Cập nhật: 11:46 PM GMT+7, Chủ nhật, 09/07/2017
    Nguồn tin:Bảo tàng Lịch sử quốc gia
    • Font
    • In bài
    • Gửi cho bạn bè
    • Ý kiến

    Cuối thế kỷ XVII bước sang đầu thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng toàn diện và sâu sắc. Đất nước bị nội chiến chia cắt, đời sống nhân dân (chủ yếu là nông dân) vô cùng cực khổ. Phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ liên tiếp, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Cuộc khởi nghĩa nổ ra năm 1771 và nhanh chóng phát triển mạnh mẽ, tiến tới đánh tan các thế lực phong kiến cát cứ, đưa đất nước vào ổn định.


    Thành tựu lớn nhất của khởi nghĩa nông dân Tây Sơn chính là đã dẹp yên được thù trong, đánh thắng giặc ngoài và thống nhất đất nước. Con người tiêu biểu của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đồng thời là người tổ chức và lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Xiêm (1784) và quân Thanh (1789), lập nên những chiến công oanh liệt Rạch Gầm - Xoài Mút ở Miền Nam, Đống Đa - Thăng Long ở miền Bắc đó là anh hùng dân tộc kiệt xuất Nguyễn Huệ.

    Sau chiến thắng quân xâm lược, thống nhất đất nước, nhiều chủ trương, cải cách lớn được Nguyễn Huệ hoạch định nhằm phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá và quân sự, củng cố nền độc lập, thống nhất đất nước, chuẩn bị thực lực chống lại sự nhòm ngó và xâm lược của các thế lực thực dân phương Tây.

    Cho đến nay di sản văn hoá vật chất thời Tây Sơn còn lại lẻ tẻ nhưng đã được các nhà nghiên cứu sử học và bảo tàng tập hợp, công bố ở nhiều nơi. Các cổ vật có thể được giới thiệu theo các chất liệu như sau:

    Chất liệu gốm:

    Ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam còn lưu giữ và trưng bày 2 chiếc bát gốm men rạn vẽ lam, Đkm: 20,5cm, cao: 8cm. Hai bát có cùng kiểu dáng trang trí, men vẽ, men phủ và kích thước tương tự nhau. Bát có miệng loe, thành cong, đế thấp và rộng. Thành ngoài một phía vẽ khóm trúc men lam, còn phía khác viết 2 dòng chữ Hán. Minh văn viết 4 dòng chữ Hán: Vị xuất địa đầu tiên hữu tiết; Quang Trung niên tạo. Nghĩa là: Cái măng tre chưa nhô khỏi mặt đất mà đốt dóng [tiết] của nó đã sớm ra trước. Chế tạo trong niên hiệu Quang Trung 1788-1792.

    Bát, men rạn ngà và xanh cobalt, niên hiệu Quang Trung (1788 – 1792).

    Chất liệu gỗ:

    Theo tài liệu công bố của Trần Văn Giáp và Nguyễn Duy Hinh đăng trên Tạp chí Khảo cổ học, tháng 6-1970. Trong bài đó giới thiệu một bài văn đời Tây Sơn khắc trên biển gỗ ở Miếu thờ Thần Núi Đồng cổ (Thanh Hoá) nói về trống đồng. Đó là một tấm biển gỗ hình chữ nhật 860 x 400mm. Nội dung bài ký khắc trên biển gỗ nói về việc thờ Thần Núi Đồng cổ. Vâng mệnh vua cha, con trai của Quang Trung là Tuyên Công (em vua Cảnh Thịnh) ra làm Đốc trấn nơi này từ năm 1790-1802. Ông đã nhiều lần kéo quân qua đền và nghỉ lại. Nhân phát hiện chiếc trống đồng cổ, ông cho là điềm lành, đem trống đồng cung tiến  vào miếu. Cuối bài ký ghi rõ vào niên hiệu Bảo Hưng năm thứ 2, 1802.

    Chất liệu đá:

    Theo bài giới thiệu của Nguyễn Duy Hinh và Nguyễn Duy Chiếm đăng trên Tạp chí Khảo cổ học, tháng 6-1970. Về một tấm bia đá thời Tây Sơn ở Đền Lũng vùng Dâu tỉnh Bắc Ninh. Bia cao 140cm, ngang rộng 57cm, phần chân rộng 63cm. Mặt trước bia khắc chiếu chỉ của vua Quang Trung năm thứ 2 (1789). Mặt sau khắc bài văn ca tụng công đức của nhà Tây Sơn của dân làng Lũng năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797). Cả 2 mặt bia đều khắc chữ Hán theo lối khải, chân phương nét khắc rõ ràng. Đây là tài liệu bia ký rất hiếm, nói về việc miễn trừ các loại sưu dịch dưới đời vua Quang Trung và sự vui mừng của nhân dân với chính sách của nhà Tây Sơn.

