Cập nhật: 2:18 AM GMT+7, Thứ hai, 17/07/2017
    Nguồn tin:Bảo tàng Lịch sử quốc gia
    • Font
    • In bài
    • Gửi cho bạn bè
    • Ý kiến

    Từ ngày về công tác ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia), khi được giao nhiệm vụ làm công tác trưng bày và thuyết minh, tôi đã được đọc, nghe rất nhiều về gốm Việt Nam qua các thế hệ thuyết minh viên lớp trước và những chuyên gia, từ các chuyên đề chuyên sâu về gốm sứ...


    Thế rồi, trong quá trình tác nghiệp, tôi lại tiếp tục được trao đổi, nghiên cứu nhiều hơn và một trong những điều ấn tượng đó là quá trình xuất hiện, phát triển và vai trò quan trọng của đồ gốm đối với đời sống con người trong các thời kỳ lịch sử, trong cộng đồng cư dân các dân tộc ra sao? các dòng gốm Việt Nam hình thành, phát triển thế nào? trong đó có sự đánh giá của các nhà nghiên cứu gốm và mỹ thuật Việt Nam, tôn vinh gốm hoa nâu như một yếu tố đặc trưng riêng biệt của gốm Việt Nam, với những giá trị độc đáo, đã làm tôi suy tư rất nhiều và luôn mong mỏi đi tìm, đi hỏi cho ra cái gọi là “hồn Việt” của nó. Và những hiện vật, những thông tin cứ ngấm vào trong tôi lúc nào không rõ. Tôi chỉ thấy một cảm giác thích thú rồi đeo đuổi đi tìm. Nhưng trong một thời gian dài, tôi cũng chỉ biết miệt mài học hỏi để làm việc sao cho tốt và những gì mình quan tâm, thấy được, học được, tôi truyền lại cho công chúng, cùng chia sẻ với đồng nghiệp. Rồi đến một ngày đầu tháng 11/2016, khi thực hiện một chương trình phỏng vấn các chuyên gia để giới thiệu 18 bảo vật quốc gia mà Bảo tàng Lịch sử quốc gia đang lưu giữ và chuẩn bị cho một cuộc trưng bày đặc biệt, lần đầu tiên hội tụ đầy đủ của 18 bảo vật này. Trong suốt hơn 1 tuần, tôi vừa làm vai trò của một người chủ trì nội dung, vừa làm một khán thính giả, vừa làm một công chúng bảo tàng được nghe 10 chuyên gia đầu ngành đánh giá, cập nhật thông tin về các Bảo vật quốc gia. Trong một lượng kiến thức đồ sộ mà các chuyên gia cả đời tích lũy như là một kho báu để lại cho tôi, những người làm nghề và cho công chúng. Rất nhiều thông tin thu hút tôi, chúng giá trị vô cùng mà không phải ai hay lúc nào cũng có thể có được. Trong đó, thông tin đánh giá về thạp Đào Thịnh của hai chuyên gia, TS. Nguyễn Việt và TS. Phạm Quốc Quân đã chạm đúng vào điều tôi đang nung nấu bao lâu nay, sau khi phân tích, so sánh trống đồng với thạp đồng, TS. Nguyễn Việt có đưa ra quan điểm với một câu rất ngắn gọn "…khi nói về biểu trưng của văn hóa Đông Sơn, chúng tôi có khuynh hướng lấy thạp đồng làm biểu trưng hơn là trống đồng..." và hình như tôi đã bắt được cái hồn của câu nói đó. TS. Quân cũng có cùng quan điểm: “… Có thể nói, trong thời đại đồng - sắt sớm ở Đông Nam Á lục địa và hải đảo, thạp đồng dường như là sản phẩm duy nhất của văn hóa Đông Sơn”, “Nếu như văn hóa Trung nguyên của Trung Hoa là văn hóa của Đỉnh-Lư thì văn hóa Đông Sơn của Việt Nam là văn hóa của trống đồng và thạp đồng”. Thoáng thấy thì có vẻ như chẳng có gì liên quan đến gốm hoa nâu thời Trần cả nhưng trong đầu tôi, từ lúc đó, cứ miên man nghĩ về nó, về hoa văn Đông Sơn trên cạp váy Mường của GS. Từ Chi mà khi học Thạc sĩ (năm 1999), tôi đã rất ấn tượng qua bài giảng của GS. Trần Quốc Vượng với đầy tâm huyết và trân trọng, rồi tôi lại nghĩ nhiều tới mối liên hệ văn hóa Đông Sơn với Lý, Trần, người Việt - Mường, hình dáng đồ gốm - đồ đồng... Và tôi nghĩ đến mạch ngầm văn hóa dân tộc, một yếu tố quan trọng để “người Việt Nam vẫn là người Việt Nam”, đó là “bản sắc” mà chúng ta chỉ cảm nhận được chứ không dễ gì nhận diện. Vậy thì những chiếc thạp Đông Sơn với thạp gốm hoa nâu thời Trần, văn hóa thời Trần có gì liên quan đến nhau và đó có phải là mạch ngầm Đông Sơn, mạch ngầm văn hóa Việt trỗi dậy (hay phục hưng) ở thời Lý, Trần?

