Thứ Tư, 21/08/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

13/04/2015 13:53 1397
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Trong số những kỷ vật của cha tôi mà mẹ tôi còn lưu giữ, tôi chú ý quyết định điều động ra phục vụ tại ngũ của Chủ tịch khu phố Hai Bà Trưng số 138/ QĐ- UB ngày 25-7- 1967 và quyết định của Giám đốc Nhà máy dệt 8-3, ký ngày 27-7-1967, theo lệnh động viên của Hội đồng Chính phủ; để tăng cường cho chiến trường miền Nam chuẩn bị Tổng tấn công xuân Mậu Thân 1968. Cha tôi lên đường, những lá thư “pơ-luya cây dừa”- một loại giấy chỉ có trong thời Hà Nội chống Mỹ cứu nước bay về ngôi nhà nhỏ của gia đình tôi. Kể từ ngày đó, đã 48 năm, màu mực Trường Sơn vẫn không phai trên lá thư gửi bao thương nhớ…

Liệt sĩ Phạm Đình Thám - Ảnh chụp nhân ngày nhập ngũ, năm 1967.

Những cánh thư của cha tôi đã ghi dấu đường hành quân của thế hệ thanh niên “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” được viết trên giấy pơ-luya in hình cây dừa mà mẹ tôi gửi cả xếp giấy cho cha từ khi đang luyện tập ở Đầm Đa - Hòa Bình. Ngày ấy, Hà Nội thường có các loại giấy viết thư bằng pơ-luya màu xanh, hồng, trắng… trông thật nhã nhặn, lịch sự. Để thể hiện tình cảm Bắc - Nam ruột thịt, các nhà máy sản xuất giấy in hình cây dừa lên một góc thư, nên mọi người thời đó cứ quen gọi là “pơ-luya cây dừa”. Ngày nay, chỉ có thể tìm thấy loại giấy viết thư này ở trong những gói thư từ ông bà đã cất kỹ và nó đã trở thành một hình ảnh của văn hóa người Hà Nội thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Đi trong đội ngũ điệp điệp trùng trùng bổ sung cho chiến trường, thư cha tôi còn ghi rõ: “Hồi 6 giờ tối ngày 13 tháng Giêng 1968, tức 14 tháng 12 Đinh Mùi, anh đã chính thức lên đường vào Nam chống Mỹ cứu nước”. Cảnh xuân trên đường hành quân đã được cha tôi miêu tả bằng thơ: “Cúc mận hồng đào đua nhau nở/ Nhân dân nô nức đón xuân về/ Đoàn quân nhanh bước trong xuân ấm/ Tiến thẳng vào Nam diệt giặc thù”.

Sau ba tháng hành quân, tháng 4-1968, cha tôi đã đến Long An, bổ sung cho Tiểu đoàn 2 Tỉnh đội Long An, làm cán bộ tham mưu của tiểu đoàn. Nhưng cũng từ đây, không bao giờ mẹ con tôi nhận được lá thư nào của cha nữa. Chỉ đến năm 1975, khi tìm gặp một số thương binh của Nhà máy dệt 8-3 đi cùng cha tôi, cùng rời nhà máy đúng ngày 27-7-1967 và tập trung nhận quân phục ngày 30-7-1967, mẹ tôi mới biết, cha tôi đã hy sinh ở Cần Giuộc hè năm 1968.

Những lá thư được viết trên giấy pơ-luya in hình cây dừa, chiến sĩ Phạm Đình Thám gửi về cho vợ, ghi dấu đường hành quân vào chiến trường của Ông và đồng đội, năm 1968.

Ngày gặp mặt của “Quân tăng cường Thủ đô”

Ngày 1-8-1967, Bộ Tư lệnh Thủ Đô được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức, xây dựng, huấn luyện Quân tăng cường chi viện cho chiến trường miền Nam. Đợt đầu tiên tăng cường cho chiến trường miền Nam có đủ mặt công nhân ở các nhà máy đầu đàn của công nghiệp thành phố: Công cụ số 1, Cao-Xà-Lá, Dệt 8-3, Cơ khí Mai Động… và thanh niên xung phong của bốn khu phố nội thành (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng) và bốn huyện ngoại thành (Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh). Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Trân là người chủ trương chọn cán bộ, đảng viên, công nhân từ các nhà máy xung phong đợt đầu tiên và nói: “Hôm nay tiễn các đồng chí xung phong vào chiến trường, ngày chiến thắng trở về, Thành ủy sẽ đón các đồng chí”. Sau một thời gian khẩn trương tổ chức, xây dựng lực lượng và huấn luyện chiến đấu, cuối năm 1967, Bộ Tư lệnh Thủ Đô đã đưa 3 đơn vị quân tăng cường (gồm Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 6) lên đường chi viện chiến trường, trực tiếp chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị và Đông Nam Bộ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 (đợt II).

