Chủ Nhật, 15/12/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

05/09/2016 01:05 129
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
(Phần 2 và hết) 2. Đặng Huy Trứ - doanh nhân nặng lòng tư tưởng canh tân

Đặng Huy Trứ (1825-1874) sinh ra trong một gia đình trí thức nghèo ở làng Thanh Lương, nay thuộc xã Hương Xuân, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên- Huế. Xuất thân từ cửa Khổng, là sản phẩm của nền giáo dục Nho học nhưng ông lại coi trọng thương nghiệp và lưu thông hàng hóa. Điều này thể hiện tầm nhìn của ông đối với thời cuộc, bởi vì chính sách “bế quan tỏa cảng” rõ ràng là lạc hậu, là cản bước tiến của xã hội.

Sau chuyến đi giao thương ở Hồng Kông về, ông đã đề nghị triều đình Huế đặt Ty Bình Chuẩn để thu mua hàng hóa dự trữ, chờ khi giá thị trường tăng vọt thì tung ra bán để bình ổn giá cả, ngăn ngừa sự đầu cơ tích trữ, trục lợi của bọn tư thương.

Đặng Huy Trứ (1825-1874)

Năm 1867, Đặng Huy Trứ được cử sang Áo Môn tìm hiểu tình hình thế giới và mua sắm vũ khí. Trong dịp này, ông đã tiếp xúc với khá nhiều người trong giới sĩ phu Trung Quốc, tìm đọc được nhiều sách báo nói về tình hình chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa các nước phương Tây và châu Á.

Cuối năm 1868, từ Trung Quốc ông viết bản tấu gửi về triều đình Huế nêu kế sách tự cường tự trị, tập trung vào hai nhiệm vụ chiến lược hàng đầu là muốn chống giặc Pháp thì phải canh tân đất nước, và canh tân đất nước là để phục vụ tốt công cuộc chống Pháp. Trong bản tấu, Đặng Huy Trứ đã phân tích tình hình tự cường tự trị của nhà Đại Thanh (Trung Quốc), của Cao Ly, Nhật Bản, Ba Tư và khẳng định sự thành công của các nước đó nhằm để vua nhà Nguyễn nghe theo mà thực hiện.

