Thứ Tư, 23/10/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

26/11/2014 00:00 129
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Vào thời Lý (1010 – 1225) cùng với sự phát triển của kinh tế, chính trị và quân sự, các lĩnh vực văn hóa, tư tưởng cũng được triều đình chú trọng, trong đó Phật giáo được quan tâm đặc biệt và được coi là quốc giáo. Vương triều Lý đã biết vận dụng sức mạnh của Phật giáo vào công cuộc tái thiết đất nước. Một số trung tâm Phật giáo được xây dựng ở Hà Nam, Nam Định và đặc biệt ở Bắc Ninh - quê hương của nhà Lý. Trong các ngôi chùa ở Bắc Ninh, Phật Tích là ngôi cổ tự rất độc đáo, nơi có pho tượng Phật bằng đá lớn nhất Việt Nam. Chùa còn được gọi là chùa Vạn Phúc hay chùa Tiên Du, nằm trên núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện Tiên Du (nay là xã Phượng Hoàng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh).

Chùa được xây dựng vào năm 1057 đời vua Lý Thánh Tông với nhiều tòa ngang dãy dọc. Sau đó chùa được xây dựng lớn vào thời Lê Hy Tông, năm 1686. Tuy nhiên, qua thời gian, cả kiến trúc thời Lý và thời Lê Trung Hưng đã không còn nữa, đặc biệt là sự kiện năm 1947 chùa đã bị quân Pháp đốt cháy hoàn toàn. Kiến trúc hiện nay là được xây mới từ năm 1959.

Vào những năm 1937 – 1940, nhà khảo cổ học người Pháp L. Bezacier thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ đã tiến hành khai quật khu di tích này. Ông đã thu thập và vận chuyển một số những tác phẩm điêu khắc đá tiêu biểu về Bảo tàng Luis Finot, nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Các tác phẩm điêu khắc này đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình dân tộc. Toàn bộ các chủ đề và mô típ của điêu khắc thời Lý đều là sản phẩm của những thần thoại Phật giáo. Mỗi hình tượng nghệ thuật đều được các nghệ nhân cách điệu đầy tài hoa (từ rồng, phượng, uyên ương, em bé hay chim thú). Trong đó, thủ pháp nghệ thuật tạo hình có thần thái rất rõ ràng với từng loại hình mà nét chủ đạo là cân xứng, thon thả và thanh tú uyển chuyển, mềm mại với những đường cong cực lớn và dày đặc như đuôi nghê, đuôi sóc hay chim phượng hoặc rồng thắt miệng túi thật sự là vẻ đẹp điển hình của mỹ thuật thời Lý - thời đại đã sản sinh ra chúng. Dưới đây là một số tác phẩm tiêu biểu:

1. Đầu tượng tiên nữ

Tiên nữ có khuôn mặt bầu tròn, phúc hậu. Đôi mắt dài với khuôn lông mày nhỏ uốn cong, chiếc mũi thanh tú. Cặp môi mỏng, như nhoẻn miệng cười. Tóc búi cao thành bầu tròn lên đỉnh đầu, được trang trí những bông hoa cúc nở.

Trong nghệ thuật Phật giáo, hình ảnh các tiên nữ rất phổ biến ở Ấn Độ - Đông Nam Á với tên gọi là Apsara, ở Trung Quốc thì được gọi là “Phi Thiên”. Nguyên đấy là những tiên nữ làm nhiệm vụ ca hát trên cung trời của Đế Thích (Indra), một vị thần lớn trong thần thoại Ấn Độ được Phật giáo du nhập để phục vụ Đức Phật. Cùng với những chức năng đó, các tiên nữ này thường xuất hiện và gắn với rất nhiều đoạn đời của Đức Phật như lúc Đức Phật đầu thai, giáng sinh, giảng đạo hay thuyết pháp cho đến lúc Người viên tịch nhập Niết Bàn.

Tiên nữ đầu người mình chim (Kinnari) đang dâng hoa.

2.Tượng nữ thần đầu người mình chim (Kinnari)

Tượng thể hiện một nhạc công nửa thân trên là người, nửa dưới là chim, với tư thế đậu trên một đấu. Tượng có khuôn mặt tròn, tóc búi cao thành chỏm, mắt nhìn thẳng hướng, hai tay đang biểu diễn nhạc cụ; hai chân mập khỏe, móng có lông vũ; bộ đuôi to khỏe cong lượn tỏa lên trên, chạm vào cả búi tóc trên đỉnh đầu.

Trong điêu khắc Phật giáo Ấn Độ - Đông Nam Á, nhân vật này được gọi là Kinnari, có nhiệm vụ ca múa và tấu nhạc. Cùng với các tiên nữ Apsara và các nhạc công, các Kinnari này sẽ hợp thành một bộ ba các nhân vật thần thoại chuyên lo việc ca múa, âm nhạc chào mừng đức Phật.

3.Lá đề chạm rồng

Đây là một chi tiết được gắn trên các kiến trúc chùa tháp triều Lý. Tác phẩm này mô phỏng hình dáng lá cây bồ đề, có mũi lá nhọn, vai xuôi, phình to dần ở thân rồi thu vào, hơi thóp lại ở giữa phần giáp với cuống lá. Bên trong, trên nền văn mây là hình ảnh hai con rồng với thân hình uốn cong đối xứng, hai đầu vươn lên, đang phối hợp với nhau dâng lên ba lá đề nhỏ.

Phật thoại kể lại rằng: sau nhiều năm tu luyện khổ hạnh vẫn không đắc đạo, thái tử Sidhartha (Tất Đạt Đa) đã bỏ con đường tu tập cũ, ăn uống bình thường trở lại, song vẫn quyết tâm đi tìm chân lý tối hậu. Tại Bodhgaya, trong khi ngồi trên bó cỏ dưới gốc cây Pippala (tức cây bồ đề), suy nghĩ kiên định, chiến thắng mọi thế lực đe dọa và cám dỗ, chân lý sáng dần lên và cuối cùng thái tử đã giác được đạo. Từ đó Ngài đã thành Đức Phật. Cây bồ đề trên đây biến thành một biểu trưng đánh dấu sự kiện Đại Giác của Đức Phật. Khi Đức Phật nhập Niết Bàn, vị trí cây bồ đề là một trong bốn nơi đầu tiên được giành để tưởng niệm Ngài. Cây bồ đề, lá bồ đề được chạm phổ biến trong các chùa tháp. Hình ảnh lá bồ đề được biến tấu và sử dụng rất linh hoạt: vòng hào quang tượng Phật hình lá đề, vòm của chùa tháp hình lá đề… Một trong những sáng tạo độc đáo chính là hình ảnh các lá bồ đề (thường gọi tắt là lá đề) được trang trí trong kiến trúc Phật giáo Lý – Trần.

4. Bệ chân cột trang trí các nhạc công thiên thần (Gandharva)

Đây là một trong những bệ kê chân cột bằng đá chạm nổi cánh sen và các nhạc công. Bệ hình vuông, mặt trên được trang trí hình cánh sen mũi hếch. Bên trong mỗi cánh sen được trang trí đôi rồng uốn cong tạo hình lá đề. Bốn mặt đều được trang trí những nhạc công đang tấu nhạc. Đó là một đội hoàn chỉnh gồm có 10 người: trên một mặt thể hiện người đánh mõ, thổi sao, kéo nhị, gẩy đàn chanh, thổi sanh; ở mặt khác thì có người đang dập phách, gẩy đàn tỳ bà, thổi sáo dọc, đàn tam, đánh trống bồng. Hầu hết các nhạc cụ này đều có nguồn gốc từ Chiêm Thành (Champa). Toàn bộ các mảng chạm đã được người thợ thời Lý diễn tả theo phong cách thi vị hóa, những hình ảnh dâng hoa cúng Phật, nhạc công tấu nhạc đều được cách điệu một cách khéo léo và tinh tế gợi lên một không khí nhộn nhịp, vui tươi và nét mặt hồn hậu, dáng điệu uyển chuyển của điệu múa mà người thợ đã thể hiện nguồn cảm hứng của họ trong quá trình sáng tác. Qua đó đã phản ánh được sự phát triển mạnh mẽ nghệ thuật ca múa nhạc của nhân dân Đại Việt dưới thời Lý có sự tiếp thu và giao lưu với cư dân Champa cổ.

5. Tượng thần hộ pháp (Dvarapala)

Hộ pháp là vị thần có sức mạnh rất lớn nguyện phát tâm hết lòng hộ trì Phật pháp. Trong các ngôi chùa Lê – Nguyễn, ta thường thấy có hai Hộ Pháp đặt ở hai bên tòa bái đường với tên gọi Khuyến Thiện và Trừng Ác.

Dù đã bị mất phần đầu, nhưng vẫn nhận thấy tượng mang sắc tướng một võ sĩ, đứng hơi nghiêng về phía trước, mình vặn, hông lệnh, chân choãi. Toàn bộ thân mặc áo choàng rộng trùm kín người, các nếp gấp lớn, mềm mại bay dạt về phía sau. Dây lưng mềm thắt chẽn áo, đầu mối buông rủ. Rải đều khắp võ phục là các đốm hoa tròn nhỏ.

Mỗi một thời đại đã qua thường để lại dấu ấn của riêng mình. Những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc thời Lý ở chùa Phật Tích cho ta hình dung phần nào về cuộc sống vật chất và tinh thần của cư dân Đại Việt cách đây cả ngàn năm, xứng đáng là đỉnh cao của nền nghệ thuật tạo hình dân tộc.

Đinh Phương Châm (Phòng QLHV)

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài viết khác

Phù điêu thần Siva tháp Mẫm (thế kỷ XII) trong nghệ thuật điêu khắc đá Champa hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Phù điêu thần Siva tháp Mẫm (thế kỷ XII) trong nghệ thuật điêu khắc đá Champa hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia

  • 26/11/2014 00:00
  • 130

Vương quốc Champa được hình thành vào khoảng cuối thế kỷ II sau CN, trên cơ sở phát triển của nền văn hóa Sa Huỳnh, kết hợp với các yếu tố từ bên ngoài, nhất là thương mại và tôn giáo từ Ấn Độ. Có thể nói, Ấn Độ giáo du nhập vào Champa từ khá sớm. Bi ký đầu tiên tìm thấy tại vùng đất Panturankar (Quảng Nam – Đà Nẵng) là bia Bvadravacmani (thế kỷ IV) đã xác định sự ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo Ấn Độ vào vùng đất này. Tuy nhiên, Ấn Độ giáo khi vào Champa đã được bản địa hóa, mang những đặc trưng riêng. Siva là vị thần đầy uy thế trong lịch sử tôn giáo – tín ngưỡng Chăm và người Chăm có sự ưu ái đặc biệt với thần Siva: các văn bia cổ khắc chữ Phạn (Sanskrit) trong thung lũng Mỹ Sơn đã tôn Siva là “chúa tể của muôn loài”, “là cội rễ của nước Champa”. Với 128 bia ký quan trọng của Champa mà hiện nay được biết, thì có đến 92 thuộc Siva giáo, 5 nói về Brahma, 7 nói về Phật, 3 nói về Vishnu, điều này chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của thần Shiva trong đời sống của người dân vương quốc cổ.