Cập nhật: 10:11 AM GMT+7, Thứ năm, 11/01/2018
    Nguồn tin:Bảo tàng Lịch sử quốc gia
    • Font
    • In bài
    • Gửi cho bạn bè
    • Ý kiến

    Đến với Côn Đảo là đến với những trang sử hào hùng của vùng đất này thông qua các di tích lịch sử còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Hệ thống nhà tù Côn Đảo - nơi đã giam cầm và đày ải gần 2000 chiến sĩ cách mạng kiên trung. Ngày nay, Côn Đảo là một khu di tích lịch sử cách mạng - điểm đến không chỉ của người dân Việt Nam mà của cả nhiều du khách nước ngoài.


    Nhà tù Côn Đảo nằm ngoài vùng biển thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, được Thống đốc Nam kỳ Bonard ký quyết định thành lập ngày 1/2/1862, gồm hệ thống nhà tù ở Côn Đảo và các nghĩa trang thuộc hệ thống nhà tù này. Trong lịch sử, chính quyền thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã cho xây dựng 127 phòng giam, 42 xà lim và 504 phòng giam biệt lập - “chuồng cọp” tại khu vực Côn Đảo. Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất (1975), chức năng của hệ thống nhà tù ở Côn Đảo bị giải thể. Năm 1979, Khu di tích lịch sử Côn Đảo đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích quốc gia, với 17 di tích thành phần.

    1. Trại 1: Còn gọi các tên: Banh III, Lao III, trại Bác Ái, trại Phú Thọ. Trại 1 được xây dựng năm 1928, với tổng diện tích 12.700m2 trong đó diện tích phòng giam là 1.200m2. Thời Pháp gồm có 3 dãy phòng giam, trong đó có 2 dãy phòng giam tập thể và 1 dãy biệt lập, 1 khu nhà bếp, 1 khu bệnh xá. Sau Cách mạng tháng 8-1945 trại giam này được chỉnh trang lại còn 2 dãy phòng giam (từ  phòng 1-8). Thời Mỹ - Ngụy, xây thêm 2 phòng 9 và 10 phía sau bệnh xá. Đặc biệt phòng 10, Mỹ - Ngụy dùng làm khu biệt lập để bổ sung cho khu chuồng cọp nên được ngăn ra 15 khu biệt giam. Người tù bị giam ở đây đã đặt cho nó một biệt danh là: “Biệt lập chuồng gà”.

     

    Trại Phú Thọ - Nhà tù Côn Đảo.

    2. Trại 2: Còn được biết đến qua các tên Banh I, lao I, trại Cộng Hòa và sau cùng được gọi là trại Phú Hải (11/1974). Trại 2 được xây dựng năm 1862 và chỉnh trang lại kiên cố năm 1896 với tổng diện tích 12.015m2, trong đó diện tích phòng giam 2.915m2, nhà phụ thuộc 1.531m2; khoảng trống, cây xanh 7.569m2. Trại 2 bao gồm 10 phòng giam tập thể, 01 phòng giam đặc biệt, 20 xà lim (hầm đá), 01 hầm xay lúa (thời Mỹ ngụy chuyển thành bệnh xá), 01 khu đập đá. Ngoài ra còn có các công trình phụ như: Câu lạc bộ, phòng hớt tóc, nhà bếp, nhà ăn, giảng đường, nhà nguyện, phòng trật tự, nhà kho, văn phòng giám thị và sân vườn. Đây là trại giam lớn và cổ nhất ở Côn Đảo, nơi đây mang đậm dấu tích của các thời kỳ lịch sử.

     

     Cổng Banh I (Trại Phú Hải) - Nhà tù Côn Đảo.