    Thế rồi, tôi bắt đầu làm phép so sánh và đặt ra một số vấn đề về mối liên hệ giữa thạp Đông Sơn, văn hóa Đông Sơn với thạp gốm hoa nâu thời Trần, văn hóa thời Trần:

    Trước tiên là về tên gọi và chức năng: Thứ nhất, thạp đồng Đông Sơn là loại hình thường được sử dụng làm đồ đựng: theo TS. Phạm Quốc Quân khi đánh giá về thạp đồng Đào Thịnh thì cho rằng, chức năng của thạp là để chứa đựng lương thực, hạt giống, đây cũng là quan điểm của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu. TS. Nguyễn Việt cũng bổ sung, chúng có thể dùng để đựng rượu, hoặc nước và TS. Việt có mở rộng thêm thông tin như là loại thạp phổ biến là loại 5 lít (qua một số minh văn khắc trên thạp cho thấy thạp để chứa rượu uống trong buổi lễ), loại thạp 40 lít (là loại thạp phổ biến của các thủ lĩnh, quý tộc), loại thạp 60 - 80 lít (có khoảng 6 chiếc), song loại thạp lớn nhất là 240 lít thì chỉ có duy nhất là thạp Đào Thịnh. Thứ hai, thạp còn là một dạng quan tài (mộ thạp) khi những phát hiện thạp đồng, trong đó có nhiều thạp đựng tro hoặc xương người chết cùng những đồ tùy táng nhiều ít khác nhau hoặc thạp được chôn theo làm đồ tùy táng. Với những chức năng cơ bản ấy thì thạp gốm hoa nâu cũng tương tự, đặc biệt phổ biến ở người Mường vùng Hoà Bình, Thanh Hoá là những nơi phát hiện nhiều thạp mang chức năng là đồ tùy táng. Với những gì tiếp thu được, tuy còn ít ỏi, nhưng tôi cũng liên tưởng ngay đến hiện tượng, sự logic của hoa văn trên cạp váy Mường, về mối quan hệ cội nguồn Việt-Mường. Có phải chăng, khi người Việt tiếp nhận mạnh mẽ văn hoá ngoại sinh thì người Mường lại lưu giữ và duy trì những truyền thống dân tộc ấy? Theo PGS.TS. Bùi Xuân Đính thì phong tục, trong đó quan trọng nhất là tang ma là yếu tố minh chứng rõ nhất về việc bảo tồn văn hóa cội nguồn.

    Thạp đồng Đào Thịnh (có nắp và có tai/quai) trang trí mặt trời, các cặp tượng người (trên nắp thạp), hoa văn hình học, thuyền chiến với hình người hóa trang, cầm vũ khí, chim bay phía trên thuyền, văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.000-2.500 năm.

    Thạp gốm hoa nâu (có nắp và có tai) trang trí băng cánh sen, đường tròn chấm giữa, hoa cúc dây, hình người chèo thuyền, người cầm vũ khí đứng trên thuyền, chim cách điệu hình lá cúc bay phía trên thuyền, thời Trần, thế kỷ 13-14.

    Về nhận diện hình dáng: trong lịch sử, hình dáng của đồ gốm với đồ đồng thường được làm trên cơ sở cái này phỏng theo/tương tự hình dáng cái kia. Theo TS. Phạm Quốc Quân khi đánh giá về thạp đồng Đông Sơn đã nhận định: thạp đồng Đông Sơn gồm 3 loại: ngoài 2 loại thông thường là loại hình quả nhót (thường có nắp như: Thạp Đào Thịnh, Hợp Minh), loại hình xô (có quai hình chữ U) thì thạp đồng Đông Sơn còn có một loại nữa là loại có chân trổ thủng (thông phong, là loại rất hiếm mà Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã sưu tầm được một hiện vật) và thạp nữa hiện đang lưu giữ tại nhà sưu tập quá cố Nguyễn Đình Sử. Về cơ bản, loại thạp có dáng xô rất phổ biến; còn loại thạp hình quả nhót, có dáng cao, miệng rộng, vai xuôi thuôn dần xuống đáy thì chỉ phát hiện được ở vùng sông Thao, Yên Bái. Đây là những loại thạp có ảnh hưởng nhiều đến thạp gốm thời Lý - Trần về hình dáng.

