phát triển lên tầm cao, phát huy vai trò sức mạnh của mình cho đến ngày thắng Mỹ. Và cũng thật dễ hiểu, cách mạng ba nước cùng giành thắng lợi hầu như đồng thời nhờ cùng nhau phát huy thế mạnh chung.

Nhân dân Lào biểu tình phản đối đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, tháng 8-1964. (Ảnh tư liệu)

Nhân dân Campuchia viết khẩu hiệu phản đối đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, tháng 8-1964. (Ảnh tư liệu)

Thắng lợi đoàn kết Đông Dương bắt nguồn tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối nhất quán của Đảng về Đông Dương. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) ghi rõ: muốn đánh Pháp đuổi Nhật "phải có một lực lượng thống nhất tất thảy các dân tộc Đông Dương hợp lại". Chúng ta kiên trì tư tưởng và đường lối đó qua kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến ngày nay. Nhưng đoàn kết Đông Dương có những lúc khó khăn thăng trầm, chủ yếu là do tác động mạnh mẽ, nhiều tiêu cực của các nước lớn. Đây là bài học không được phép sao nhãng!

Khắc Huỳnh (BBT giới thiệu)

Chú thích:

1 Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh Cách mạng Việt Nam 1945-1975- Thắng lợi và bài học. NXB CTQG, H. 200, tr 601.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Sự nhất quán giữa lời nói và việc làm ở Bác Hồ

Sự nhất quán giữa lời nói và việc làm ở Bác Hồ

  • 24/05/2019 14:21
  • 42

Một trong những phẩm chất lớn về nhân cách của Bác Hồ là Người nói như thế nào thì Người làm như vậy. Từ những việc lớn với dân, với nước đến đến những sinh hoạt hàng ngày, ở Bác đã biểu hiện rõ điều đó.

Bài viết khác

Kỷ vật của cha tôi

Kỷ vật của cha tôi

  • 13/04/2015 13:53
  • 1374

Trong số những kỷ vật của cha tôi mà mẹ tôi còn lưu giữ, tôi chú ý quyết định điều động ra phục vụ tại ngũ của Chủ tịch khu phố Hai Bà Trưng số 138/ QĐ- UB ngày 25-7- 1967 và quyết định của Giám đốc Nhà máy dệt 8-3, ký ngày 27-7-1967, theo lệnh động viên của Hội đồng Chính phủ; để tăng cường cho chiến trường miền Nam chuẩn bị Tổng tấn công xuân Mậu Thân 1968. Cha tôi lên đường, những lá thư “pơ-luya cây dừa”- một loại giấy chỉ có trong thời Hà Nội chống Mỹ cứu nước bay về ngôi nhà nhỏ của gia đình tôi. Kể từ ngày đó, đã 48 năm, màu mực Trường Sơn vẫn không phai trên lá thư gửi bao thương nhớ…