Thứ Bảy, 19/10/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

28/07/2016 04:02 129
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Phải chăng tháng 7 với triều Nguyễn là một sự trùng hợp, khi Pháp mở đầu cuộc tấn công 1/9/1885 (nhằm vào 24/7/1858 âm lịch) và trận chiến đấu cuối cùng dưới sự lãnh đạo của triều đình nhà Nguyễn cũng diễn ra vào 5/7/1885.

Như một sự trùng hợp, những mốc sự kiện đặc biệt quan trọng tác động to lớn về kinh tế, chính trị, vận mệnh dân tộc và vương triều đều diễn ra vào tháng 7. Bài viết với mục đích giới thiệu cho bạn đọc có thêm kiến thức lịch sử về một giai đoạn đầy biến động của lịch sử Việt Nam nói chung và triều Nguyễn nói riêng từ khi Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam (1858) đến khi họ kết thúc chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1914).

Chiến thuyền liên quân Pháp–Tây Ban Nha tấn công bán đảo Sơn Trà, Đã Nẵng,

ngày 01/9/1858 (Ảnh tư liệu hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia)

Trong xu thế phát triển, nước Pháp luôn tìm kiếm thuộc địa, vị trí mà họ nhắm đến là Việt Nam. Kế hoạch tấn công Việt Nam được phê duyệt từ năm 1857, tuy nhiên sau khi cùng Chính phủ Trung Hoa ký kết Hiệp ước Thiên Tân ngày 27/6/1858, Chính phủ Pháp mới bắt đầu chuẩn bị lực lượng cho cuộc xâm lược Việt Nam.

Ngày 30/8/1858 chiến hạm pháp đến đóng tại Hải Nam để hội quân cùng chiến hạm Tây Ban Nha chuẩn bị cho cuộc xâm lược. 13 chiến hạm của liên quân Pháp – Tây Ban Nha trang bị vũ khí hiện đại, trong đó có tàu chở tới 50 đại bác dàn trận ở cửa biển Đà Nẵng. Mờ sáng ngày 24/7 tức ngày 1/9/1858 dương lịch, quân Pháp ngang ngược gửi tối hậu thư đòi triều đình phải trả lời. Sau đó, chúng ngang nhiên nã đại bác, bắn phá hệ thống đồn lũy của quân đội nhà Nguyễn, vây đánh hai thành An Hải và Điện Hải, chiếm bán đảo Sơn Trà, mở đầu cuộc tấn công xâm lược nước ta. Triều đình nhà Nguyễn cũng đã tổ chức nhiều đợt tiến công vào bán đảo Sơn Trà để tiêu diệt kẻ thù nhưng không thành công.

25 năm sau (1883), cũng vào tháng 7 năm triều đình nhà Nguyễn đón nhận một sự kiện rối ren khi một tháng thay đến hai vua. Ngày 19 Tháng 7 vua Tự Đức mất, sau khi ở ngôi 36 năm. Trước khi mất (17/7) vua Tự Đức đã triệu tập các đại thần Viện cơ mật là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vào chầu để vua ký di chúc truyền ngôi cho Ưng Chân (là cháu của vua Tự Đức, do ông không có con). Trong chiếu truyền ngôi đã ghi rõ về những cá tính không hay của thái tử Ưng Chân, biết được điều này thái tử muốn xó bỏ đoạn di chiếu bất lợi đó nên đã bàn với các quan phụ chính đại thần (Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết) chỉnh sửa đoạn di chiếu bằng cách: khi đọc di chiếu thì không đọc đến đoạn đó. Các quan Phụ chính bề ngoài tỏ ra tán thành, nhưng bên trong lại quy ước với nhau rằng: Hễ không thấy tuyên đọc sẽ công khai phát giác để lấy cớ buộc tội Ưng Chân dám sửa đổi di chiếu để hạ bệ Ưng Chân vì cho rằng Thái tử Ưng Chân có tư tưởng hòa Pháp. Mọi việc diễn ra theo đúng sự sắp đặt của các quan đại thần, ngày 20/7/1883 Ưng Chân tức vua Dục Đức lên ngôi, được 3 ngày (23/7/1883) thì bị hạ bệ với lý do “bất hiếu”. Đến ngày 30/7/1883 các quan phụ chính đại thần đưa Hồng Dật, em út của vua Tự Đức lên làm vua lấy niên hiệu là Hiệp Hòa. Tuy nhiên ông ở ngôi chỉ 4 tháng thì bị quan phụ chính ép uống thuốc độc tự vẫn (sử sách thường gọi ông là Nguyễn Phế Đế), sau đó đưa Ưng Đăng lên ngôi lấy niên hiệu là Kiến Phúc. Lý do đưa ra cho việc các quan phụ chính đại thần phế truất vua Hiệp Hòa vì cho rằng ông có tư tưởng hòa Pháp.