Tấm ảnh kỷ niệm của vợ chồng Liệt sĩ Phạm Đình Thám chụp khi ông nhận quân phục nhập ngũ, tháng 7-1967.

Kể từ năm 1967 đến năm 1974, Bộ Tư lệnh Thủ Đô đã đưa 42 tiểu đoàn với gần 30.000 cán bộ, chiến sĩ quân tăng cường chi viện cho các chiến trường, từ Quảng Trị đến miền Trung, Tây Nguyên, từ miền Đông đến miền Tây Nam Bộ, trong đó có các đơn vị được bổ sung cho Quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế giúp Cách mạng Lào và Cam-pu-chia; hơn 7.000 người con ưu tú của Hà Nội đã hy sinh anh dũng. Những câu chuyện trên đường ra trận, nhắc lại sau chiến tranh, trở thành nỗi đau đáu, xót xa, về người còn, người mất, nhưng thật thiêng liêng, cao quý trong niềm tự hào của anh Bộ đội Cụ Hồ.

Đã ba năm qua rồi từ buổi gặp mặt với các bác, các chú trong đội quân tăng cường Thủ đô, nhưng tôi vẫn nhớ như in hình ảnh một cựu chiến binh đứng cuối hội trường giơ cao tay lên “Ai là quân 30-7-1967 tập trung về đây”. Kể cả mẹ tôi thay mặt cha đến cùng các cựu chiến binh chụp ảnh kỷ niệm, chỉ còn gần 10 người. Tay bắt mặt mừng, các bác nắm tay mẹ tôi mà mắt đỏ hoe: “Luyện tập ở Chi Nê (Hòa Bình) rồi vào Đông Nam Bộ, anh em hy sinh nhiều trong cuộc tổng tấn công Mậu Thân 1968 chị ạ. Chị còn tìm được hài cốt anh, đưa về nghĩa trang liệt sĩ quê nhà là may mắn rồi. Còn bao nhiêu liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt”... Tôi chụp ảnh kỷ niệm, xin địa chỉ nhưng các bác đều nói: Chúng tôi ở nội thành cả, khi Bộ tư lệnh mời đến gặp mặt, anh em bác cháu lại gặp nhau thôi mà.

Kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Ban liên lạc quân tăng cường đang phối kết hợp với truyền hình quân đội xây dựng phim tư liệu về quân tăng cường Thủ đô. Ban liên lạc cho biết: chúng tôi chỉ có địa chỉ của một số cựu quân tăng cường của Tiểu đoàn 2, còn Tiểu đoàn 4 và 6, vẫn chưa liên lạc được với đồng chí nào. Chúng tôi đang tích cực tìm lại các địa chỉ đỏ. Cuộc gặp mặt Cựu quân tăng cường Thủ đô do Thành ủy và Bộ Tư lệnh quân khu Thủ đô sẽ được tổ chức trang trọng trong tháng Tư này.

Tôi hiểu, sau chiến tranh, mỗi người lính lại trở về đời thường, bình dị trong dòng chảy cuộc sống. 40 năm đã qua, và thế hệ trẻ sinh ra đúng vào năm đất nước hòa bình đã trưởng thành. Những người ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc; người còn, người mất, nhưng máu đỏ đã tưới xuống đất này để giành lại màu xanh hòa bình, cho thống nhất non sông, sẽ mãi mãi được khắc ghi vào lịch sử dân tộc. Thái úy Lý Thường Kiệt đã từng tuyên ngôn: “Sông núi nước Nam vua Nam ở / Rành rành phân định ở sách trời/Cớ sao lũ giặc dám xâm phạm/Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định về tình đoàn kết ruột thịt Nam- Bắc một nhà: “Nam bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Hôm qua, hôm nay, mai sau, mãi mãi vẫn là dòng máu Lạc Hồng đời nối đời, từ ông cha truyền cho con cháu, để bảo vệ đất trời biển đảo, núi sông bờ cõi của Đất Việt chúng ta.

Phạm Kim Thanh

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 160

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Ngoại giao Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 (Phần 1)

Ngoại giao Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 (Phần 1)

  • 09/04/2015 14:55
  • 3593

Ngoại giao có vài trò rất quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Với chủ trương “vừa đánh vừa đàm”, ngoại giao kết hợp với quân sự, chúng ta đã từng bước giành thắng lợi và đi đến thắng lợi hoàn toàn. Nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015), BBT xin giới thiệu đến Quý độc giả bài viết của tác giả Khắc Huỳnh - Nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao, nguyên Vụ trưởng - Đại sứ, nguyên thành viên đoàn Việt Nam DCCH tại Hội nghị Paris và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời tại Hội nghị hiệp thương. Bài viết đã được đăng trên Thông báo Khoa học của Bảo tàng Cách mạng VN (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia) mấy năm về trước. Hy vọng độc giả sẽ có thêm nhiều thông tin hữu ích về lịch sử ngoại giao Việt Nam những năm 1954-1975.