Chủ Nhật, 26/05/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

09/04/2015 14:55 3424
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Ngoại giao có vài trò rất quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Với chủ trương “vừa đánh vừa đàm”, ngoại giao kết hợp với quân sự, chúng ta đã từng bước giành thắng lợi và đi đến thắng lợi hoàn toàn. Nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015), BBT xin giới thiệu đến Quý độc giả bài viết của tác giả Khắc Huỳnh - Nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao, nguyên Vụ trưởng - Đại sứ, nguyên thành viên đoàn Việt Nam DCCH tại Hội nghị Paris và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời tại Hội nghị hiệp thương. Bài viết đã được đăng trên Thông báo Khoa học của Bảo tàng Cách mạng VN (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia) mấy năm về trước. Hy vọng độc giả sẽ có thêm nhiều thông tin hữu ích về lịch sử ngoại giao Việt Nam những năm 1954-1975.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm. Suốt hơn hai thập kỷ ấy, mặt trận ngoại giao phối hợp và hỗ trợ mặt trận quân sự, chính trị với những hoạt động khẩn trương, phong phú và có hiệu quả.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam diễn ra vào thời kỳ cao điểm của chiến tranh lạnh. Thế giới hình thành hai phe chống đối nhau gay gắt bằng chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang. Mỹ xâm lược Việt Nam vì lợi ích chiến lược toàn cầu. Liên Xô luôn theo đuổi mục tiêu cân bằng chiến lược với Mỹ. Trung Quốc nhằm mục tiêu vươn lên thành cường quốc thứ ba. Liên Xô, Trung Quốc vừa giúp Việt Nam vừa sử dụng vấn đề Việt Nam để chống hai nước lớn kia. Chiến tranh Việt Nam, về mặt quốc tế, luôn nằm trên trục chuyển động của ba cặp quan hệ Mỹ-Xô, Mỹ-Trung, Xô-Trung. Thất bại ở Việt Nam, Mỹ hoà hoãn với Liên Xô, Trung Quốc cùng hai nước này dàn xếp vấn đề Việt Nam, hình thành “tam giác chiến lược Mỹ-Xô-Trung”, tác động mạnh mẽ tới diễn biến chiến tranh.

Sau Điện Biên Phủ, phong trào giải phóng dân tộc lên cao, đưa tới việc hình thành lực lượng thứ ba. Năm 1961, chính thức ra đời phong trào Không liên kết, năm 1963, tổ chức Thống nhất châu Phi và năm 1966 tổ chức Đoàn kết ba châu ra đời.

Thời kỳ này phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ, tiến bộ xã hội trên thế giới lên mạnh. Thông tin bùng nổ, lương tri loại người thức tỉnh. Các tầng lớp nhân dân, tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo của các nước đều ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của các dân tộc.

Bên cạnh những thuận lợi, bối cảnh quốc tế cũng có những phức tạp, khó khăn cho Việt Nam:

Mỹ rất mạnh về tiềm lực, có liên minh quân sự khắp nơi NATO-SEATO, AMZUS; Mỹ khống chế LHQ, Mỹ kéo LHQ vào Triều Tiên, dùng LHQ can thiệp vào Công gô. Tâm lý phục Mỹ, sợ Mỹ còn khá phổ biến trên thế giới.

Phong trào cách mạng thế giới cũng trải qua những thăng trầm. Phong trào XHCN khủng hoảng về đường lối, không thống nhất quan điểm, sách lược đấu tranh. Phong trào Không liên kết thời đầu không nhất trí về mục tiêu và phương hướng hành động.

Nổi cộm nhất là mâu thuẫn Xô-Trung, hai đồng minh chiến lược của Việt Nam. Mâu thuẫn và đối chọi nhau ngay cả trên vấn đề Việt Nam và giúp Việt Nam. Mâu thuẫn lợi ích đưa tới xung đột vũ trang trên biên giới hai nước.