Khu di tích cấp quốc gia Lăng mộ và Nhà thờ Đặng Huy Trứ, thuộc làng Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Ông là người đặt vấn đề kinh tế và khoa học kỹ thuật ở một vị trí có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiêp chống ngoại xâm và xây dựng đất nước. Quan điểm tiến bộ này của ông càng được củng cố khi ông được phái đi Trung Quốc, tiếp xúc với những điều mới lạ của nền văn minh phương Tây. Đặng Huy Trứ thấy nhu cầu cấp thiết của đất nước là phải phát triển thương mại và nông nghiệp, đẩy mạnh việc khai mỏ, cải tiến hệ thống giao thông vận tải. Đánh giá cao vai trò của thương nghiệp, ông tình nguyện nhận lấy “nghề mạt” là đi buôn để làm giàu cho đất nước. Ông cho mở nhiều hiệu buôn ở Hà Nội như: Lạc Sinh điếm, Lạc Thanh điếm, Lạc Đức điếm… Ông tổ chức việc lưu thông hàng hóa giữa các miền trong nước. Cơ quan chỉ đạo đặt ở Hà Nội nhưng hoạt động của nó mở rộng đến các tỉnh: Quảng Nam, Vĩnh Long, Gia Định (1866). Với một số vốn ít ỏi là 5 chục ngàn quan do triều đình cấp, ông đã động viên thêm vốn của tư nhân, theo công thức “công tư lưỡng lợi” (từ của ông dùng). Và khi đã có điều kiện tổ chức và đầu tư công nghệ để khai thác tài nguyên đất nước. Với việc huy động chục nghìn người dân ở các tỉnh đi khai thác mỏ vừa giải quyết việc làm cho dân vừa có nguồn thu. Để lấy các sản phẩm kim loại như thiếc, đồng xuất khẩu, ông còn đầu tư để đưa sảm phẩm của thủ công mỹ nghệ Việt Nam như: thêu ren, đường, dầu thảo mộc, quế sang Hồng Kông để mang tiền về cho đất nước. Để phát triển thủ công nghiệp, ông tổ chức các hộ sản xuất riêng lẻ theo từng ngành nghề và cho các hộ này vay vốn trước để mua nguyên liệu rồi bán hàng cho nhà nước. Từ năm 1861, ông đã xin lập một cơ quan của nhà nước chuyên trách việc vận tải đường thủy, nhưng đến năm 1864 cơ quan này mới được thành lập. Và ông coi việc làm giàu là một đạo đức không thể xem khinh “Sinh tài đại đạo sự phi khinh”. Ngay từ thời đó, ông đã nhìn ra vai trò của tư nhân cùng với nhà nước theo phương châm “Công tư lưỡng lợi” do ông đề ra. Làm giàu là chính đáng, nhưng chớ tham mà xâm phạm của công. Nghĩ đến lợi nhưng phải nghĩ đến tiếng thơm vì “danh lợi xưa nay khôn vẹn cả”. Và: “Túi nặng ngàn vàng đau phải quý/quan khen một tiếng ấy là vinh”. Tư tưởng kinh tế của ông quả thực đã đi trước thời đại và giữ nguyên giá trị đến ngày nay. Công việc của ông đang phát triển tốt thì Tự Đức nghe theo những đại thần bảo thủ, đã xuống chiếu bãi bỏ những thành quả mà Đặng Huy Trứ đã đạt được với bao tâm huyết. Cùng với việc xây dựng kinh tế, điều đáng ghi nhận là ngay ở thời đó, Đặng Huy Trứ đã đặc biệt quan tâm khai thác những thành quả khoa học và kỹ thuật của nước ngoài, tìm hiểu việc chế tạo máy móc, đóng thuyền, đúc súng đạn… Ông sưu tầm sách báo các nước, dịch ra và giới thiệu với giới trí thức trong nước. Ông gặp gỡ và động viên số người Việt Nam ở Hương Cảng, học nghề đóng tàu thủy chạy bằng hơi nước. Với sự giúp đỡ của người Anh họ đã đóng thành công một chiếc tàu đầu tiên dưới Triều Tự Đức và đặt tên là Mẫn Thỏa. Ông ghi chép tỉ mỉ kỹ thuật máy hơi nước được mô tả trong cuốn sách “Bác vật tân biên” của người Anh và đem về nước. Cũng trong dịp này, Ông mua được 239 khẩu “Quá Sơn pháo” bắn qua núi. Điều đáng nói là ngay từ thời kỳ còn ngự trị của một tư tưởng phong kiến, lạc hậu, trì trệ lúc đó, Đặng Huy Trứ đã có tư tưởng đổi mới để hội nhập thế giới. Và ông nhận rất rõ một điều: Nhân dân chính là người nuôi mình và mình phải lo trả nợ nhân dân. Coi trọng lao động ông càng coi trọng tri thức khoa học. “Phải rước mời chuyên gia phương Tây sang giảng dậy”. Ông đã mở nhiều trường tư thục, mở hiệu sách bán Tân thư và nhà in. Ông du nhập kỹ thuật nhiếp ảnh vào nước ta và với hiệu ảnh đầu tiên ở Hà Nội, ông đã trở thành người khai sinh ra ngành nhiếp ảnh Việt Nam. Ông mất ngày 7/8/1874 trên đường rút lên căn cứ Đồn Vàng – Hưng Hóa để tiếp tục chống Pháp.

3. Phạm Phú Thứ

Phạm Phú Thứ (1821-1882) quê ở làng Đông Dư, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm 1863, ông giữ chức Tả Tham Tri Bộ Lại và làm Phó sứ cho Phan Thanh Giản trong hai phái đoàn đi Pháp thương thuyết xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kì.

Phạm Phú Thứ (1821-1882).

Sau chuyến đi Pháp về, ông tập hợp lại những điều mắt thấy tai nghe và viết thành năm bộ sách nói về văn minh phương Tây là:

1. Bác vật tân biên (Nói về khoa học)

2. Khai môn yếu pháp (Nói về cách khai mỏ)

3. Hàng hải kim châm (Nói về phép đi biển)

4. Tùng chánh di qui (Nói về kinh nghiệm trong việc làm quan)

5. Vạn quốc công pháp (Nói về luật giao thiệp quốc tế)

Không chỉ viết sách để phổ biến kiến thức, năm 1873, Phạm Phú Thứ còn dâng sớ xin chấn chỉnh võ bị, hậu dưỡng quan binh, giao hải với các cường quốc, mở cửa thông thương và đặt lãnh sự tại Hồng Kông để giao thiệp với nước ngoài.