    3. Trại 3: Còn gọi các tên: Banh II, Lao II, Trại Nhân Vị, trại Phú Sơn. Trại được xây dựng năm 1916, nằm cạnh Banh I với tổng diện tích 13.228m2 trong đó diện tích phòng giam 2.414m2, nhà phụ thuộc 854m2, khoảng trống, cây xanh 9.960m2. Banh II bao gồm 13 phòng giam tập thể, 01 khu biệt lập có 14 xà lim, 01 phòng tối. Ngoài ra còn có các công trình phụ như: Phòng y tế, nhà ăn, nhà bếp, câu lạc bộ, phòng hớt tóc, phòng trật tự, văn phòng giám thị và sân vườn.

     

    Cổng Banh II (Trại Phú Sơn) - Nhà tù Côn Đảo.

    4. Trại 4: Còn gọi Banh III phụ, Lao III phụ, trại Phu Bác Ái, trại Phú Tường. Xây dựng năm 1941 với tổng diện tích 5.804m2, trong đó diện tích phòng giam là 962m2, nhà phụ thuộc: 152m2, khoảng trống: 4.690m2. Bao gồm 08 phòng giam tập thể (chia làm 2 dãy, mỗi dãy 4 phòng); công trình phụ: nhà bếp, nhà kho, bệnh xá và sân vườn.

     

    Hệ thống phòng giam bí mật tại trại Phú Tường - Côn Đảo.

    5. Chuồng Cọp Pháp: Xây dựng năm 1940 với tổng diện tích là 5.475m2 trong đó diện tích phòng giam là 1.408m2, phòng tắm nắng: 1.873m2, khoảng trống: 2.194m2. Bao gồm: 120 phòng biệt giam (chia làm 2 khu, mỗi khu 60 phòng, bên trên có song sắt kiên cố và có hành lang ở giữa dành cho cai ngục, trật tự đi lại kiểm soát, hành hạ người tù. Ngoài ra còn có 60 phòng không có mái che được gọi là “Phòng tắm nắng” (chia làm 4 dãy, mỗi dãy 15 phòng). Phòng tắm nắng còn là nơi để dùng hành hạ, phơi nắng, phơi mưa người tù hoặc là lôi người tù ra đó để đánh đập, tra tấn.

     

    Chuồng Cọp Pháp - Nhà tù Côn Đảo.

    6. Trại 5: Còn gọi là trại Phú Phong được xây dựng năm 1962 với tổng diện tích: 3.594m2 trong đó diện tích phòng giam 1.400m2, bao gồm 12 phòng giam tập thể chia làm 3 dãy (mỗi dãy 4 phòng) và một khu nhà bếp.

     

    Trại Phú Phong - Nhà tù Côn Đảo.

    7. Trại 6: Còn gọi là trại Phú An, xây dựng năm 1968 với tổng diện tích: 42.140m2 trong đó: Diện tích phòng giam 2.556m2, nhà phụ thuộc: 696m2, nhà ở: 27m2, khoảng trống: 38.861m2. Trại bao gồm 20 phòng giam và 8 xà lim được chia làm 2 khu A và B, (mỗi khu có 10 phòng giam và 4 xà lim). Ngoài ra còn có nhà bếp, nhà ăn, nhà trật tự.

    8. Trại 7: Còn gọi là trại Phú Bình hay “Chuồng cọp kiểu Mỹ”. Trại được xây dựng năm 1971 với tổng diện tích: 25.741m2, trong đó: diện tích phòng giam 2.562m2, nhà phụ thuộc: 637m2, nhà ở: 173m2, khoảng trống: 22.369m2. Trại bao gồm: 384 phòng biệt giam chia ra làm 4 khu: AB - CD - EF- GH. Mỗi khu có 2 dãy, mỗi dãy 48 phòng, nhà kho, nhà bếp, văn phòng giám thị, bệnh xá. Quanh trại được bao bọc bởi hàng rào dây thép gai và tường bê tông.

     

    Trại giam Phú Bình (Chuồng cọp kiểu Mỹ).