Đặc điểm lớn nhất trong cuộc chiến tranh là tương quan giữa hai bên tham chiến. Mỹ là nước giàu mạnh; Việt Nam là nước nghèo. Có nhà nghiên cứu nói về thực lực, Mỹ mạnh hơn Việt Nam một ngàn lần. Cũng khó đo đếm, nhưng nếu tính riêng về sự giàu có, về tiềm lực kinh tế, đúng là Mỹ hơn Việt Nam đến ngàn lần. Việt Nam có chỗ mạnh áp đảo về chính trị, chiến đấu vì độc lập dân tộc. Mỹ làm chiến tranh phi nghĩa, chỗ yếu của Mỹ là về chính trị.

Do đặc điểm của thời đại, Mỹ dùng ngoại giao để khắc phục chỗ yếu về chính trị - Mỹ sử dụng thế ngoại giao, đặt ngoại giao thành một bộ phận của chiến lược chiến tranh. Trong cuộc họp tại Nhà trắng ngày đầu chiến tranh, Johnson nói: “Cuộc chiến tranh này giống như một trận đấu ăn giải. Tay phải ta nắm lực quân sự, song tay trái cần có các đề nghị hòa bình. Mỗi khi đưa quân lên phía trước, thì cũng đưa các nhà ngoại giao lên phía trước. Các vị tướng cần đưa quân nhiều hơn nữa; song Bộ Ngoại giao cũng phải cung cấp cho tôi thêm cái gì nữa...” Chính vì vậy mà thời kỳ Mỹ leo thang (1965-1966), Mỹ mở nhiều “chiến dịch hòa bình” và không ngớt lời đòi Hà Nội “thương lượng không điều kiện” với Mỹ. Rồi suốt cuộc chiến tranh, Mỹ đều dùng ngoại giao và đàm phán trên thế mạnh để che chắn cho quân Mỹ ở chiến trường.

Thanh niên Hà Nội mít tinh tuần hành đòi chính quyền Sài Gòn thực hiện Hiệp thương tổng tuyển cử, thi hành Hiệp định Giơnevơ, năm 1956.

Tính chất thời đại và đặc điểm của cuộc chiến tranh như đã nói trên quyết định vai trò và nhiệm vụ của ngoại giao. Từ rất sớm, ngoại giao Việt Nam đã giương ngọn cờ hòa bình, thi hành Hiệp định Giơnevơ. Mặt trận Dân tộc Giải phóng ra đời, có ngoại giao hoà bình, trung lập. Đi vào chiến tranh lớn, Đảng và Hồ Chủ tịch quyết định đướng lối đấu tranh trên ba mặt trận. Các nghị quyết Trung ương 11, 12 (năm 1965) đề ra phương hướng ngoại giao thích hợp. Nghị quyết Trung ương 13 (tháng 1-1967) quyết định mở mặt trận tấn công ngoại giao, đòi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc và chuẩn bị mở “cục diện đánh đàm”. Qua mỗi bước ngoặt đều có một quyết sách ngoại giao. Từ năm 1968 đến năm 1973 là cuộc đàm phán Pari quyết liệt.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời năm 1960
với phương châm ngoại giao hoà bình, trung lập.

Nhìn tổng quát, suốt cuộc chiến tranh, ngoại giao đóng vai trò một mặt trận tầm cỡ chiến lược với ba chức năng lớn:

Phối hợp và bổ trợ chiến trường, bảo đảm cho ta càng đánh càng mạnh, làm cho địch suy yếu và thất bại.

Tăng cường hậu phương quốc tế của ta, tạo cho ta sức mạnh tổng hợp; làm suy yếu hậu phương quốc tế của Mỹ, làm cho Mỹ vấp nhiều khó khăn trên thế giới và ngay trong nước Mỹ.

Giải quyết vấn đề thắng thua, ta thắng, địch thua, kết thúc chiến tranh. ta thắng đến đâu; buộc Mỹ thua đến đâu; giành thắng lợi từng bước thế nào, đẩy Mỹ ra khỏi miền Nam như thế nào?

Từ ba chức năng chiến lược này, ngoại giao thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Tập hợp lực lượng, tăng cường hậu phương quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp, gắn dân tộc với thời đại; gắn Việt Nam với thế giới;

Phân hoá nội bộ Mỹ, cô lập phái hiếu chiến, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ Ngụy, mâu thuẫn giữa Mỹ với tay sai;

Phối hợp với đấu tranh quân sự, chính trị, kiềm chế, làm thất bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của Mỹ, bảo đảm cho ta đánh mạnh, đánh lâu dài, từng bước kéo Mỹ xuống thang;

Thúc đẩy, bảo đảm hình thành mặt trận nhân dân Đông Dương đoàn kết chống Mỹ, vừa giúp bạn vừa tự giúp mình;

Thực hiện phương thức "vừa đánh vừa đàm", dùng đàm phán để tranh thủ quốc tế, hỗ trợ chiến trường, phân hoá nội bộ Mỹ, giành thắng lợi từng bước, đi tới kết thúc chiến tranh.

Tất cả các nhiệm vụ đối ngoại này đều quan trọng và liên quan mật thiết với nhau và đều nhằm phối hợp hỗ trợ đấu tranh quân sự chính trị trên chiến trường.

Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống Mỹ là cuộc đối đầu giữa hai lực lượng không cân sức nhau trên chiến trường. Trên mặt trận ngoại giao, đó là cuộc đối chọi giữa tư tưởng, trí tuệ, nghệ thuật của nền ngoại giao non trẻ Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh với chính sách ngoại giao trên thế mạnh của nền ngoại giao nhà nghề của cường quốc mạnh nhất trên thế giới.

Trưởng đoàn đàm phán chính phủ Việt Nam DCCH Xuân Thủy (giữa)
trong một cuộc họp nội bộ.

Nền ngoại giao Việt Nam rất non trẻ. Sau Hiệp định Giơnevơ, ngoại giao Việt Nam từ rừng núi về thủ đô bắt tay vào xây dựng và đi vào hoạt động theo cung cách quốc tế, lập đại sứ quán ở nước ngoài, tiếp nhận cơ quan đại diện các nước, tổ chức các hoạt động nghiên cứu và nghiệp vụ ngoại giao. Cán bộ thiếu, chưa kịp đào tạo; tài chính phương tiện eo hẹp. Mỹ có một nền ngoại giao đồ sộ, dồi dào về tài chính, phương tiện, có kinh nghiệm tích lũy qua mấy thế kỷ. Chính sách ngoại giao của Mỹ là dựa trên thế mạnh - ngoại giao pháo hạm, kết hợp sức mạnh với lôi kéo mua chuộc, "cái gậy - củ cà rốt". Mỹ dùng nhiều thủ đoạn để xuyên tạc bản chất của chiến tranh.

Khắc Huỳnh (BBT giới thiệu)

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Sự nhất quán giữa lời nói và việc làm ở Bác Hồ

Sự nhất quán giữa lời nói và việc làm ở Bác Hồ

  • 24/05/2019 14:21
  • 53

Một trong những phẩm chất lớn về nhân cách của Bác Hồ là Người nói như thế nào thì Người làm như vậy. Từ những việc lớn với dân, với nước đến đến những sinh hoạt hàng ngày, ở Bác đã biểu hiện rõ điều đó.

Bài viết khác

Chiến thắng trận đầu của Bộ đội Không quân và Bộ đội Tên lửa Phòng không - Giá trị lịch sử và hiện thực

"Chiến thắng trận đầu của Bộ đội Không quân và Bộ đội Tên lửa Phòng không" - Giá trị lịch sử và hiện thực

  • 01/04/2015 12:28
  • 1420

Nhân kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống của Bộ đội Không quân ( 3/3/1955- 3/3/2015), 50 năm đánh thắng trận đầu của Bộ đội Không quân ( 3/4/1965- 3/4/2015), 50 năm đánh thắng trận đầu của Bộ đội Tên lửa Phòng không (24/7/1965- 24/7/2015), sáng 30/3, tại Hà Nội, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không- Không quân tổ chức Hội thảo khoa học " Chiến thắng trận đầu của Bộ đội Không quân và Bộ đội Tên lửa Phòng không- Giá trị lịch sử và hiện thực".