Chiếu “Cần Vương” của Vua Hàm Nghi kêu gọi các sĩ phu kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 13/7/1885. (Hiện vật hiện đang được trưng bày tại BTLSQG)

Sau hơn 100 năm, dư âm của ngày thất thủ kinh đô 5/7/1885, nhằm ngày 23/5 âm lịch vẫn còn trong tâm trí của nhiều thế hệ con người xứ Huế, khi đến ngày này người Huế thường có lễ cúng âm hồn rất trọng thể. Đêm 4 rạng sáng ngày 5/7/1885 Tôn Thất Thuyết cùng Trần Xuân Soạn mở cuộc tấn công vào đồn Mang Cá, khu nhượng địa, khu sứ quán của thực dân Pháp ở Huế. Tuy nhiên cuộc tấn công thất bại, kinh đô Huế thất thủ, ông buộc phải đưa vua cùng Tam cung chạy khỏi kinh thành. Tiếp đó ngày 13/7 từ Sơn Phòng Quảng Trị, vua Hàm Nghi hạ chiếu cần vương. Hưởng ứng phong trào Cần Vương, trong tháng 7 nhiều sĩ phu đã quy tụ lực lượng đứng lên khởi nghĩa trong đó có những cái tên nổi bật như: Nguyễn Xuân Ôn, Phạm Bá Vành… trở thành một phong trào đấu tranh lâu dài, rộng lớn do các văn thân sĩ phu yêu nước lãnh đạo.

Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất, chính quyền Pháp đã ra nhiều sắc lệnh về kinh tế, nông nghiệp, tài chính. Song sự kiện ngày 26 tháng 7 năm 1897 vua Thành Thái ra đạo dụ: Bãi bỏ chức Kinh lược sứ Bắc kỳ, chuyển giao toàn bộ chức năng của Kinh lược sứ vào tay Thống sứ; chuyển toàn bộ số nhân viên làm ở Nha Kinh lược sang Phủ Thống sứ Bắc kỳ. Như vậy cùng với hành động trên đã tạo một bước quyết định về chính sách cai trị của thực dân Pháp đối với Bắc kỳ, từ đây vua và triều đình Huế không còn quyền hành gì ở Bắc kỳ nữa. Quyền bổ nhiệm, điều động, thăng, giáng quan lại các cấp ở Bắc kỳ đều do thống sứ Bắc kỳ quyết định. Hoàng Cao Khải là vị kinh lược sứ cuối cùng của chế độ kinh lược được gọi về Huế và cho giữ chức Phụ chính đại thần. Được biết việc thành lập Nha Kinh lược nhằm thay mặt triều đình Huế quản lý và điều hành hệ thống hành chính ở Bắc kỳ từ cấp tỉnh trở xuống (tỉnh, huyện, phủ, tổng, xã). Việc quản lý này thông qua hệ thống các văn bản hành chính của triều đình phong kiến và chính quyền thực dân. Nha có nhiệm vụ tiếp nhận, giải quyết những văn bản của Toàn quyền, Thống sứ, Công sứ, Triều đình, Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát … gửi đến và ngược lại.

Về tài chính, ngày 31 tháng 7 năm 1898 Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập một ngân hàng chung cho toàn Liên bang Đông Dương và gọi là Ngân sách Đông Dương, tiếp đó ra sắc lệnh thành lập Ngân sách Bắc kỳ, cùng ngày Tổng thống Pháp cũng ra sắc lệnh thành lập Ngân sách Trung kỳ, các khoản thu chi cũng giống như Ngân sách Bắc kỳ Sắc lệnh quy định: Kể từ ngày 1/1/1898, nguồn thu của Ngân sách Bắc kỳ là toàn bộ các khoản thu về thuế trực thu ở riêng Bắc kỳ. Còn các thứ thuế gián thu khác, độc quyền thương chính đều phải nhập vào Ngân sách Đông Dương. Với việc cho ra đời sắc lệnh này cũng đồng nghĩa với việc bãi bỏ Ngân khố của triều đình Huế. Kể từ ngày 1/1/1898 người Pháp đã trực tiếp nắm quyền thu toàn bộ các loại thuế ở Trung kỳ và cấp phát cả lương bổng cho vua quan nhà Nguyễn. Trong một thông tri ngày 24/8/1898, Khâm sứ Trung kỳ đã viết “Từ nay, trên vương quốc An Nam không còn tồn tại hai chính quyền nữa mà chỉ tồn tại một chính quyền thôi” (tức chính quyền Pháp).

Súng thần công, quân đội nhà Nguyễn dùng đánh thực dân Pháp giữa thế kỉ XIX.

(Hiện vật hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia)

Về kinh tế, ngày 16/7/1913 thực dân Pháp bắt đầu khai thác toàn bộ tuyến đường xe lửa Sài Gòn – Khánh Hòa và các chi nhánh của nó, tổng cộng dài 462km, trong đó Sài Gòn – Nhà Trang dài 408km. Tuyến đường này khởi công từ năm 1901, làm đến đâu chúng bắt đầu khai thác đến đó. Cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đến năm 1914 bị gián đoạn bởi chiến tranh thế giới thứ nhất.

Ý nghĩa của con số 7 tuy theo quan điểm tôn giáo, tín ngưỡng của từng quốc gia và vùng lãnh thổ mà có những ý nghĩa may-rủi khác nhau. Tuy nhiên đó chỉ là cách giải thích thiên về duy tâm mà chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh. Trong phạm vi bài viết với mục đích tổng hợp những sự kiện có tác động mạnh đến lịch sử dân tộc vào tháng 7 chỉ là một sự hệ thống những sự kiện lịch sử tới bạn đọc. Song những sự kiện không hay cứ đến với triều Nguyễn vào đúng các tháng 7 như một sự trùng hợp thì có thể xem đó là định mệnh không?.

Thu Nhuần (tổng hợp)

Nguồn:

- Dương Kinh Quôc, “Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858 – 1918”, nxb Giáo dục, 2006.

- Đinh Xuân Lâm, “Đại cương lịch sử Việt Nam tập 2”, nxb Giáo dục, 2001.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ: