Bạn chưa chọn câu trả lời
Biểu quyết thành công
Biểu quyết thất bại

Những dấu tích văn hóa cổ ở khu vực Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội)

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

  Ngày 04/05/2018
  • 127
  • 0

1.Đôi nét về khu vực Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam

Làng Văn hóa- Du lịch các dân tộc Việt Nam thành lập năm 1997 và được phê duyệt điều chỉnh quy hoạch mở rộng năm 2010 với tổng diện tích 1.544ha tại khu Nam Đồng Mô (Ngải Sơn), Sơn Tây, Hà Nội. Đây là dự án trọng điểm, có ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội lớn to lớn, là nơi hội tụ và tôn vinh tinh hoa văn hóa các dân tộc Việt Nam. Theo đó, làng văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam sẽ là trung tâm hoạt động văn hóa, thể thao quốc gia, nơi tập trung tái hiện, gìn giữ, phát huy và khai thác các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam, tăng cường tình đoàn kết, sự hiểu biết lẫn nhau, giáo dục lòng tự hào dân tộc và tình yêu quê hương đất nước của công dân Việt Nam; tăng cường tình hữu nghị, hợp tác và trao đổi văn hóa với các dân tộc trên thế giới; phục vụ nhu cầu tham quan, du lịch và nghiên cứu của nhân dân trong nước và quốc tế. Nơi đây sẽ được xây dựng để trở thành một trung tâm du lịch, dịch vụ, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí có qui mô lớn, đồng bộ với quần thể đa dạng với nhiều khu chức năng, đan xen giữa văn hóa và dịch vụ du lịch.

Cùng với nhiều công việc chuẩn bị đầu tư khác, từ cuối năm 1998 đến đầu năm 1999, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) đã tiến hành chương trình điều tra, khảo sát khảo cổ học tổng thể nhằm phục vụ cho việc xây dựng Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Xử lý hố thám sát khu vực Đồi Sành

Về mặt địa hình và không gian phân bố, khu vực Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam nằm ở phía nam hồ Đồng Mô, Ngải Sơn. Đây là khu vực của vùng đệm, chuyển tiếp giữa vùng đồi núi cao dưới chân núi Ba Vì tới vùng đồng bằng thấp, mang đặc trưng của miền địa hình "bán sơn địa", với các đồi núi thấp dạng "bát úp" cùng hệ thống các sông suối nhỏ, hội tụ đủ các điều kiện thuận lợi sớm được người Việt cổ chọn làm nơi cư trú.

Công cụ văn hóa Sơn Vi

Công cụ dạng Hòa Bình

Khoảng những năm 1960, các dòng chảy của hệ thống sông suối khu vực này được đắp chặn tạo thành hồ thủy lợi Đồng Mô để phục vụ sản xuất nông nghiệp (nông trường Đồng Mô). Quá trình ấy đã tạo nên những biến đổi lớn về cảnh quan môi trường vốn có ở nơi đây. Nhiều quả đồi trở thành "đảo nổi" giữa hồ nước mênh mông, nhiều dòng suối cổ đã biến mất hay bị "chết" vì khô cạn... và, theo đó nhiều dấu tích của con người phản ánh lịch sử lâu đời của vùng đất đã bị nhấn chìm. Mùa khô năm 1998 là năm hồ Đồng Mô nước xuống ở mức thấp nhất (cốt 13m), là cơ hội khá “lý tưởng” có thể tiến hành nghiên cứu, khảo sát khảo cổ học một cách thuận lợi khi địa hình về cơ bản trở lại trạng thái tự nhiên như khi chưa có hồ thủy lợi Đồng Mô.

Kết quả nghiên cứu, khảo sát đạt kết quả tốt đẹp và rất lý thú khi đã xác định được mật độ phân bố dày đặc của các di tích khảo cổ học từ hậu kỳ đá cũ cho đến các thời kỳ lịch sử, với dấu tích cư trú liên tục của con người từ hàng vạn năm trước đây trong không gian của Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.