    9. Trại 8: Còn gọi là trại Phú Hưng được xây dựng năm 1971 với tổng diện tích: 26.200m2. Trại bao gồm: 20 phòng giam và 8 xà lim, chia ra làm 2 khu, mỗi khu 10 phòng và 4 xà lim, cùng các công trình phụ, như nhà Giám thị, vọng gác. Bao quanh trại là hệ thống hàng rào dây thép gai.

    10. Trại 9: Khi Mỹ - ngụy đang cho đổ bê tông nền, đúc cột dựng trại, thì Hiệp định Paris ký kết nên trại này đã bị bỏ dở.

    11. Khu biệt lập Chuồng Bò: Được hình thành năm 1876 nhằm mục đích phục vụ nhu cầu nuôi bò cung cấp thực phẩm cho bộ máy cai trị tù. Nơi đây còn là cơ sở nuôi dê, ngựa, heo, gà, vịt, bồ câu; có lúc nơi đây kiêm luôn làm rẫy, đốn củi với tên gọi kép Sở Rẫy - Chuồng Bò, Sở Củi - Chuồng Bò. Ban đầu khu chuồng bò gồm 2 chuồng nhốt bò, một hầm chứa phân bò. Hầm phân bò sau 3m chia 2 ngăn có hệ thống cống dẫn ngầm từ chuồng nuôi bò sang. Bên cạnh đó còn có thêm 24 hộc chứa heo.

    Đến năm 1930, thực dân Pháp cho xây dựng thêm 9 phòng giam, sử dụng chuồng bò như một trại giam các tù nhân nữ. Ngoài ra còn sử dụng hầm phân bò này để ngâm người tù như một biện pháp tra tấn hành hạ.

    Sang thời Việt Nam Cộng hòa, khu chuồng bò, còn được gọi là trại An Ninh Chuồng Bò, trực thuộc Trại 4, vẫn với công năng như trước. Năm 1963, Chuồng Bò được gấp rút sửa chữa, cải tạo các 24 hộc chứa heo và xây dựng lại thành 3 khu nhà biệt giam A, B, C với 33 phòng biệt giam. Từ năm 1973, Chuồng Bò là văn phòng của tiểu Ban điều tra khai thác thuộc Ban chuyên môn với tổng diện tích: 4.110mtrong đó: diện tích phòng giam: 547m2, chuồng trại: 270m2, khoảng trống: 3.293m2.

     

    Khu biệt lập Chuồng Bò - Nhà tù Côn Đảo.

    12. Các Sở tù

    Dựa theo các tài liệu, tính đến khoảng 1930 có ít nhất 18 sở tù đã đi vào hoạt động, đó là: Sở Lưới, Sở Ruộng, Sở Làm Đá, Sở Kéo Cây, Sở Chuồng Bò, Sở Lò Gạch, Sở Lò Vôi, Sở Muối, Sở Bãn Chế, Sở Tiêu, Sở Rẫy An Hải, Sở Cỏ Ống, Sở Hòa Ni, Sở Bông Hồng (sở Bông Hường), Sở Rẫy Ông Lớn, Sở Ông Đụng, Sở Vệ Sinh, Sở Đất Dốc. 

     

    Di tích Sở Lò Vôi.

    Các sở này lần lượt xuất hiện trước sau không đồng loạt, nhằm 2 mục đích: Phục vụ toàn diện các mặt đời sống cho bộ máy hành chánh của địch và cho đời sống của người tù trên đảo; Cải tạo người tù bằng lao động khổ sai.

    13. Khu nhà Chúa đảo

    Tổng diện tích 18.600m2 trong đó nhà chính và phụ 1.250m2, sân vườn 17.000m2. Đây là nơi ở và làm việc của 53 đời chúa đảo trải qua 113 năm (1862-1975). Từ sau ngày giải phóng đến nay, nhà Chúa đảo được dùng làm nơi trưng bày lưu niệm của khu di tích Côn Đảo.

