Thứ Ba, 28/06/2022
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

12/07/2016 03:22 222
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Bước vào năm 1965, trước nguy cơ thất bại của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ quyết định đưa quân vào tham chiến ở miền Nam, đồng thời tăng cường viện trợ quân sự cho quân đội Sài Gòn. Về phía ta, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tiếp tục đẩy mạnh tiến công quân sự, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị, nhanh chóng thực hiện những đòn đánh tiêu diệt lớn hơn, kiên quyết đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Trung ương Cục Quân Ủy và Bộ Chỉ huy Miền quyết định mở đợt tiến công Xuân - Hè 1965…

Trung ương Cục quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm Tư lệnh kiêm Chính ủy Lê Trọng Tấn (giai đoạn cuối bổ sung đồng chí Trần Độ làm Chính ủy), Phó Tư lệnh- Tham mưu trưởng Hoàng Cầm, Phó Tư lệnh Nguyễn Minh Châu, Phó Chính Ủy Lê Văn Tưởng. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: 3 trung đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công và một số đơn vị pháo binh, công binh của chủ lực Miền, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ binh của Khu 6 cùng lực lượng vũ trang địa phương. Địa bàn chiến dịch sẽ trải rộng gần 1000km2 gồm các tỉnh Phước Long, Bình Long, Lâm Đồng, Bình Tuy, Long Khánh, Biên Hòa, Bà Rịa, được chia thành 3 đợt:

Đợt 1 (10-31/5/1965): Với mục tiêu đánh điểm để diệt viện, đêm ngày 10, rạng sáng 11/5 tiểu đoàn bộ binh 271, 272, 840 và đặc công thị xã Phước Long cùng sự chi viện pháo công đã tiến công tiêu diệt chi khu quân sự Phước Bình. Địch đưa quân tới giải tỏa (đổ bộ bằng đường không và đường bộ). Do chúng ta nắm địch chưa chắc, phương án tiến công chuẩn bị chưa chu đáo nên không tiêu diệt được tiểu đoàn nào của địch.

Đ/c Lê Trọng Tấn (Tư lệnh kiêm Chính ủy trong Chiến dịch Đồng Xoài) nghiên cứu tình hình chiến trường miền Nam, năm 1965. (ảnh Internet)

Đợt 2 (9-20/6/1965): Quân ủy Miền và Bộ Tư lệnh (BTL) chiến dịch nhận định khu vực chủ yếu mà địch cố giữ là Chơn Thành, Đồng Xoài, thị xã Phước Long, Bình Long, Bù Đốp. Trong đó, Đồng Xoài là mắt xích quan trọng và là một trong những cứ điểm mạnh trong tuyến phòng thủ Sông Bé, bảo vệ hướng Bắc Sài Gòn, quân ta quyết định tiêu diệt chi khu Đồng Xoài là trận then chốt. Chấp hành mệnh lệnh của BTL chiến dịch, Trung Đoàn 272 được tăng cường, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 273 có pháo binh yểm trợ thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt chi khu Đồng Xoài. Tối ngày 9/6, lực lượng làm nhiệm vụ mở cửa của quân ta bất ngờ đã nổ súng, khiến trận đánh diễn ra sớm hơn dự kiến. Sự phối hợp chiến đấu giữa các mũi tiến công của quân ta đã đột phá, áp chế sự chống cự quyết liệt của địch. Sáng sớm ngày 10/6, quân ta đã làm chủ hoàn toàn chi khu, tiêu diệt phần lớn quân địch, ngay sau đó, các đơn vị nhanh chóng rời khỏi trận địa để chuẩn bị đánh viện. Cùng thời gian đó, bộ đội công binh phối hợp đánh sập cầu Sông Bé, hạn chế khả năng cơ động đường bộ, buộc địch phải tổ chức ứng cứu bằng đổ bộ đường không theo kế hoạch chuẩn bị của quân ta.

Sáng 10/6, địch dùng máy bay trực thăng đổ quân xuống đồn điền Thuận Lợi để ứng cứu cho Đồng Xoài, nhưng phần lớn quân địch đã bị bao vây, tiêu diệt bởi Trung đoàn 271 quân ta. Khoảng 15h ngày 10/6, địch đưa Tiểu đoàn Biệt động quân 52 đến phản kích, tuy nhiên, chúng đã bị ta diệt gọn một đại đội, số còn lại bỏ chạy, co cụm chờ cứu viện. Ngày 11/6, địch tiếp tục tăng cường các Tiểu đoàn Dù và Biệt động để tiếp ứng cho Đồng Xoài. Ngày 12/6, Trung đoàn 271 quân ta, đã phục kích và tiêu diệt gọn Tiểu đoàn Dù của địch tại khu vực đồn điền Thuận Lợi. Tiểu đoàn Dù của địch vốn là biểu tượng sức mạnh đối với quân đội Sài Gòn, chúng bị tiêu diệt khiến cho quân địch đóng ở Củ Chi, Cây Trắc…dọc quốc lộ 1 hoang mang, rút chạy.

Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam đi khảo sát chiến trường, năm 1965. (ảnh Internet)

Đợt 3 (24/6-22/7/1965): Với các chiến thắng liên tiếp, quân ta đã thực hiện thành công các yêu cầu về tiêu diệt địch, tấn công vững chắc, nhử viện và diệt viện. Quân ta chuyển hướng tiến công, phát triển đánh địch ở Bù Đốp và trên đướng 13. Thực hiện ý định tác chiến của BTL chiến dịch, các trung đoàn 271, 273 cơ động lên phía Bắc, chuẩn bị đánh địch ở Bù Đốp. Trung đoàn 272 chuyển xuống phía Nam đánh địch trên đường 13 và giúp địa phương đẩy mạnh phong trào chính trị, phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng. Trên hướng đướng 13, đêm 15/7, Trung đoàn 272 đã tổ chức tập kích 1 chiến đoàn hỗn hợp gồm một tiểu đoàn bộ binh, một chi đoàn thiết giáp thuộc Trung đoàn Bộ binh 7 từ Bến Cát lên, tạm dừng ở Bàu Bàng, loại khỏi vòng chiến 400 địch. Tiếp đó ngày 20/7, trên hướng Bù Đốp, Trung đoàn 273 tiến công trại huấn luyện biệt kích, chi khu Bù Đốp, diệt 2 đại đội, buộc địch phải rút khỏi Bù Gia Mập.

Tư lệnh và Chính ủy Chiến dịch Đồng Xoài vượt sông ra trận địa, năm 1965. (ảnh Internet)

Sau hơn 2 tháng (10/5- 22/7/1965) tiến công, chiến dịch kết thúc thắng lợi, quân ta đã tiêu diệt được số lượng lớn quân địch và vũ khí. Quân ta đã giải phóng được hơn 5 vạn dân hai tỉnh Bình Long và Phước Long, góp phần khai thông cửa khẩu biên giới sang Campuchia, nối liền hành lang chiến lược từ miền Bắc qua đường Trường Sơn vào miền Đông Nam Bộ. Cùng với chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, thắng lợi của chiến dịch Đồng Xoài góp phần làm thất bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam. Thắng lợi này đã đánh dấu sự phát triển của chiến tranh nhân dân địa phương, sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang ở miền Đông Nam Bộ, nhất là bộ đội chủ lực của Khu, bộ đội địa phương cả về xây dựng tác chiến và đảm bảo hậu cần, kỹ thuật.

Đức Toàn (tổng hợp)

Nguồn:

- Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập 3. Nxb Chính trị quốc gia, 1997.

- Lịch sử miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ kháng chiến (1945-1975). Nxb Chính trị Quốc gia, 2010.

- Những vấn đề chính yếu trong Lịch sử Nam Bộ kháng chiến. Nxb Chính trị Quốc gia, 2011.

- https://vi.wikipedia.org

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài viết khác

5-7-1885: Cuộc tấn công vào tòa Khâm sứ Pháp tại Kinh thành Huế

5-7-1885: Cuộc tấn công vào tòa Khâm sứ Pháp tại Kinh thành Huế

  • 04/07/2016 02:32
  • 214

Năm 1884, Pháp đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam tới giai đoạn cuối, Bắc Kỳ gần như đã nằm trong tay quân viễn chinh Pháp. Hai Hiệp ước Hácmăng (1883) và Patơnốt (1884) được ký kết dưới áp lực quân sự của tư bản Pháp đã đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của nhà nước phong kiến độc lập Việt Nam và sự đầu hàng của triều Nguyễn trước chủ nghĩa tư bản Pháp. Sau khi vua Tự Đức mất, Tôn Thất Thuyết là một trong ba Phụ chánh đại thần, đồng thời giữ chức Thượng thư Bộ binh nắm trong tay mọi binh quyền, đang ráo riết liên kết xây dựng lực lượng chờ ngày tấn công quân thù.