2.Những dấu tích văn hóa cổ

2.1. Dấu tích của người tiền sử

Các di tích và di vật cổ xưa nhất ở khu vực này thuộc văn hoá Sơn Vi - một văn hoá khảo cổ thuộc hậu kỳ thời đại Đá cũ, có niên đại khoảng 2 vạn năm cách ngày nay. Các di tích và di vật phân bố trên hầu hết những sườn đồi trong khu Nam Đồng Mô như: Đảo Vải, Đảo Mỏ Vít, Đảo Xanh... với các công cụ cuội sông suối, cấu tạo hạt mịn, làm từ đá quarzitte màu vàng gan gà, xanh xám. Các loại hình đặc trưng như công cụ rìa lưỡi dọc, rìa lưỡi ngang (dạng chopper), 1/4 viên cuội, hạnh nhân, các công cụ mảnh tước được ghè đẽo trên một mặt, mặt còn lại và đốc giữ nguyên vỏ cuội.

Bàn mài lõm

Rìu tứ giác

Rìu bôn tứ giác

Rìu bôn

Sự hiện diện của những công cụ ghè đẽo đã chứng minh quá trình chế tác công cụ phục vụ cho cuộc sống lao động sản xuất của cư dân thời Sơn Vi ở vùng đất này, song, điểm đáng chú ý là sự xuất hiện những công cụ rìa lưỡi ngang có vết ghè đẽo thô sơ, gợi ý về dấu tích của văn hoá Sơn Vi giai đoạn sớm ở nơi đây. 

Bước sang thời đại Đá mới, có lẽ do ảnh hưởng của những đợt biển tiến, con người thay đổi địa bàn cư trú, rút lên những vùng núi cao, sinh sống trong những vùng núi đá vôi, bởi vậy các vết tích của văn hoá Hoà Bình với những công cụ phản ánh đặc trưng của văn hoá này ít xuất hiện.

Rìu bôn có vai

Tiếp đến, rất đậm đặc là nhóm di tích và di vật thuộc hậu kỳ đá mới - sơ kỳ kim khí được tìm thấy ở hầu khắp các sườn đối, sát với mép các con suối nhỏ với các loại hình công cụ như: rìu bôn tứ giác, rìu bôn có vai và các loại bàn mài (rãnh, vũm) thể hiện rõ tính chất chế tác tại chỗ của các loại hình công cụ này.

Đục đá

Bàn mài lõm

Về cơ bản nhóm các di tích và di vật đã phản ánh sinh động đời sống con người cách đây khoảng 4-5.000 năm, với kỹ thuật chế tác công cụ đá khá "hoàn hảo", các công cụ điển hình của thời kỳ này. Các loại hình di vật không có gì khác biệt, ngoại trừ đặc trưng nguyên liệu sử dụng tại chỗ với các loại đá "kém" chất lượng (đá phtanit), dạng đá trầm tích, mềm, hạt thô khá giống với các di tích cùng thời phân bố trên phạm vi rộng lớn. Có lẽ, do đặc trưng này qui định nên các công cụ dạng rìu/bôn, mặc dầu lưỡi được tạo có tiết diện hình chữ V cân hay lệch, song các mặt vát đều mài hơi cong khum, phần rìa lưỡi hơi tù, tạo cho tiết diện gần giống hình parabol, nên lưỡi không thật sắc và mỏng, nên thường xuyên được tu chỉnh (mài, rũa) khiến số lượng các loại bàn mài tìm được nhiều, phản ánh rõ tínhchấtcủa “xưởng chế tác”.

Thời Sơ sử, các dấu tích của con người cũng được phát hiện, song mờ nhạt hơn với các di vật của văn hoá Đông Sơn gồm một số mảnh vỡ của thạp đồng, trang trí đường tròn tiếp tuyến và vạch ngắn song song, cùng một vài mảnh gốm nhỏ trang trí văn khắc vạch kết hợp văn chải là mảnh của loại nồi và các đồ đựng gốm, bên cạnh mảnh vỡ của hũ gốm văn in ô vuông đặc trưng văn hoá Hán. Thực tế nghiên cứu và phát hiện đã cho thấy vào thời kỳ này, khu vực địa hình như Đồng Mô dường như không còn phù hợp với xu thế hình thành các trung tâm kinh tế, chính trị hồi đầu Công nguyên.        