     

    Nhà chúa Đảo sau ngày giải phóng.

    14. Cầu Ma Thiên Lãnh

    Cầu Ma Thiên Lãnh nằm trên một đỉnh núi phía Tây thị trấn Côn Đảo. Đi qua Khu vườn quốc gia khoảng 3km tới một con đường nhỏ, cây cối hai bên mọc um tùm, leo hết con dốc thì tới di tích cầu Ma Thiên Lãnh. Cầu do người Pháp bắt các tù nhân xây dựng trên núi cao để vượt sang phía bên kia núi.

    Cầu Ma Thiên Lãnh xây dựng năm 1930. Thực dân Pháp mở con đường từ ngã ba Núi Chúa qua Bãi Ông Đụng nhằm khai thác cây gỗ, đá phục vụ công việc xây dựng trại giam, các công sở… và lập nên những trạm kiểm soát đề phòng tù nhân vượt ngục.

     

     Di tích cầu Ma Thiên Lãnh.

    Tù nhân làm khổ sai ở đây, do địa thế cheo leo him trở, ăn uống thiếu thốn đói khát, nước suối lại rất độc, bị đá đè cây đổ, lao dịch nặng nhọc quá sức, cai ngục trật tự đánh đập, hối thúc, người tù bị chết hại đến 356 người mà cầu chỉ mới xây xong 2 mố cầu, mỗi mố cao khoảng 8m. Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, công trình này bỏ dở dang. Cái tên Ma Thiên Lãnh để gọi cho 2 mố cầu xây dang dở bằng máu xương của hàng trăm tù nhân. Từ đó người tù mới lấy tên ngọn núi Ma Thiên Lãnh ở Triều Tiên với địa thế hiểm ác, khó lên xuống, phỏng theo truyện Tàu “Tiết Nhân Quý Chinh Đông” đặt tên cho cây cầu này.

    15. Cầu tàu 914 lịch s

     

    Cầu tàu 914 - Côn Đảo.

    Cầu tàu nằm tại trung tâm bãi biển chính của thị trấn Côn Đảo. Cầu tàu được khởi công xây dựng từ năm 1873, với phác thảo dài 107m, bắt đầu từ mép lộ trước cổng Dinh Chúa đảo vươn ra vịnh Côn Sơn. Qua nhiều thời kỳ sửa chữa và mở rộng kéo dài hàng chục năm, ngày nay cầu tàu 914 dài hơn 300m, chiều rộng gần 5m, ở cuối cầu tàu có đoạn rộng gần 8m. Đây cũng là nơi chứng kiến nỗi cực nhục đầu tiên của những người bị đưa ra đảo tù đày, nhiều người chỉ qua cầu một lần rồi vĩnh viễn yên nghĩ tại Côn Đảo. Nhưng cầu tàu cũng là chứng kiến những giờ phút vinh quang xúc động mỗi dịp đảo được giải phóng. Con số 914 được đặt tên cho cầu là do người tù nhẩm tính số người tù ngã xuống vì núi lở, đá đè, kiệt sức, chết vì đòn roi khi chuyển đá, khi làm cầu tàu và kè đá dọc con đường ven biển. Có nhiều tài liệu nêu danh cầu tàu có số khác nhau: 871, 917 nhưng được nhiều người biết phổ biến nhất với danh số 914.

    16. Công quán

    Nhà Công quán là ngôi nhà khách do Pháp xây dựng từ cuối thế kỉ 19 nằm trong quần thể của dinh thự Chúa đảo. Diện tích 150 m2. Sang thời Mỹ ngụy, gọi là nhà Công quán hay Câu lạc bộ, cũng là nơi dừng chân của các lữ khách khi đến đây thi hành công vụ.

    Hiện nay ngôi nhà này được trùng tu trong quần thể của dinh Chúa đảo. Có lẽ đây cũng là dấu ấn văn minh nhất của nước Pháp còn lưu lại tại hòn đảo ngục tù ngày ấy.

     

    Nhà Công quán.

    17. Nghĩa trang Hàng Dương

    Đây là nghĩa trang lớn nhất tại Côn Đảo, có diện tích khoảng 20 ha, là nơi yên nghỉ của hàng vạn chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước Việt Nam qua nhiều thế hệ bị tù đày kéo dài 113 năm (từ 1862 đến 1975). Nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo là một di tích có giá trị tố cáo chế độ thực dân, đế quốc đồng thời giáo dục truyền thống cho các thế hệ. 

     

    Phần mộ các chiến sĩ tại nghĩa trang Hàng Dương.

    Nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo được khởi công xây dựng và tôn tạo ngày 19/12/1992 chia làm 4 khu:

    Khu A: Gồm 688 ngôi mộ (có 7 mộ tập thể) trong đó 91 mộ có tên và 597 mộ khuyết danh. Đa số là các phần mộ từ năm 1945 về trước. Nơi đây có ngôi mộ của liệt sĩ cách mạng Lê Hồng Phong và nhà yêu nước Nguyễn An Ninh.

    Khu B: Gồm 695 ngôi mộ (có 17 mộ tập thể) trong đó 276 mộ có tên và 419 mộ khuyết danh. Đa số là các phần mộ từ năm 1945 đến 1960. Nơi đây có mộ của nữ anh hùng Võ Thị Sáu và anh hùng Cao Văn Ngọc.

    Khu C: Gồm 373 ngôi mộ (có 1 mộ tập thể) trong đó 332 mộ có tên và 41 mộ khuyết danh. Đa số là các phần mộ từ năm 1960 đến 1975. Nơi đây có ngôi mộ của anh hùng Lê Văn Việt.

    Khu D: Gồm 157 ngôi mộ, trong đó 14 mộ có tên và 143 mộ khuyết danh. Đặc biệt Khu D là khu mộ qui tập những nấm mộ từ Hòn Cau và Hàng Keo về.

    Là một di tích đặc biệt, hệ thống nhà tù Côn Đảo là nơi tập trung nhất hệ thống cai trị tù khét tiếng của Pháp và Mỹ, điển hình về chế độ áp bức, giam cầm, hành hạ và tàn sát các chiến sỹ cách mạng, tù nhân lao động khổ sai đến kiệt sức; là nơi mà kẻ thù hung bạo phải run sợ trước khí phách, khí tiết cách mạng và niềm lạc quan của người tù yêu nước.

    Nhà tù Côn Đảo cũng là “Trường học Cộng sản” rèn luyện phẩm chất, ý chí của các chiến sĩ Cộng sản trên trận tuyến nhà tù, đồng thời là nơi giáo dục truyền thống đấu tranh anh dũng, lòng yêu nước, tinh thần bất khuất của các thế hệ hoạt động cách mạng tiền bối cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

    Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của di tích, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử Nhà tù Côn Đảo là Di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 548/QĐ-TTg, ngày 10/5/2012).

    Lê Khiêm  (tổng hợp)



    Nguồn:

    Nhiều tác giả, “Nhà tù Côn Đảo”, Các di tích lịch sử - văn hóa - tín ngưỡng nổi tiếng ở Việt Nam, H. Lao động, tr 181-185.

     



    Nguồn tin:Bảo tàng Lịch sử quốc gia
    • Font
    • In bài
    • Gửi cho bạn bè
    • Ý kiến

    Đặc sắc hoa văn trên Bảo vật Quốc gia

    Cổ vật Việt Nam

    Sưu tập Báo chí cách mạng VN (1925-1945)

    • Di sản văn hóa Phật giáo
    • Đèn cổ Việt Nam
    • Khu vực:

    Liên kết Website

    Thống kê truy cập

    • Trực tuyến: 341
      Thành viên online:
      0
      Số lượt truy cập: 37726188