4. Nguyễn Lộ Trạch

Nguyễn Lộ Trạch sinh ngày 8 tháng giêng năm Qúy Sửu, Tự Đức thứ 6 (tức ngày 15.2.1853) tại Cam Lộ, Quảng Trị. Quê ở làng Kế Môn, xã Điền Môn, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất năm 1898.

Nguyễn Lộ Trạch là một trí thức phong kiến, ít có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với nền văn hóa và khoa học kỹ thuật của phương Tây, nhưng ông đã tự học, tự tìm tòi để nâng cao tầm hiểu biết của mình. Qua các tác phẩm "Thời vụ sách thượng", "Thời vụ sách hạ", "Thiên hạ đại thế luận", ông đã thể hiện kiểu suy nghĩ mới lạ, nhãn quang sáng suốt, tầm nhìn xa rộng và nhiệt tình yêu nước cháy bỏng của mình.

"Thiên hạ đại thế luận" đã trình bày cái "đại thế" của hoàn cầu nói chung, trong đó tập trung phân tích thế lực của các nước đế quốc tại Châu Á. Ông chỉ ra rằng: Các nước phương Tây không phải điều binh khiển tướng, tải lương từ "ngoài trùng dương bảy vạn dặm" như trước nữa mà nó đã có những căn cứ quân sự và cơ sở hậu cần trên nững vùng đất Châu Á mà nó chiếm được, cho nên Trung Quốc và Châu Á đều nằm trong tầm kiểm soát của các cường quốc phương Tây. Trung Quốc rộng lớn nhưng cũng đang bị các nước phương Tây xâu xé như đàn cá mập đớp mồi.

Ấn phẩm về Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch – di cảo của Huỳnh Thúc Kháng (hiệu Minh Viên).

Trong tình hình suy sụp về mọi mặt của nước ta ở cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Lộ Trạch đã dũng cảm nhìn vào thực lực, rồi cất lên tiếng kêu xé lòng: "Ôi! Cái "thế" nước ta đến như ngày nay còn nói được gì nữa: Trong thì của cạn, sức kiệt, ngoài thì bị lấn lướt, xiết chặt. Chỉ còn là bộ xương còm bám giường không xong, lại còn bị bóp cổ, thụi lưng nữa thì làm sao chống đỡ được"(7). Và lúc này ông không còn lặng thinh để theo đuổi cái chí "Kỳ Am, Bàn Cờ Điếu Đồ"(8) nữa mà ông đã lên tiếng đòi hành động. Trong các bài "Thời vụ sách thượng", "Thời vụ sách hạ" và thư gửi quan đại chính phụ thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết v.v… đều phản ánh mong muốn tìm cách bảo vệ đất nước, duy tân tự cường của ông. Điều này được trình bày khá rõ bằng 5 kế sách trong những bản "Thời vụ sách" (Thời vụ sách là sách lược nhằm cứu nguy cấp thời trước mắt. Có nghĩa là tùy theo tình hình trước nắt mà nêu lên biện pháp ứng phó kịp thời để chặn sự sụp đổ có thể trông thấy. Ông chủ trương "cứu vãn sau khi sự việc xảy ra" hơn là "chần chừ khiếp sợ".

1- Dời kinh đô về Thanh Hóa, lấy chỗ địa thế hiểm yếu để giữ vững gốc nước.

Khi phân tích vị trí của Kinh thành Huế, Nguyễn Lộ Trạch cho rằng: Kinh thành Huế nằm gần bờ biển, rất dễ bị tàu Pháp uy hiếp, lại chẳng có gì để chống đỡ, chi bằng nên xây dựng một kinh đo thứ hai ở Thanh Hóa, bởi Thanh Hóa "tiến tới có chỗ hành vi, mà khứ lui giữ cũng đủ chỗ bèn vững, về binh đủ sức phòng vệ, mà phần lương thực cũng đủ tự cấp…Ba điều cần cho một quốc đô là: địa điểm, binh lực và tài lực… Ở nước ta mà địa thế gồm ba điều lợi trên, tôi (Nguyễn Lộ Trạch) ngắm được tỉnh Thanh Hóa". Với con mắt nhìn của Nguyễn Lộ Trạch, ông cho rằng Thanh Hóa có nhiều lợi thế về kinh tế, chính trị, quân sự trong thời điểm mà Phú Xuân không có. Ông dâng kế sách này lên vua nhưng không được thi hành. Do vậy, kinh đô Phú Xuân đã mau chóng thất thủ. Có thể nói đây là suy nghĩ táo bạo, sáng suốt của Nguyễn Lộ Trạch mà các nhà cải cách đương thời chưa ai nêu lên được.

2- Tích lũy gạo tiền để có đủ lương thực - Lập đồn điền ở các vùng rừng núi phía Bắc. Chọn lọc quân tinh nhuệ ở lại phòng thử các đồn lũy, số còn lại đưa đến các đồn điền trên để làm ra lương thực.

Trong tình hình thời chiến, vấn đề lương thực để nuôi quân được đặt ra hàng đầu. Nếu quân lính ốm đói thì sẽ không có tâm lực để đánh giặc. Do vậy, Nguyễn Lộ Trạch đã đề ra chủ trương đôn binh, phát triển nông nghiệp, cày cấy tự nuôi để làm giàu. Trong đó ông chú ý đến quền lợi của những người lao động. Cũng trong đề nghị này ông muốn thay đổi quan niệm "nông bản thương mạt" bảo thủ để thay vào đó chủ trương buôn bán với nước ngoài vừa làm kinh tế vừa xem xét học tập "tìm điều bổ ích cho đất nước phú cường".

3- Luyện binh thường xuyên để có đủ binh lực và mua sắm vũ khí mới.

Trong mục này Nguyễn Lộ Trạch đã bàn đến việc cải cách quân đội bằng cách trang bị lại vũ khí: "Tôi xin bỏ hết thứ súng của của ta mà đổi lấy súng mới của Tây dương, mang nhẹ mà bắn mau, đường xa chuyển chiến rất lợi". Đặc biệt hơn cả ông đề nghị thành lập quân đội hương dũng ở làng xã, cử người xuống hướng dẫn họ luyện tập nên miễn phu phen, tạp dịch, phòng đến khi quốc sự mới có thể điều động nhanh chóng và công hiệu.

4- Đưa con em tài giỏi ra nước ngoài học khoa học thực nghiệm và cơ khí phương Tây.

Nguyễn Lộ Trạch thực sự là người cầu thị. Mặc dù là một nhà nho không được trực tiếp tiếp xúc với phương Tây nhưng ông không mang tư tưởng bảo thủ, lạc hậu. Ông không những công nhận kỹ thuật của phương Tây đạt đến trình độ tinh xảo mà còn muốn mình cũng nên tìm cách để học họ. Trong "Thời vụ sách hạ" ông nói: "Ví như tàu máy, hỏa pháo của phương Tây kỹ thuật hơn hẳn xưa nay, các nước trên thế giới đều học theo, để chế tạo, lúc đầu ở Anh, Pháp, Phổ và kế đến Nhật Bản, sau cùng Trung Hoa. Thế mà mấy chục năm nay nước ta rốt cuộc không có lấy một". Quả thực đây là một sự chậm trễ rất tai hại. Với tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, nhà Nguyễn hông những không muốn học kỹ thuật của Pháp mà lại còn tỏ vẽ coi khinh. Vì học kỹ thuật chẳng qua chỉ là làm ông Nghè, ông Cống vinh thân phì gia mà vênh vang với đời. Tư tưởng này đã tạo một tâm lý phổ biến trong xã hội là ít ai muốn đi học kỹ thuật. Do vậy Nguyễn Lộ Trạch đề nghị nên có chính sách khuyến khích ưu đãi nhằm lôi cuốn những người thông minh đi học kỹ thuật. Có thể nói, học kỹ thuật của phương Tây để chế ngự kỹ thuật ưu thắng của họ là một biện pháp rất tích cực thể hiện tầm nhìn chiến lược của ông. Chỉ tiếc rằng triều đình phong kiến hủ bại đã không làm được điều đó.

5- Mở rộng ngoại giao với các nước châu Âu, nhất là nước Đức và nước Anh để nhờ ủng hộ, kiềm chế Pháp.

Nguyễn Lộ Trạch đề nghị biện pháp ngoại giao rộng rãi với các cường quốc phương Tây để nhờ họ dùng thanh thế kiềm chế thế lực của Pháp. Đây là một nhận thức nhạy bén phù hợp với những bước tiến của lịch sử. Nhu cầu ngoại giao giữa các nước là vấn đề quốc tế hàng ngày, chúng ta không được buông lơi. Nguyễn Lộ Trạch còn chỉ ra mối quan hệ quốc tế sẽ giúp ta có khả năng khai thác sự chế ngự lẫn nhau giữa các nước tư bản và sẽ tạo ra thế yên bình: "Hiện nay các nước Thái Tây lớn nhỏ giằng nhau, mạnh yếu cưỡng chế nhau cũng như cái lối hợp tung đời Chiến quốc" . Đây là cái nhìn thực sự sắc sảo, vì mở cửa giao tiếp chính là khai thông con đường canh tân đất nước để giúp ta tự lực tự cường.

Các kế sách trình bày ở trên đã thể hiện nỗi lòng trăn trở vì đất nước yên bình của Nguyễn Lộ Trạch. Ông là một con người ưu thời mẫn thế, một tri thức đầy tâm huyết, thấy được trước tai họa của dân tộc đã gắng sức tìm lối thoát bằng những điều trần gửi lên người cầm quyền nhưng cuối cùng vẫn không được dùng. Nỗi niềm đau khổ của ông thật đáng trân trọng khi chúng ta đọc đoạn trích hai câu thơ Trương Quãng Khê vịnh Giả Nghị trong lời tựa cuốn "Quỳ ưu lục"

Ngã diệc vị quân trường thái tức

"Trị an" đồ tác Hán văn chương

(Ta cũng vì ông mà than thở mãi

"Trị an" chỉ một áng văn chương).

Quá vậy, lòng tâm huyết "trị an" cho đất nước của Nguyễn Lộ Trạch không bao giờ được triều đình nhà Nguyễn thi hành mà mãi mãi nó chỉ là "áng văn chương".

Một vài nhận xét về trào lưu cải cách duy tân

Có thể thấy thành phần tham gia trào lưu cải cách duy tân đất nước nửa cuối thế kỉ XIX ở Việt Nam khá nhiều và tương đối đa dạng, liên tục xuất hiện kể từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược (1858) đến lúc toàn bộ đất nước rơi vào tay giặc (1884). Họ ở khắp các miền đất nước, kể cả ở ngay Kinh đô Huế. Họ có thể là giáo dân Thiên chúa giáo hoặc là người theo các tín ngưỡng khác. Họ có thể chỉ là một người dân có học bình thường, là Nho sĩ là người từng đỗ đạt đang làm quan hay bị cách chức của triều đình Huế. Những nội dung đề nghị cải cách của họ bao hàm tất cả các lĩnh vực: từ kinh tế, chính trị, quân sự, quốc phòng, pháp luật đến văn hóa giáo dục, khoa học kĩ thuật, thiên văn địa lý, xã hội – nhân tài...

Nhìn chung, sự xuất hiện của trào lưu canh tân đất nước ở giai đoạn này cho thấy nó không phải là sản phẩm của những yêu cầu phát triển nội tại lâu dài trước đó, mà là "phương thuốc" của một thời kì nguy cấp của lịch sử dân tộc cuối thế kỉ XIX. Nhưng đề nghị cải cách có tính chất lẻ tẻ, rời rạc, nặng về chịu ảnh hưởng bên ngoài mà thiếu cơ sở bên trong, chưa động chạm đến vấn đề cơ bản của thời đại là giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội Việt Nam bấy giờ là giữa nhân dân ta với thực dân Pháp xâm lược và giữa nông dân với địa chủ phong kiến.

Đứng trước nguy cơ mất nước, các nhà cải cách duy tân Việt Nam bấy giờ chỉ biết chộp lấy mô hình của các xã hội phát triển ở bên ngoài đem vào áp dụng ở nước ta, ít ai nghĩ rằng cần phải có những hậu thuẫn về mặt xã hội làm cơ sở vật chất bên trong thì các chương trình cải cách mới có thể thực hiện thành công được. Chính vì ra đời tìm nhu cầu cách tân vội vàng, cấp thiết để cứu vãn nền độc lập của đất nước, mà khi quốc gia mất độc lập thì trào lưu cải cách duy tân cũng chấm dứt luôn sự tồn tại của chính mình – sự thất bại đó là điều không tránh khỏi.

Tường Khanh (tổng hợp)

TLTK:

1. Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn. Đỗ Bang. NXB Thuận Hóa, 1999, 227 trang.

2. PGS.TS. Nguyễn Tiến Lực,“Fukuzama Yukichi và Nguyễn Trường Tộ: tư tưởng cải cách giáo dục”. NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2013.

3. Đinh Xuân Lâm (chủ biên), “Đại cương lịch sử Việt Nam”, tập 2, NXB Giáo dục, 2001.

4. Mai Cao Chương, Đoàn Lê Giang: Nguyễn Lộ Trạch điều trần và thơ văn, NXB KHXH, 1995. (Phần Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ Trạch)

5. https://vi.wikipedia.org

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ: