Thứ Năm, 05/12/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

31/07/2014 09:12 2410
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Phần 2: Trang bị tàu thuyền và công tác huấn luyện của thủy quân thời Gia Long và Minh Mệnh

Tàu thuyền là phương tiện quan trọng bậc nhất của thủy quân. Một lực lượng thủy quân được đánh giá mạnh hay yếu một phần lớn căn cứ vào tình hình trang bị cũng như kỹ thuật chế tạo tàu thuyền.

Trước năm 1802, một số tàu chiến được Nguyễn Ánh mua lại của nước ngoài, đồng thời ông cũng thiết lập các xưởng đóng thuyền để phục vụ cho mục đích quân sự.

Nguyễn Ánh đặc biệt quan tâm tới việc đóng thuyền. Kỹ thuật đóng thuyền thời kỳ này đã có tiến bộ, cùng với việc du nhập thêm những yếu tố kỹ thuật mới của phương Tây. Như J. Barrow nhận xét: “kỹ nghệ đặc biệt mà ngày nay có thể nói là người xứ Nam Hà nổi trội hơn cả là kỹ thuật đóng tàu biển của họ: chẳng thiếu loại kích cỡ nào cũng như có đủ các loại chất lượng gỗ dùng để đóng”. Ông cũng cho biết trong những năm 1797-1798, “nhà vua (Nguyễn Ánh) đã cho đóng ít nhất 300 pháo thuyền lớn hoặc loại thuyền dùng chèo, năm thuyền có cột buồm và một chiến hạm đúng theo kiểu các tàu châu Âu. Ông cho đưa vào quân đội một hệ thống các chiến thuật hàng hải, và cho những sĩ quan hải quân học cách sử dụng các tín hiệu”.

Tranh minh họa về nghề đóng tàu thuyền thời Nguyễn.

J. Barrow cũng cho biết thêm, “để nắm vững kiến thức về thực hành cũng như về lý thuyết của kỹ thuật đóng tàu châu Âu, nhà vua đã mua lại một chiếc tàu Bồ Đào Nha, với mục đích chỉ tháo rời ra thành từng bộ phận, từng tấm ván một rồi tự tay lắp vào một tấm ván mới có hình dáng và kích thước tương tự như cái cũ mà ông tháo ra, cho tới khi mọi thanh sàn tàu, xà ngang tàu, thanh gỗ khớp nối được thay thế bằng một cái mới, và như vậy con tàu hoàn toàn được đổi mới”.

Khi chiến tranh kết thúc, chiến thuyền của Nguyễn Ánh gồm có 100 chiến hạm, 800 pháo hạm, 500 bán pháo hạm.

Các xưởng đóng thuyền lớn ở Gia Định vẫn được Gia Long duy trì hoạt động sau khi lên ngôi. Ông còn lập thêm xưởng đóng thuyền ở Nghệ An và đặc biệt là cho dựng nhiều xưởng đóng thuyền ở Huế. Tháng 2 năm Gia Long thứ 6 (1807) đã đóng thêm hơn trăm chiếc thuyền chiến sai.

Chiến thuyền của thủy quân triều Nguyễn.

Kỹ thuật đóng thuyền vào cuối thời Gia Long đã đạt đến trình độ khá cao. J. White, một người Mỹ đến Sài Gòn vào năm 1819 rất khâm phục cơ sở đóng thuyền ở đây. Ông viết trong hồi ký của mình: “Riêng cơ xưởng này đáng làm cho người Việt Nam tự hào hơn bất cứ cái gì khác ở trong nước. Thực ra thì xưởng này có thể ví với bất cứ một cơ xưởng đóng tàu nào bên châu Âu”.

Đến thời Minh Mệnh, nhà nước cho đóng nhiều chủng loại thuyền với số lượng rất lớn. “Cuối triều Gia Long đầu triều Minh Mệnh, ở Huế, chiến thuyền gồm có: 200 thuyền mang 16, 18, 20 và 22 đại bác; 500 thuyền nhỏ có 40 đến 44 tay chèo, có nhiều tiểu bác và một đại bác; 100 thuyền lớn, có 50 đến 70 tay chèo, có cả đại bác, tiểu bác; 3 thuyền kiểu Tây”… Ở các tỉnh có nhiều gỗ tốt như Nghệ An, Thanh Hóa và tiện đường sông như Nam Định đều có xưởng đóng thuyền.

Số lượng tàu thuyền của thủy quân thời Minh Mệnh được Moor mô tả năm 1823 là “ước chừng: 50 thuyền buồm dọc 14 súng, 80 pháo hạm, 100 thuyền lớn, khoảng 300 thuyền chèo từ 80 đến 100 mái, 500 thuyền chèo từ 40 đến 80 mái. Tại các tỉnh, 500 thuyền từ 20 đến 100 mái tạo nên tổng số khoảng 1530 chiếc”.

Một điểm đáng chú ý dưới thời Minh Mệnh là việc ông cho triển khai đóng các tàu máy hơi nước theo kiểu phương Tây. Việc đóng tàu máy hơi nước khá tốn kém nhưng muốn khiến cho công tượng nước ta quen máy móc cho khéo, vậy nên chẳng kể lao phí gì. Đến tháng 10 năm 1839, Minh Mệnh cho chế thêm một chiếc tàu máy lớn, phí tổn hơn 11.000 quan tiền.

Song song với việc trang bị tàu thuyền cho thủy quân, thì công tác huấn luyện và thao diễn là vấn đề luôn được các vua Nguyễn coi trọng. Hàng năm, đầu xuân là kỳ thủy quân thao diễn và vua thường đến xem.

Tái hiện thao diễn thủy binh thời Nguyễn tại Festival Huế 2010.

Khi còn ở Gia Định, Nguyễn Ánh đã quy định lệ duyệt binh hàng năm. Năm 1791, đại duyệt tướng sĩ các dinh quân. Từ đấy cứ đầu mùa xuân hàng năm thì duyệt binh. Đối với thủy quân, Gia Long năm thứ 2, nghị chuẩn: “Về thủy quân diễn cách chèo thuyền, tức thì ở chỗ đất liền, thiết lập đồ chèo thuyền, chọn vài trăm người biết chèo, cho diễn tập, làm như hình dáng đi thuyền. Hàng năm đầu xuân, y theo phép ấy diễn tập”.

Thời Minh Mệnh, công tác huấn luyện, thao diễn cũng được tiến hành đều đặn và nghiêm chỉnh. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) xuống Dụ: “Nay thủy quân ở Kinh, hiện đã đặt thêm nhiều, mà các địa phương ven biển cũng đều có thủy quân. Vậy các viên chưởng lĩnh cai quản ở Kinh, đốc phủ, bố án, lãnh binh ở ngoài đều chiểu lệnh: thủy quân, nên thi hành diễn tập, chẳng hạn loại thuyền mành, buồm chèo, cột buồm, dây buồm, người cầm lái và thủy thủ tiến hành thao diễn, được cốt người tinh thạo, sau đến đường biển, đường sông, chỗ nông chỗ sâu, chỗ hiểm chỗ dễ và chỗ đảo lớn, đảo nhỏ, nơi sâu cạn, nhất thiết phải tránh, nên khiến cho tập để biết tất cả. Rồi lại dạy về súng nhỏ, súng lớn khiến cho được tinh thạo, đề phòng khi dùng đến”.

Bên cạnh việc huấn luyện, diễn tập tàu thuyền cho chỉnh tề thì luyện tập bắn súng cho thủy quân cũng được quan tâm đúng mức. Đầu thời Gia Long có đắp trường bia ở Hoằng Phúc (cao hơn 30 thước, rộng hớn 130 thước). Bề mặt trương một cái đích bắn để cho quân thủy đi lại nhắm bắn, lấy sự trúng vào đích hay không để định thưởng phạt.

Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đắp trường bia Thanh Phúc. Ra lệnh cho biền binh Thủy sư diễn tập các súng lớn ở thuyền Hải đạo, cùng bộ binh phối hợp để thao diễn phép bắn. Mỗi ngày diễn tập 2 lần: buổi sáng bắt đầu trước mặt trời mọc 1 khắc đến lúc lậu xuống khắc thì thôi; buổi chiều bắt đầu từ lúc lậu xuống 8 khắc đến khi mặt trời lặn thì thôi.

Lại làm thuyền giả để cho quân lính làm đích mà tập bắn. Năm Minh Mệnh thứ 20, có Sắc: “Thủy sư diễn tập bắn súng điểu sang và súng lớn. Nên kết thành một cái bè nổi ở ngoài biển làm ra hình dáng như cái thuyền… Ra lệnh cho thuyền binh, nhân gió qua lại, cho đúng theo mức ngắm vừa chở đi vừa bắn. Bắn trúng được làm ưu, bắn không trúng là liệt. Chia định thưởng phạt, diễn tập như thế là thực dụng”.

Đối với các loại súng đại bác, cách thức diễn tập cũng tương tự. Chiểu theo cách thức, kết một cái bè nổi ở ngoài biển, cách bờ hơi xa. Bốn bên bè đều bỏ neo, xích, để gió khỏi làm trôi đi. Rồi lấy thuyền lớn Thanh Loan và các thuyền bọc đồng ở ngoài bể cách bè ước 50 trượng… khi có lệnh tức thì đem súng đại bác áo đỏ, nhằm vào bè nổi bắn liền 3 phát. Thuyền chở nối sau, lần lượt bắn ra.

Như vậy, có thể thấy dưới thời vua Gia Long và Minh Mệnh, quân đội nói chung và lực lượng thủy quân nói riêng được quan tâm xây dựng về mặt tổ chức, lực lượng và trang bị theo tinh thần “binh quý tinh nhuệ không quý nhiều”. Với việc xây dựng một lực lượng thủy quân mạnh, trang bị tốt, được huấn luyện thường xuyên, vua Gia Long và Minh Mệnh đã thể hiện quyết tâm cao trong việc làm chủ vùng biển, đảo rộng lớn của đất nước.

Lê Khiêm (tổng hợp)

Nguồn:

- Bùi Gia Khánh, “Thủy quân triều Nguyễn dưới thời Gia Long và Minh Mệnh”, Nghiên cứu lịch sử 2013, số 7, tr. 41-44.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 460

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Bộ ấm chén của tập đoàn thương binh miền Nam tự sản xuất mừng sinh nhật lần thứ 70 của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bộ ấm chén của tập đoàn thương binh miền Nam tự sản xuất mừng sinh nhật lần thứ 70 của Chủ tịch Hồ Chí Minh

  • 25/07/2014 14:37
  • 1459

Tháng 6/1947, giữa những ngày Nhà nước cách mạng non trẻ của chúng ta đang cùng với toàn thể nhân dân bước vào năm thứ hai của cuộc kháng chiến khốc liệt, từ chiến khu Việt Bắc, với lòng biết ơn sự hy sinh quả cảm của đồng bào và chiến sỹ ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị chọn một ngày trong năm làm Ngày thương binh "để nhân dân ta có dịp tỏ lòng biết ơn, yêu mến thương binh". Cũng từ đó cho đến nay, dù trong mọi điều kiện, hoàn cảnh nào, toàn Đảng, toàn dân ta đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực để tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự cống hiến xương máu của những người đã tận trung với nước, tận hiếu với dân.