2.2. Những khu mộ Mường

- Kết quả khảo sát

Khu vực Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam có phạm vi phân bố rộng lớn với diện tích hơn 1.500ha nằm trên miền địa hình vùng "bán sơn địa" nối liền với một phần địa phận của tỉnh Hà Tây cũ, Hoà Bình và vùng hạ du Phú Thọ với những quả đồi thấp và triền sông suối. Với các nhà khảo cổ học khi tiến hành khảo sát thực địa đã sớm nhận ra đó chính là không gian cư trú của người Mường qua quá trình phát hiện và nghiên cứu về di tích mộ Mường cổ. Kết quả thu được tại đây rất khả quan, với số lượng lớn các di tích và di vật của nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, trong đó tập trung hơn cả là những khu di tích mộ Mường, niên đại kéo dài từ thế kỷ 12 -13 đến thế kỷ 15 -16, tương ứng với thời Lý, Trần và Lê sơ.

Đồ tùy táng trong mộ Đồi Sành

Vết tích của những ngôi mộ Mường cổ phân bố rải rác trên diện rộng trong khu vực nam Đồng Mô, cùng với những giai thoại, truyền thuyết kể về bóng "người" ẩn hiện ở khu vực đồi Sành, Mỏ Vít, khe Xăng Dầu.... và những "vàng bạc châu báu" lấy lên trong những ngôi "vô thừa nhận"... do những kẻ săn lùng đồ cổ đào phá dữ dội vào những năm 1980.

Kết quả khảo sát cho thấy nơi đây có mật độ khá dày đặc di tích mộ Mường cổ phân bố trên phạm vi lớn. Rải rác trên bề mặt gò đồi đã thu được những mảnh gốm sứ, sành, do quá trình xói lở, canh tác và đào trộm vương lại. Những dấu tích này tập trung hơn cả ở 5 khu mộ trên sườn những quả đồi: khu Đồi Sành, khu Khe Xăng Dầu, Khu Thuỷ Sản, khu Mỏ Vít và khu Đảo Xanh. Có thể nhận biết đó là những khu mộ qua việc tìm thấy những thanh đá hòn mồ với hình dáng và kích thước to nhỏ khác nhau, sử dụng loại đá cát kết màu xám và nâu đỏ, kết cấu hạt thô, mềm, dễ ghè đẽo, dài khoảng từ 0,7m - 0,9m.

Thanh đá hòn mồ nằm rải rác trên bề mặt

Cá biệt, khu mộ ở Mỏ Vít hòn mồ sử dụng đá thạch anh, là loại chất liệu dường như còn ít thấy sử dụng. Bên cạnh đó là những vệt than củi cháy vương vãi trên bề mặt, hay tạo thành vỉa kết dính trong các vách hố đào của những kẻ săn lùng đồ cổ. Dấu vết của việc đào trộm, tàn phá nghiêm trọng cho thấy rõ nhất là hàng trăm hố đào nham nhở làm nát bề mặt di tích. Theo người dân kể lại, những hố sâu, rộng là mộ chứa nhiều đồ tuỳ táng hoặc đồ quí, có giá trị kinh tế lớn như trống đồng, thạp đồng, thạp gốm hoa nâu lớn... ngược lại hố nông là khu mộ “nghèo”, “bình dân” do những mộ đó không có hoặc đồ tuỳ táng không có "giá trị".

Có lẽ đáng chú ý hơn cả là những "bãi" mảnh vỡ của đồ gốm sứ Việt Nam có niên đại từ thế kỷ 12 -13 đến thế kỷ 15 -16, chủ yếu là bát, đĩa, âu, bình, thạp.... với các loại men trắng ngà, men trắng hoa nâu, men ngọc và nâu trang trí ám hoạ hoa cúc và hoa sen rất đặc trưng đặc trưng gốm men thời Lý - Trần, bên cạnh số ít là đồ gốm men trắng vẽ lam thời Lê sơ. Bên cạnh gốm Việt Nam là đồ sứ Trung Quốc với đủ loại cả men ngọc, men trắng, hoa lam cao cấp (Long Tuyền) và thứ cấp (các lò nam Trung Quốc).