    Thư viện Khoa học xã hội còn lưu giữ 46 thác bản bia ký của thời Tây Sơn. Đó là những bia ở các Văn Chỉ có quan hệ đến vấn đề về văn học thời Tây Sơn thuộc các địa phương Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương... Nơi nhiều nhất là tỉnh Hải Dương với 27 bản. Đặc biệt ngoài các bia có niên hiệu Quang Trung, Cảnh Thịnh như trên còn có tấm bia mang niên hiệu Bảo Hưng ở Lăng Sĩ Nhiếp xã Tam Á, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Bia dựng vào năm Bảo Hưng thứ nhất, khi Nguyễn Ánh đã chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Quang Toản đã phải chạy ra Thăng Long. Nội dung bia này có nhiều điều bổ ích giúp cho việc nghiên cứu tìm hiểu thời Tây Sơn.

    Chất liệu đồng:

    Các cổ vật chất liệu đồng thời Tây Sơn còn lại khá nhiều bao gồm các loại hình: chuông, trống, tiền đồng, ấn triện…

    Chuông: Theo tài liệu của TS. Nguyễn Thị Minh Lý, đến năm 1996 đã thống kê được 181 quả chuông thời Tây Sơn phân bố ở các tỉnh Thừa Thiên Huế, Thanh Hoá, Nam Định, Thái Bình, Hà Nội, Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng… Đặc biệt, Hà Tây (cũ) và Hà Nội là những nơi có mật độ chuông thời Tây Sơn đậm đặc nhất. Quai chuông thời Tây Sơn có độ rộng và cao ngang nhau. Tỉ lệ chiều cao quai và toàn thể thường là 1/3,5. Về kích thước chuông thời Tây Sơn có loại “Đại hồng chung” nhằm khi đánh cho tiếng vang to. Phần lớn chuông cao trên 1,2m. Nhiều quả chuông cao từ 130-140cm. Quả chuông chùa Thầy - Hà Tây (cũ) cao tới 174cm, đkm 93cm. Hầu hết chuông Tây Sơn có 4 núm hoặc 6 núm xếp thành hai hàng. Các núm đều có dáng bông cúc hay hình mặt trời hoặc hình mặt hổ phù. Tên chuông phần lớn là 4 chữ đại tự đúc nổi trong khung hình lá đề, hình chữ nhật, hình vuông chém góc hoặc hình tròn. Ở chùa Hà (Cầu Giấy, Hà Nội) hiện còn quả chuông thời Tây Sơn rất đẹp. Chuông có quai hai rồng, trang trí bộ tứ linh, minh văn do một ông đồ chức Xã giáo soạn, thể hiện rõ chính sách khuyến học của vua Quang Trung.

    Chuông thời Tây Sơn được đúc bằng ngân quỹ của thập phương công đức, nhất là của người địa phương, song không ít quả chuông được sự tham gia đóng góp của các Đô đốc Tây Sơn có nguyên quán ở Đàng trong nhưng đang trị nhậm trên đất Bắc Hà.

    Trống đồng: Hiện nay chỉ có một chiếc trống đồng duy nhất có niên hiệu Cảnh Thịnh thời Tây Sơn. Trống hiện lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam, đkm 54,3cm, cao 37,4cm, nặng khoảng 32kg.

    Trống Cảnh Thịnh (1800) – Bảo vật Quốc gia.

    Trống được đúc mô phỏng theo kiểu trống da. Mặt trống cong vồng lên, chính giữa là 2 vòng tròn nổi tượng trưng cho mặt trời, xung quanh thân trống đúc nổi 4 quai hình vòng tròn, trang trí nhiều loại hoa văn: hình hoa 4 cánh, nhũ đinh và đề tài tứ linh long, ly, quy, phượng. Đặc biệt, thân trống có khắc bài minh văn chữ Hán nói về bà Nguyễn Thị Lộc vợ của Tổng thái giám Giao Quận công. Vào năm Vĩnh Hựu thứ 2 đời vua Lê Ý Tông (1736) góp công lập chùa Linh Ứng (nay là chùa Nành), cùng lời dẫn việc đúc trống để thờ cúng, tu bổ chùa. Minh văn còn cho biết việc đúc trống vào ngày lành tháng 4 năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) đời vua Nguyễn Quang Toản ở xã Phù Ninh, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn (nay là xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm, Hà Nội).

    Tiền đồng: Dưới chính quyền Tây Sơn trong khoảng 30 năm đã đúc và phát hành một số loại tiền như sau:

    + Tiền đời vua Nguyễn Văn Nhạc (1778-88): Thái Đức thông bảo, mang phong cách giống tiền Cảnh Hưng, Chiêu thống. Năm Thái Đức thứ 9 (1787) Nguyễn Văn Nhạc xưng Trung ương Hoàng đế ở Quy Nhơn cho đúc tiền Thái Đức thông bảo Minh Đức thông bảo lưng có 2 chữ Vạn tuế

    + Tiền đời vua Nguyễn Văn Huệ (1788-1792): Trong 5 năm ở ngôi vua cho đúc mấy chục loại tiền Quang Trung khác nhau nhưng có thể phân hai loại chính Quang Trung thông bảo Quang Trung đại bảo. Trên mặt lưng một số đồng có ký hiệu hình trăng ngửa, chữ Bảo có kiểu giản thể. Một số đồng Quang Trung thông bảo khác, mặt lưng đúc hai chữ Bình Nam, đúc năm 1789; chữ nhất đúc năm 1788, chữ nhị đúc năm 1789. Tiền Quang Trung đại bảo kiểu chữ chân, đúc năm 1791-1792.

    + Tiền đời vua Nguyễn Quang Toản (1793-1802): Tiền Cảnh Thịnh thông bảo, kiểu chữ chân đọc chéo đúc khoảng 1793-1801. Tiền Cảnh Thịnh đại bảo kiểu chữ chân đọc chéo, chữ bảo kiểu giản thể đúc khoảng 1793-1801. Tiền Bảo Hưng thông bảo kiểu chữ chân đọc chéo, đúc năm 1801.

    Ấn triện: Các ấn triện thời Quang Trung hiện còn chủ yếu là các loại ấn của Võ quan trong tướng lĩnh quân đội như một số ấn đồng hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam. Ấn hình chữ nhật có quai hình chuôi vồ, mặt ấn khắc 10 chữ Hán: Suất trung lương nhị vệ tam hiệu trung lang tướng. Đây là dấu của viên Trung lang tướng ở Hiệu quân thứ 3, Vệ thứ 2, Suất trung lương. Chiếc ấn khác có kiểu dáng tương tự mặt ấn khắc 9 chữ Hán: Suất hùng cự khai vệ ngũ hiệu Đô ty. Đây là ấn của viên tướng chức Đô ty ở Hiệu quân thứ 5, Vệ tiên phong, Suất hùng cự. Trên mặt hai ấn chỉ ghi năm tạo ấn là năm Tân Hợi (1791). Trong sách Ấn chương Việt Namtừ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX Nguyễn Công Việt còn giới thiệu tài liệu về chiếc ấn: Tây Kỳ phủ Trung Tín nhất Vệ hộ quânsứ Vinh Hoa hầu.  Ấn này là của viên tướng Vinh Hoa hầu chức Hộ quân sứ thuộc Vệ thứ nhất Trung Tín phủ Tây Kỳ. Một quả ấn khác có dấu hình chữ nhật kích thước 9,8 x 6,6cm. Mặt ấn đúc 5 chữ triện nổi Bằng Tuyền huyện quản lý. Đây là dấu ấn của chức quản lý huyện Bằng Tuyền. Trên các ấn đồng này đều khắc dòng chữ Tân Hợi niên tạo, là năm Quang Trung thứ 4 (1791). Việc khảo cứu của Nguyễn Công Việt đã chứng minh thời gian đúc của các quả ấn đúc năm Tân Hợi trên đây là 1791.

    Ấn đồng, niên hiệu Quang Trung 4 (1791).

    Các quả ấn của vua tức là các kim bảo dưới thời Tây Sơn đến nay đều không còn nhưng chúng ta có thể được biết nhiều hình dấu trên các bản sắc phong, chỉ, truyền. Hình dấu đều có hình vuông, bên trong chữ triện, chúng tôi sẽ giới thiệu ở phần dưới đây.

    Các dấu Kim bảo thời Tây Sơn

    Khảo sát các bản sắc phong hiện còn lưu giữ tại các bảo tàng và di tích chúng tôi thấy một số dấu như sau:

    Dấu Quảng vận chi bảo, dấu son hình vuông, hình dấu có kích thước 11,5 x 11,5cm đóng trên tờ chiếu chỉ, niên hiệu Quang Trung năm thứ 5 (1792). Nội dung bản chiếu của vua Quang Trung khen ngợi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp về việc dịch sách Kinh thi. Tờ chiếu hình chữ nhật dài 50cm, rộng 40cm, ký hiệu của Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam số LSb.21965. Dòng niên đại ghi Quang Trung ngũ niên nhật nguyệt sơ nhị. Nghĩa là ngày mùng 2 tháng 6 năm Quang Trung thứ 5 (1792). Theo khảo cứu của Nguyễn Công Việt, dấu Quảng vận chi bảo thường sử dụng trên các công văn sai, truyền. Dấu Quảng vận chi bảo đã thấy trong các văn bản niên hiệu Quang Trung năm thứ 2 (1789); Quang Trung năm thứ 4 (1791), Quang Trung năm thứ 5 (1792). (Xem Nguyễn Công Việt, 2005, trang 252-255)

    Dấu Triều đường chi ấn, dấu hình vuông kích thước 11,3 x 11,3cm. Đây là ấn của triều đường. Dấu ấn này đã thấy trên văn bản, tờ truyền niên hiệu Quang Trung năm thứ 5, ngày 14 tháng 4 nhuận năm 1792. Triều Đường chi ấn có chức năng tương tự như ấn Đình thần chi ấn, Công đồng chi ấn của thời Nguyễn sau đó. Dấu Triều đường chi ấn còn thấy trên tờ Truyền ngày mùng 4 tháng 6 năm Quang Trung thứ 5 (1792). Theo Nguyễn Công Việt dấu này được dùng vào những văn bản hành chính quan trọng dưới chiếu, chỉ, dụ, cáo, sắc của Hoàng đế.

    Dấu Hoà nhu chi bảo hay Tiên nhu chi bảo. Dấu hình vuông kích thước 15,2 x 15,2cm, viền ngoài đậm 2,2cm. Ý nghĩa của dấu ấn này là các vị thần phù trợ cho mưa thuận gió hoà, mầm lúa mọc tươi tốt. Dấu này thấy đóng trên nhiều sắc phong thần cho các Thành hoàng làng.. Dấu đóng ở dòng ghi niên hiệu, ngày mùng 2 tháng 10 năm Quang Trung thứ 3 (1790).

    Các bản sắc phong gia phong mỹ tự cho các vị Thành hoàng thờ ở đình làng Bát Tràng vào ngày 29 tháng 3 năm Quang Trung thứ 5 (1792).

    Dấu Sắc mệnh chi bảo dùng trên các văn bản sắc phong cho người có công dưới thời Tây Sơn. Theo tài liệu của cụ Hoa Bằng sao lại cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm là bản sắc phong của vua Quang Trung ban cho Phan Huy Ích chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Thị trung Ngự sử, tước Thuỵ Nham hầu. Niên đại của Sắc phong này ghi ngày 18 tháng 4 nhuận năm Quang Trung thứ 5 (1792).

    Ở Bảo tàng Quang Trung, Bình Định còn giữ được một số tài liệu thời Tây Sơn trong đó có các sắc phong cho tướng lĩnh. Bản sắc phong vào ngày 24 tháng 2 năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1795), phong cho viên quan chỉ huy Vệ thứ 3 đạo Hổ dực là Nguyễn Đăng Lâm làm chức Hộ quân sứ tước sứ, Phú Nhuận hầu. Trên sắc có dấu chữ triện Sắc mệnh chi bảo (Xem Nguyễn Công Việt, 2005, trang 275-276).

    TS. Nguyễn Đình Chiến

                                                                                                      Ảnh: Quế Hương 



    Nguồn tin:Bảo tàng Lịch sử quốc gia
    • Font
    • In bài
    • Gửi cho bạn bè
    • Ý kiến

    Đặc sắc hoa văn trên Bảo vật Quốc gia

    Cổ vật Việt Nam

    Sưu tập Báo chí cách mạng VN (1925-1945)

    • Di sản văn hóa Phật giáo
    • Đèn cổ Việt Nam
    • Khu vực:

    Liên kết Website

    Thống kê truy cập

    • Trực tuyến: 698
      Thành viên online:
      0
      Số lượt truy cập: 34235195