    Đặc biệt là loại thạp gốm hoa nâu có chân đế cao (nhất là loại có chân đế trổ thủng) đã gợi lên hình ảnh chiếc thạp có chân đế trổ thủng đồng Đông Sơn mà TS. Phạm Quốc Quân cho rằng, nó chính là một dạng thạp. Theo logic này thì kiến giải của TS. Quân không phải là không có lý mà còn khá thuyết phục. Và như thế thì đó cũng là một dạng thạp Đông Sơn còn được bảo tồn, phát triển ở thời Lý - Trần.

    Về đề tài, hoa văn trang trí: Trang trí trên thạp đồng Đông Sơn rất phong phú, đa dạng với các mô típ phổ biến là mặt trời ở giữa nắp thạp xen kẽ họa tiết lông công (loại thạp có nắp), trên nắp một số thạp còn trang trí tượng người hay động vật (cặp nam nữ giao phối ở Thạp Đào Thịnh, tượng bồ nông ở thạp Hợp Minh…) hoa văn răng cưa, vòng tròn tiếp tuyến, hồi văn gấp khúc, phần chính giữa thân thạp (giữa các băng hoa văn hình học) là các mô típ hoa văn hình người (múa hóa trang, chiến binh), hình thuyền…

    Thạp đồng (có quai/tai) trang trí băng hoa văn hình học, thân chia ô trang trí hình người múa hóa trang, văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.000-2.500 năm.

    Mảnh thạp gốm hoa nâu có tai, trang trí băng hoa nhỏ, thân chia ô trang trí hình người (võ sĩ), động vật..., thời Trần, thế kỷ 13-14.

    Cách bố trí các băng hoa văn trên thạp đồng Đông Sơn cơ bản được thừa kế trong cách trang trí trên thạp gốm hoa nâu. Chính giữa nắp thạp gốm là núm cầm hình búp sen, xung quanh là băng cánh sen; thành miệng và gần chân thạp trang trí nổi băng cánh sen kép hoặc băng hoa dây; phần chính giữa thân thạp là băng hoa văn chủ đạo với các đề tài phổ biến là sen, cúc, người, động vật… Bên cạnh một số đề tài trang trí mang đặc trưng nghệ thuật Lý - Trần như: sen, cúc thì trên thạp gốm cũng còn bảo tồn và thể hiện đậm nét văn hóa, nghệ thuật Đông Sơn mặc dù đã được cách điệu hoặc thể hiện dưới dạng thức khác nhưng vẫn mang lại cho chúng ta những cảm nhận hồn cốt của văn hóa, nghệ thuật Đông Sơn như: trang trí tai gốm (tương tự với quai/tai thạp đồng, mặc dù chỉ là trang trí chứ không có công dụng như thạp đồng), các mô típ băng chấm tròn, đường tròn đồng tâm, hình võ sĩ (tương tự hình võ sĩ Đông Sơn), động vật, chim muông… được thể hiện rất sinh động như nó đang diễn ra vậy; hoặc cách chia ô trang trí hoa văn, nhất là hình người chèo thuyền, ở phía trên có hình chim bay... mà theo TS. Nguyễn Việt: “Hoa văn trên thân thạp Đào Thịnh đáng chú ý nhất là 8 chiếc thuyền, thể hiện thành 4 cặp thuyền dính với nhau bởi hình hai con cá sấu đấu chân đối nhau. Trên thuyền phía trước là tốp người ở trần không trang điểm làm nhiệm vụ chèo thuyền, trong khi những chiến binh ở thuyền sau thì đầu đội mũ lông chim, đóng khố tua dài, một tay cầm rìu hoặc giáo, tay kia cầm khiên tư thế oai phong, dũng mãnh. Xung quanh thuyền, phía trên là chim bay rợp trời, phía dưới là cá và các loại chim, thú săn bắt cá. Đó là diễn cảnh của một lễ hội khải hoàn. Cảnh tượng khải hoàn được nghệ nhân thể hiện thật là hoành tráng”. Đây cũng là một trong những nét đặc trưng “nghệ thuật diễn tả đời sống” trong trang trí đồ đồng Đông Sơn. TS. Nguyễn Đình Chiến còn chỉ rõ những yếu tố/chi tiết thể hiện cụ thể: “… đặc biệt là vòng tròn nhỏ, vạch đứng song song - những hồi âm Đông Sơn. Gốm thời Lý - Trần không chỉ đạt được tính thẩm mỹ cao mà còn khẳng định một tinh thần phục hưng các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Chẳng hạn, các mô-típ Đông Sơn quen thuộc như chữ S, chấm dải, vạch đứng song song, hình chim với bố cục ngược chiều kim đồng hồ... lại thấy tái hiện sau cả ngàn năm Bắc thuộc”.