Bát gốm thời Lý

Bát gốm tùy táng thời Trần

Sanh đồng thời Trần

Ngoài ra, còn có những "bãi" lon sành, chủ yếu là loại lon hình trụ, bu gà với gờ miệng vát hay vê tròn mãu hồng và tím nhạt, trang trí văn chải kết hợp với văn sóng nước khắc vạch là đặc trưng thời Trần thấy phổ biến trong di chỉ sản xuất  gốm sứ Xóm Hống (Hải Dương). Sự xuất hiện với số lượng lớn của đồ gốm sứ và sành phần nào cho biết "vị trí, thân phận" của chủ nhân các khu mộ đó, "giàu" hay "nghèo" địa vị cao hay thấp trong xã hội đương thời bởi đó chính là các đồ tuỳ táng hay có thể một bộ phận tham gia kè mộ (lon sành).

Từ thực tế phát hiện và nghiên cứu cho thấy khu vực Đồng Mô có mật độ dày đặc các khu mộ Mường cổ. Đây vốn là những khu mộ rất lớn của người Mường kéo dài từ thời Lý - Trần đến thời Lê sơ. Rất có thể tên gọi Đồng Mô là tên gọi chệch của đống mồ/đống mộ/đồng mồ/đồng mộ ? Ở đó, có những khu mộ đã bị phá huỷ nghiêm trọng, song cũng có những khu còn tương đối "nguyên vẹn" như khu Mỏ Vít. Tại đây, ngoài những vết tích nêu trên, đã phát hiện được những ngôi mộ còn tương đối nguyên vẹn với những hàng lon sành kè mộ, nhiều ngôi mộ lộ rõ lớp đất lateritte vốn là lớp đất đắp mộ, huyệt mộ tương đối rõ.

Một phần huyệt mộ

Trên cơ sở kết quả khảo sát, chúng tôi đã tiến hành đào thám sát tại khu vực Đồi Sành và thu được những kết quả hết sức khả quan, hé lộ nhiều vấn đề khoa học trong việc nghiên cứu về táng tục của người Mường xưa.

- Kết quả đào thám sát ở khu vực Đồi Sành

Đồi Sành là một trong những quả đồi thấp nằm ở phía tây bắc khu Đồng Mô trước vốn thuộc sự quản lý nông trường Đồng Mô với việc trồng cây lưu niên phủ kín bề mặt. Từ đầu thập niên 90, với chính sách giao khoán đất cho từng hộ công nhân, Đồi Sành thuộc diện tích đất của gia đình bà Đào Thị Mai được sử dụng canh tác cây công nghiệp ngắn ngày.

Trước đây, nơi này được người dân tộc Mường trong khu vực coi là khu rừng cấm. Tên gọi Đồi Sành là tên mới dùng gần đây, nó là kết quả của quá trình đào phá săn lùng đồ cổ diễn ra vào thập niên 80. Khi đó, trên bề mặt đồi những kẻ đào trộm đã vứt lại la liệt những mảnh sành vỡ với số lượng lớn.

Trên cơ sở khảo sát thực địa cùng với những thông tin thu thập được qua "thăm hỏi" dân tộc học, chúng tôi đã tiến hành đào thám sát ở khu vực mé phía tây,  đông và trung tâm đồi nhằm tìm hiểu về tính chất, niên đại, phạm vi và phân bố cũng như các vấn đề có liên quan đến những ngôi mộ Mường cổ ở khu vực Đồng Mô.  Kết quả thám sát cho thấy:

- Mộ đều đã bị mất nầm mồ và hòn mồ (thanh đá đánh dấu mồ, cắm xung quanh mộ, về sau, vào thời Lê có kích thước lớn, trở thành bia ghi thân phận chủ nhân mộ) do quá trình canh tác và đào phá. Mộ được táng ở độ sâu từ 0,65 - 0,8m đến 1,2m, trong lớp đất màu vàng tươi. Huyệt mộ hình chữ nhật với kích thước khoảng 2,75m x 0,7m, theo hướng tây nam, phân bố từ chân đến đỉnh đồi. Huyệt mộ thẳng không giật cấp, từ trên xuống dưới tạo thành hai lớp tương đối với sự sắp đặt các đồ tuỳ táng và cấu trúc khác nhau:

+ Lớp trên ở độ sâu từ 0,3 - đến 0,45m có các hiện vật gồm 2 lon sành hình ống, quai nhỏ, 1 bát gốm Việt Nam men trắng ngả vàng, miệng loe vát, thành xiên, chân đế cao trung bình, niên đại khoảng thế kỷ 13 -14 và 1 âu sứ men ngọc thế kỷ 12 -13 của Trung Quốc. Ngoại trừ âu sứ nằm ở trên cùng, còn cả ba hiện vật nằm trong lớp đất màu vàng tươi, xốp, lẫn trong những lớp than tro mỏng, phân bố không đều, tập trung ở giữa mộ, được tạo thành một hàng thẳng theo hướng tây nam, cách đều nhau khoảng 0,2m. Các hiện vật do đặt nằm ngửa, miệng hướng lên nên trong lòng chứa đầy than tro. Phía trên những nơi có lớp than tro dầy lẫn đất vàng lẫn sỏi cuội đất lateritte do khi đào huyệt, người xưa đã đào sâu xuống sinh thổ, nên khi lấp tạo nấm mộ, lớp đất này lộn lên phía trên. Đáng chú ý, lẫn trong đồ tuỳ táng là những viên đá cuội, thạch anh với kích thước và hình dáng không xác định, phân bố rải rác từ lớp trên xuống lớp dưới có thể có tác dụng gia cố, kè huyệt mộ.

+ Lớp dưới xuất lộ ở độ sâu 0,65m, với lớp than tro dày (0,2m) và đều khắp huyệt mộ hơn lớp trên. Lẫn trong than tro là 1 sanh đồng thời Trần, lòng nông, quai hình khuyên, không có hoa văn trang trí và 2 xâu tiền đồng (các loại tiền thời Tống - Trung Quốc) ở giữa và cuối huyệt mộ, đã bị ôxi hoá nên dính kết và mủn nát. Cũng giống như lớp trên, xung quanh huyệt có những lớp đá cuội và thạch anh tạo hàng. Dưới lớp này là lớp đất sinh thổ với thành tạo cứng, lẫn sỏi cuội. Một hiện tượng đáng chú ý, ở 2 đầu huyệt mộ có 2 hố đất tròn, đường kính khoảng 0,3m, trong chứa đất vàng lẫn sỏi cuội, xốp, chưa xác định rõ chức năng.

Căn cứ vào cấu trúc và táng thức, đặc biệt là đồ tuỳ táng chôn theo, có thể xác định khu "nghĩa địa" Đồi Sành có những ngôi mộ Mường cổ, được táng vào thời Trần, niên đại thế kỷ 13 -14. Về cơ bản, qui mô những ngôi mộ không lớn (so với giai đoạn sau, ở thế kỷ 16 -17), song có thể thấy chủ nhân mộ là những người có địa vị xã hội nhất định thông qua những đồ gốm, sứ Việt Nam và Trung Quốc, qua sanh đồng và tiền đồng, những thứ dường như không phải dành cho tầng lớp bình dân của xã hội đương thời. 

Trong mộ không thấy có dấu tích di cốt, đây là đặc điểm khá phổ biến của những ngôi mộ Mường cổ. Khi nghiên cứu về vấn đề này, đã có những kiến giải khác nhau khi cho rằng có khả năng do mộ Mường được táng ở những vị trí đồi cao, không chịu ẩm, lại được xử lý kỹ lưỡng với những lớp than tro mịn rải đều khắp huyện mộ, do đó di cốt đã bị phân huỷ hoàn toàn. Hoặc cũng có thể ở giai đoạn sớm người Mường sử dụng hình thức hoả táng, mà dấu vết còn lưu lại chính là những lớp than tro phân bố trong huyệt mộ. Kết quả nghiên cứu những ngôi mộ ở khu vực Đồi Sành là bằng chứng củng cố thêm cho những lý giải nêu trên.  

3.Giá trị nghiên cứu và ý nghĩa bảo tồn

3.1. Từ thực tiễn phát hiện và nghiên cứu, chúng ta thấy sự phân bố di tích khảo cổ mới được xác lập ở khu vực Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam tập trung khá dày đặc, trong đó loại hình mộ Mường có mật độ cao nhất. Những di tích có niên đại sớm thuộc văn hóa Sơn Vi- một văn hóa thuộc hậu kỳ thời đại Đá cũ cách chúng ta hơn hai vạn năm. Suốt từ đó đến nay, trên mảnh đất này luôn có dấu tích cư trú và hoạt động của con người. Điều đó khẳng định, đây là vùng đất sớm hội đủ các điều kiện thuận lợi cho đời sống con người.

Sự hiện diện của các loại hình công cụ ghè đẽo đã chứng minh con người thời Sơn Vi ở vùng đất này đã biết chế tác công cụ phục vụ cho cuộc sống lao động của mình. Hơn thế, những công cụ rìa lưỡi ngang có vết ghè đẽo thô sơ còn gợi ra khả năng tồn tại một giai đoạn Sơn Vi sớm ở đây. Nghiên cứu những hiện vật này góp phần bổ sung thêm những hiểu biết về nhóm di tích Vạn Thắng được phát hiện trước đây, khẳng định sự có mặt cũng như mở rộng phạm vi phân bố của văn hóa Sơn Vi ở khu vực đồi núi phía tây Hà Nội tồn tại song song cùng với những di tích khác ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh…

Bước sang thời đại Đá mới, do ảnh hưởng của các đợt biển tiến, con người phải thay đổi địa hình cư trú, sinh sống ở những vùng núi cao và hang động. Đây là hiện tượng khá phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến cả vùng Đông Nam Á rộng lớn. Có lẽ vì lý do này mà ở khu vực này thiếu vắng dấu tích của văn hóa Hòa Bình. Tuy vậy, trên một vài công cụ cuội thu được ở nơi đây, ta còn thấy khá rõ ảnh hưởng của nó.

Nhóm hiện vật có niên đại hậu kỳ Đá mới-Sơ kỳ Kim khí cho biết cư dân ở đây đã biết chế tác công cụ đá với kỹ thuật hoàn hảo. Họ đã biết sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, tạo cho nhóm công cụ mang những sắc thái riêng.

Điểm đáng chú ý đối với nhóm hiện vật này là sự hiện diện với tỷ lệ cao của các loại bàn mài. Các di tích phát hiện đều là di chỉ cư trú ven sông, suối. Việc phát hiện nhiều bàn mài gợi ý về tính chất của di chỉ xưởng chế tác ?. Tất nhiên còn cần thêm nhiều dấu tích khác nữa cùng với quá trình tiếp tục nghiên cứu, khai quật ở khu vực này mới có thể minh chứng cho giả thiết nêu trên. Sưu tập các loại hình rìu, bôn thu được ở nơi đây có số lượng lớn là những tư liệu có giá trị để nghiên cứu về lịch sử vùng đất cũng như phạm vi phân bố của những nền văn hóa cổ ở trong không gian trước nay dường như khảo cổ học chưa xác nhận tồn tại.

Bước vào các thời kỳ kế tiếp cũng phát hiện những dấu tích của văn hóa Đông Sơn, các loại gốm niên đại thế kỷ 3-5, thế kỷ 7-10, tuy nhiên, các di tích đều không rõ loại hình và mờ nhạt.

Sau thế kỷ 10 là kỷ nguyên độc lập dân tộc, khu vực này cơ bản là không gian cư trú của người Mường. Hệ thống di tích mộ Mường khu vực Đồng Mô có niên đại kéo dài từ thế kỷ 11-12 đến thế kỷ 15-16 xuất hiện dày đặc đã chứng minh điều đó. Từ kết quả nghiên cứu về mộ Mường cổ của khảo cổ học thời gian qua cho thấy đây là khung niên đại khá phổ biến của hệ thống các khu mộ Mường hiện biết, với niên điểm xuất hiện và kết thúc trong khoảng từ thế kỷ 12 đến thế kỷ khoảng thế kỷ 17-18. Trong đó, những phát hiện về di tích mộ ở khu vực sát chân núi Ba Vì, Ao Vua được xác định có niên đại sớm nhất lại nằm liền kề, sát với khu vực Đồng Mô. Chính bởi vậy, những kết quả từ nghiên cứu về hệ thống các di tích mộ Mường ở khu vực Đồng Mô đã cung cấp, bổ sung những tư liệu rất có ý nghĩa trong sự phát triển nối tiếp, liên tục của phả hệ mộ Mường cổ.

3.2. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên phạm vi rộng lớn của khu vực Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam, từ hiện trạng, tính chất và phân bố của các loại hình di tích chúng tôi có một vài suy nghĩ, kiến nghị dưới góc độ bảo tồn nhằm phát huy giá trị di tích.

- Đối với các di tích tiền-sơ sử thường phân bố ở sườn đồi, ven sông suối. Trong thực tế, khi mực nước trong lòng hồ dâng cao, đảm bảo các yêu cầu sinh thái, cảnh quan của Làng Văn hóa, các di tích này vĩnh viễn mất đi. Chúng ta không còn cơ hội để nghiên cứu, tiến hành khai quật những di tích này khi Làng Văn hóa được xây dựng để đáp ứng nhiệm vụ chính trị quan trọng. Chính bởi vậy, chúng tôi rất mong muốn, những dấu tích còn lại, đặc biệt là các di vật thu thập được trong quá trình khảo sát (hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội) sẽ được lưu giữ, bảo quản và trưng bày nhằm giới thiệu thêm những hiểu biết về lịch sử vùng đất này từ hơn vạn năm trước.

- Đối với những khu vực có di tích mộ Mường đã bị đào phá trước đây như đồi Sành, khe Xăng Dầu, khu Thủy Sản…do đào phá vội vàng, còn nhiều mộ nguyên sót lại. Do đó, trong khi thi công đề nghị Ban Quản lý Làng cần có sự theo dõi, giám sát, khi gặp di tích có biện pháp xử lý kịp thời, vẫn đảm bảo tiến độ thi công, xây dựng theo thiết kế và kế hoạch đề ra. Việc này cần áp dụng trước tiên cho khu Đồi Sành- khu vực xây dựng làng Ba Na.

Với các khu như Mỏ Vít, đảo Xanh à những khu mộ còn tương đối nguyên vẹn, chưa bị đào phá, nay cũng bị xói lở nghiêm trọng rất cần được nghiên cứu, khai quật. Chúng ta biết rằng trong lịch sử dân tộc Việt-Mường vốn cùng chung nguồn gốc, trong tiến trình lịch sử, khối Việt- Mường chung chia tách thành 2 tộc người như hiện nay. Nghiên cứu di tích mộ Mường chẳng những có thêm những hiểu biết về dân tộc này mà còn lý giải được nhiều vấn đề của dân tộc Việt trong quá trình tồn tại và phát triển. Hiện nay, phần lớn các khu mộ đều đã bị đào phá, dần biến mất, do đó việc phát hiện di tích mộ Mường, đặc biệt là 2 khu mộ nguyên vẹn càng có ý nghĩa quan trọng.

Hiện 2 khu mộ này tuy chưa bị đào phá nhưng cũng ở mức báo động, mưa nắng cùng tác động của mực nước hồ Đồng Mô lên xuống thất thường đã ảnh hưởng nghiêm trọng, rất cần tiến hành nghiên cứu, khai quật.

- Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam là một thiết chế văn hóa quan trọng của đất nước, được xây dựng có qui mô to lớn để giới thiệu về lịch sử văn hóa các dân tộc Việt Nam. Chỉnh bởi vậy, bên cạnh những đơn nguyên kiến trúc, công trình văn hóa tiêu biểu của các dân tộc, như những bảo tàng sống động, đương đại, có lẽ, sẽ đầy đủ hơn nếu có thêm một bảo tàng giới thiệu về lịch sử vùng đất khu vực Đồng Mô với những sắc thái văn hóa vô cùng độc đáo, hấp dẫn, trưng bày những hiện vật về văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình và các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là những hiện vật giới thiệu về mộ Mường cổ lấy lên từ lòng đất Đồng Mô.

 TS.Nguyễn Văn Đoàn

Liên kết website

Số lượng truy cập

Cơ quan chủ quản: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đơn vị quản lý: Bảo tàng Lịch sử quốc gia - Giấy phép số: 164/GP-TTĐT cấp ngày: 31/10/2012

Chịu trách nhiệm: TS. Nguyễn Văn Cường - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Địa chỉ: Số 1, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Số 216, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Email: banbientap@baotanglichsu.vn - Tel/Fax: 84.4.38252853