    Thạp hình xô, quai hình chữ U, văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.000-2.500 năm.

    Mộ thạp gốm hoa nâu (bản phục chế trưng bày tại BTLSQG), thời Trần, thế kỷ 13-14.

    Đặc biệt là trang trí trên mảnh thạp hoa nâu (hiện trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia) với hình 2 võ sĩ cầm vũ khí, khiên đấu nhau (luyện võ?) trên đùi võ sĩ xăm hình rồng đã gợi lại cho chúng ta tục xăm mình thời Hùng Vương mà dưới thời Trần còn được khôi phục. Trong Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: vào năm Kỷ Hợi, đời vua Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long năm thứ 7 (1299), “…Tháng 8, Thượng hoàng từ phủ Thiên Trường lại xuất gia vào núi Yên Tử tu khổ hạnh. Thượng hoàng có lần ngự cung Trùng Quang, vua đến chầu, quốc công Quốc Tuấn đi theo. Thượng hoàng nói: Nhà ta vốn là người hạ lưu (thủy tổ người Hiền Khánh), đời đời chuộng dũng cảm, thường xăm hình rồng vào đùi. Nếp nhà theo nghề võ, nên xăm rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc… Quốc phụ có xăm hình rồng ở đùi, mà về sau vua nối ngôi không xăm ở đùi nữa là bắt đầu từ Anh Tông. Lại hồi quốc sơ, quân sĩ đều xăm hình rồng ở bụng, ở lưng và hai bắp đùi, gọi là “thái long” (rồng hoa). Vì khách buôn người Tống thấy dân Việt ta xăm hình rồng trên người, cho rằng thuồng luồng biển sợ hình rồng, lỡ gặp gió bão thuyền đắm, thuồng luồng không dám phạm tới, cho nên gọi là “thái long”…”.

    Thạp có chân trổ thủng (thống phong) Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.000-2.500 năm.

    Thạp gốm hoa nâu có phần chân đế trổ thủng (Hiện vật sưu tập tư nhân), thời Trần, thế kỷ 13-14.

    Khi nghiên cứu, chắc chắn sẽ còn nhiều điều nữa nhưng với chừng đó những thể hiện thôi cũng giúp tôi cảm nhận được phần nào “hồn Việt” của gốm hoa nâu dưới góc độ tiếp cận theo dòng chảy lịch sử và cũng đã phần nào cho tôi hiểu rằng, tại sao một số nhà nghiên cứu lại nhận định rằng, văn hóa Lý - Trần là phục hưng văn hóa Việt. Rồi đến thời Mạc, Lê Trung Hưng (thế kỷ 16 - 18), mạch ngầm văn hóa Việt lại được phát triển đậm nét với dòng văn hóa dân gian. Và tất yếu, mạch ngầm (cội nguồn) văn hóa ấy đã, đang và sẽ tiếp tục được kế thừa phát triển, tạo nên bản sắc, động lực cho văn hóa Việt Nam phát triển bền vững.

    Ths. Nguyễn Thị Thu Hoan

    Tài liệu tham khảo:

    1.Viện Khoa học xã hội Việt Nam Đại Việt sử ký toàn thư, tập II (dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697). NXB Khoa học xã hội, 1993.

    2.Cục Bảo tồn Bảo tàng - Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Cổ vật Việt Nam… Công ty in Trần Phú, 2003.

    3.Phạm Quốc Quân. Thạp đồng - Loại hình bản sắc của Văn hóa Đông Sơn. Thế giới Di sản, Hội Di sản văn hóa Việt Nam.

    4.Nguyễn Việt. Yên Bái - Quê hương của những thạp đồng Đông Sơn lớn nhất và đẹp nhất. Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á (Hiệp hội Nghiên cứu Đông Nam Á Việt Nam).

    5.Nguyễn Đình Chiến. Gốm hoa nâu thời Lý - Trần. Tạp chí Mỹ thuật - Nhiếp nh, số tháng 8/2014.

    6.Tài liệu phỏng vấn chuyên gia đánh giá Bảo vật quốc gia lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia phục vụ trưng bày chuyên đề “Bảo vật quốc gia Việt Nam”, năm 2016-2017.



    Nguồn tin:Bảo tàng Lịch sử quốc gia
    • Font
    • In bài
    • Gửi cho bạn bè
    • Ý kiến

    Đặc sắc hoa văn trên Bảo vật Quốc gia

    Cổ vật Việt Nam

    Sưu tập Báo chí cách mạng VN (1925-1945)

    • Di sản văn hóa Phật giáo
    • Đèn cổ Việt Nam
    • Khu vực:

    Liên kết Website

    Thống kê truy cập

    • Trực tuyến: 746
      Thành viên online:
      0
      Số lượt truy cập: 34235262