Bạn chưa chọn câu trả lời
Biểu quyết thành công
Biểu quyết thất bại

Khảo cổ học với trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo Qua trường hợp di tích đền - chùa Bà Tấm, Gia Lâm, Hà Nội

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

  Ngày 04/04/2018
  • 127
  • 0

Trong những năm qua, việc nghiên cứu, khai quật khảo cổ học phục vụ công tác trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị di sản đã thực sự được chú trọng và ngày càng phát huy hiệu quả, đặc biệt là với các di sản văn hóa, kiến trúc Phật giáo. Các cơ quan quản lý nhà nước đã nghiêm túc trong các thỏa thuận, đồng ý cho phép trùng tu, tôn tạo theo quy trình “khảo cổ học luôn đi trước một bước”. Còn với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thông qua Ban Văn hóa, các cơ sở Phật giáo, các sư trụ trì, tăng ni phật tử cũng hoan hỉ, ủng hộ cho công tác nghiên cứu này. Khảo cổ học với thế mạnh trong phương pháp nghiên cứu là thông qua nghiên cứu tài liệu địa tầng để tìm hiểu, lý giải về diễn biến các lớp kiến trúc, văn hóa của di tích trong suốt quá trình tồn tại, cung cấp các thông tin khách quan, khoa học, là cơ sở quan trọng mang lại nhận thức sâu sắc về các nền văn hóa cổ, về đời sống cư dân và các dữ liệu về bố cục mặt bằng, kỹ thuật, nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo, tín ngưỡng của các thời kỳ, trong đó có các di sản văn hóa, kiến trúc Phật giáo… Trên cơ sở đó giúp cho các nhà thiết kế tìm ra giải pháp trùng tu, tôn tạo, phục dựng phù hợp và tối ưu nhất nhằm phát huy giá trị của di tích trong bối cảnh đời sống xã hội hiện đại.

Mặc dù nhận thức và xác lập đúng về quy trình “khảo cổ học luôn đi trước một bước”, song khảo cổ học với trùng tu, tôn tạo, nhất là với một di tích cụ thể đôi khi vẫn là vấn đề cần thảo luận, trao đổi. Trong bài viết này, từ thực tiễn kết quả đạt được trong nghiên cứu và khai quật khảo cổ học tại di tích đền chùa Bà Tấm (Linh Nhân Tư Phúc tự), chúng tôi xin nêu lên một vài suy nghĩ về giải pháp trùng tu, tôn tạo với mong muốn đây sẽ là kinh nghiệm và kiến nghị cho việc phát huy giá trị di tích đền - chùa Bà Tấm (Linh Nhân Tư Phúc tự) nói riêng và di sản kiến trúc Phật giáo nói chung. 

1.Đôi nét về cụm di tích đền - chùa Bà Tấm

Cụm di tích đền - chùa Bà Tấm thuộc địa phận xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội, cách khu vực trung tâm Hà Nội gần 20km về phía Đông, trên Quốc lộ 5 đi Hải Phòng.

Theo sử sách và truyền thuyết dân gian, cụm di tích đền - chùa Bà Tấm được xây dựng từ thời Lý. Sự ra đời của di tích gắn với Nguyên phi Ỷ Lan, sau là Linh Nhân Hoàng Thái hậu - một nhân vật kiệt xuất của vương triều Lý, giỏi việc trị nước, khiến nhân tâm hoà hợp, đất nước thanh bình, dân gian tôn sùng Bà là Phật Bà Quan Âm. Bà được dân gian gọi là Bà Tấm, là hiện thân của lòng bao dung, tài năng, đức độ và những điều tốt lành. Các huyền thoại, truyền thuyết về Bà phủ trùm lên một vùng văn hoá lịch sử của xứ kinh Bắc xưa.

Bà đã cho xây dựng hàng trăm công trình chùa, tháp nổi tiếng còn tồn tại đến ngày nay như: Chùa Dạm, 1086 (Quế Võ, Bắc Ninh); chùa Một Mái ở Hoàng Xá, 1099 (Quốc Oai, Hà Nội); chùa Phật Tích, 1100 (Tiên Sơn, Bắc Ninh); chùa Báo Ân, 1100 (Động Sơn, Thanh Hoá); tháp Chương Sơn, 1108 (Ý Yên, Nam Định). Và ở quê hương, hương Thổ Lỗi (đổi thành hương Siêu Loại), vào năm 1115, Bà đã cho xây dựng ngôi chùa Linh Nhân Tư Phúc tự (dân gian quen gọi chùa Bà Tấm). Vào năm 1117, khi Bà qua đời, ngôi đền thờ Bà cũng được xây dựng. Từ đó đến nay, đền - chùa Bà Tấm là nơi hành lễ thờ Phật và cũng là nơi tưởng niệm, tôn vinh của nhân dân trong vùng về Bà -  Nguyên phi Ỷ Lan - Linh Nhân Hoàng Thái hậu. Trong quá trình tồn tại lâu dài, di tích đền - chùa Bà Tấm đã được sửa chữa, trùng tu và tôn tạo nhiều lần. Văn bia còn lưu giữ tại di tích cho biết vào các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, các Vương phi, Quận chúa họ Trịnh nhiều lần công đức tiền của cùng nhân dân xã Dương Xá, Dương Nguyễn tu bổ lại chùa.

Cụm di tích chùa - đền Bà Tấm vốn được xây dựng trên một gò đất cao, rộng, nằm bên hữu ngạn dòng sông Thiên Đức nổi tiếng (phía bên Tả ngạn là chùa Báo Ân thời Trần, gắn với cuộc đời tu hành của vua Trần Nhân Tông). Trải qua quá trình tồn tại, mặt bằng di tích có nhiều thay đổi, kiến trúc chùa, đền và nhà thờ mẫu cùng một số đơn nguyên kiến trúc kề cận in đậm dấu ấn tu sửa gần đây (đền xây khoảng nửa đầu thế kỷ XX, chùa xây khoảng những năm 1980), song đây thực sự là một không gian linh thiêng, được nhân dân trọng vọng, thể hiện rõ nhất trong lễ hội vào các ngày 19/2 và 25/7 Âm lịch hàng năm. Hội đền Bà Tấm là hội lớn trong vùng, không chỉ có Dương Xá, Dương Nguyễn mà kéo dài suốt từ Phú Thị cho tới Văn Lâm (Hưng Yên).

Tại di tích còn lưu giữ nhiều di vật phản ánh lịch sử và quá trình tồn tại, các lần trùng tu, sửa chữa di tích, đáng kể là 2 tượng sư tử (bệ thờ), kích thước rất lớn; thành bậc trang trí sấu, chim phượng, cúc dây nổi tiếng; di vật đất nung trang trí kiến trúc thời Lý; các bia đá thời Lê và Nguyễn; các chân tảng đá sa thạch thời Lý, Trần; các di vật khác của thời Lê và Nguyễn.

2.Kết quả nghiên cứu, khai quật khảo cổ học

Các di tích và di vật khảo cổ học được phát hiện rải rác ở khu vực này từ lâu, song tính đến nay, di tích đền - chùa Bà Tấm chính thức được nghiên cứu, khai quật khảo cổ học 2 lần.

- Lần thứ nhất, Bảo tàng Lịch sử quốc gia cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội thực hiện năm 2005 trong chương trình hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hà Nội, nhằm tìm hiểu và đánh giá bước đầu về nghệ thuật kiến trúc thời Lý gắn với nhân vật nổi tiếng Linh Nhân Hoàng Thái hậu, với các hố đào tập trung ở phía bắc và hai bên phía  Đông - Tây của đền và chùa, tổng diện tích gần 300m2.

- Lần thứ hai, Bảo tàng Lịch sử quốc gia phối hợp với Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Gia Lâm (Hà Nội) thực hiện cuối năm 2013 nhằm mục đích phục vụ công tác trùng tu, tôn tạo ngôi chùa Linh Nhân Tư Phúc tự, với tổng diện tích 67m2, các hố đào tập trung ở mặt phía Bắc (sát với tòa Tam Bảo) và phía Nam của ngôi chùa. Công trình dự kiến khánh thành nhân kỷ niệm 900 năm ngày mất của Linh Nhân Hoàng Thái hậu (ngày 25 tháng 7 năm 1117).

Về cơ bản, các hố thám sát và khai quật sâu từ 1,15m đến 2,4m, căn cứ vào diễn biến địa tầng, xác định đã được các lớp kiến trúc sau:

+ Kiến trúc thời Lý, nằm ở độ sâu từ 0,8 - 1,2m, vết tích kiến trúc gồm:  móng, gia cố nền, đường ống cống nước, lớp này bị ảnh hưởng do mặt bằng được tận dụng để xây dựng công trình mới vào thời Lê Trung Hưng. Móng kiến trúc thời Lý chỉ còn là những đoạn ngắn, sử dụng gạch hình chữ nhật, xếp khít, không có chất kết dính. Nền xếp gạch hình vuông, trang trí hoa mẫu đơn, hoa sen, cúc. Dưới nền được là gia cố gạch ngói lèn chặt, dày 0,3m đến 0,4m (gồm có gạch lát nền, gạch chữ nhật, ngói mũi hài, ngói bản...).

Đặc biệt trong đợt nghiên cứu năm 2013, đã tìm thấy trụ gia cố chân tảng và thành bậc cùng các bậc lên xuống phía Bắc của chùa còn khá nguyên vẹn trang trí chim phượng, tượng sấu và văn sóng nước giống với thành bậc hiện biết rất đặc sắc của thời Lý.

 Dấu tích nền móng kiến trúc và thành bậc đá của chùa Bà Tấm thời Lý (1115)

Ngoài ra, còn phát hiện được các đường cống thoát nước, dài tới 4,9m, chạy theo trục Đông - Tây, được cấu tạo bởi các loại ống cống khác nhau, lần đầu tiên tìm thấy trong kiến trúc thời Lý, có chữ Đông Nhị để định vị kiến trúc.

+ Kiến trúc thời Lê Trung Hưng, nằm ở độ sâu 0,4 - 0,8m, là vết tích đống đổ kiến trúc, đường bó móng, gia cố nền, tận dụng khá triệt để mặt bằng và các loại vật liệu kiến trúc thời Lý để xây móng và gia cố nền. Mặt bằng thời Lê Trung Hưng có xu hướng tiến về phía Nam.

+ Các vết tích nền, móng kiến trúc sử dụng gạch chữ nhật và gạch vuông Bát Tràng, niên đại cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và vết tích kiến trúc nhà Tổ, xây dựng vào khoảng những năm 1950 là lớp trên cùng, gần như lộ trên bề mặt. Mặt bằng kiến trúc thời kỳ này cũng có xu hướng dịch về phía Nam.

+ Bên cạnh các phế tích kiến trúc, qua khai quật đã thu thập được các nhóm hiện vật các thời Lý, Trần, Lê và Nguyễn, trong đó chiếm tỷ lệ lớn có niên đại thời Lý là các vật liệu và trang trí kiến trúc liên quan trực tiếp đến chùa Linh Nhân Tư Phúc tự và ngôi đền thờ Linh Nhân Hoàng Thái hậu, với kỹ thuật và nghệ thuật trang trí, điêu khắc tinh xảo chủ yếu bằng đất nung và đá sa thạch (gạch lát nền, trang trí hoa cúc, hoa mẫu đơn; ngói mũi hài, ngói ống, đầu ngói trang trí hoa sen, lá đề trang trí rồng và chữ Hán ở mặt sau, tượng sư tử đá, uyên ương, mảnh tượng Kim Cương…), đặc biệt có viên gạch ghi niên hiệu: Lý gia đệ tam đế Chương Thánh Gia Khánh thất niên tạo (1066).

 Gạch: Lý gia đệ tam đế Chương Thánh Gia Khánh thất niên tạo (1066).

Các mảnh trang trí tháp đất nung thời Lý.

Trong bộ sưu tập hiện vật còn có mặt các đồ gốm sứ, sành, đất nung và các tàn tích vật chất khác phản ánh sinh động quá trình sinh hoạt tôn giáo nơi đây suốt từ thời Lý đến thời Nguyễn.

3.Một vài suy nghĩ về giải pháp trùng tu, tôn tạo

Kết quả nghiên cứu và khai quật khảo cổ học trong các năm 2005 và 2013 đã khẳng định rõ sự tồn tại của công trình kiến trúc có qui mô to lớn thời Lý được Linh Nhân Hoàng Thái hậu cho xây dựng vào năm 1115 như sử sách và truyền thuyết dân gian lưu truyền. Thông qua các di tích, di vật được phát hiện cho thấy di tích khởi dựng từ thời Lý, liên tục được trùng tu, sửa chữa và xây dựng vào các thời kỳ sau, khẳng định vị trí và ảnh hưởng của Linh Nhân Hoàng Thái hậu cùng tư tưởng Phật giáo thấm đẫm trong đời sống tâm linh và tâm thức dân gian.

3.1. Tuy nhiên, để có cơ sở phục dựng đầy đủ hơn diện mạo vốn có của di tích, còn khá nhiều vấn đề đặt ra cho công tác khảo cổ học. Dưới đây, chúng tôi xin đề cập tới 3 nội dung:

- Các bước gian là cơ sở để xác lập bố cục mặt bằng, qui mô, kích thước và các vấn đề liên quan đến công trình kiến trúc. Hiện nay, qua hố khai quật năm 2013 ở phía Bắc tòa Tam Bảo, đã tìm thấy 4 trụ sỏi gia cố chân tảng. Qua diễn biến địa tầng, cấu tạo và phân bố của các gia cố cũng như so sánh diễn biễn và mặt bằng hiện trạng, từ đó có thể xác định đây là hai hàng cột hiên và cột quân tạo thành hành lang rộng khoảng 2,2m ở phía Bắc ngôi chùa thời Lý. Do diện tích hố đào khống chế bởi ngôi chùa và tòa Tam Bảo, không thể mở rộng, nên những tư liệu khảo cổ học cung cấp chỉ là những gợi ý ban đầu chưa đầy đủ cho việc suy dựng mặt bằng kiến trúc chùa Linh Nhân Tư Phúc tự.

- Về bố cục mặt bằng kiến trúc chùa, các phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học từ năm 2005 đến năm 2013 tại di tích đền chùa Bà Tấm cho thấy phạm vi, phân bố các vết tích lớp kiến trúc thời Lý rất đậm đặc, có xu hướng phát triển và tịnh tiến dần vào vị trí tòa Tam Bảo và ngôi chùa hiện tại. Từ thực tế kết quả nghiên cứu cùng với hiện trạng chùa (nhất là cao độ cũng như vị trí của 2 tượng sư tử đá thời Lý) cho thấy phần trung tâm, “lõi” quan trọng nhất của ngôi chùa Linh Nhân Tư Phúc tự thời Lý nằm ở dưới, đúng ở vị trí Tam Bảo và chùa hiện nay. Đây là nơi lưu giữ những giá trị quý giá nhất còn lại của ngôi chùa do chính Linh Nhân Hoàng Thái hậu xây dựng. Tuy nhiên, do sự tồn tại của kiến trúc chùa và tòa Tam Bảo cũng như sự ngưỡng vọng đối với Hoàng Thái hậu và tâm thức dân gian nên sự quý giá ấy chỉ được ghi nhận, nâng niu và gìn giữ, chưa thể nghiên cứu và khai quật khảo cổ học, vì vậy, bố cục mặt bằng chùa vẫn chưa được xác định, nếu có điều kiện nghiên cứu và khai quật ở khu vực này sẽ góp phần quan trọng trong nhận thức về mặt bằng kiến trúc và nghệ thuật Phật giáo thời Lý, về nhân vật lịch sử Nguyên phi Ỷ Lan/Linh Nhân Hoàng Thái hậu và các vấn đề liên quan để từ đó có sự nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, khoa học trong tôn tạo và phát huy giá trị.

- Bố cục mặt bằng tổng thể kiến trúc chùa Linh Nhân Tư Phúc tự thời Lý cũng là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Liệu rằng trong mặt bằng tổng thể ấy, ngoài chùa và đền thờ là hai kiến trúc chính, còn có kiến trúc tháp vốn là đặc trưng của mặt bằng kiến trúc Phật giáo thời Lý ?.  Chúng ta mới chỉ biết tới các mảnh trang trí tháp bằng đất nung, các mảnh vật liệu có ký tự, cho biết tháp cao hơn 10 tầng. Mặc dù chỉ là những thông tin ban đầu và còn hạn chế, song qua đó đã khẳng định sự hiện diện của ngọn Bảo tháp, bên cạnh kiến trúc chùa và đền hiện biết. Vị trí, qui mô, kích thước và các vấn đề liên quan đến Bảo tháp vẫn chưa thể lý giải.

Thực tiễn ấy đã đặt ra yêu cầu về giải pháp trùng tu, tôn tạo di tích như thế nào nhằm tôn vinh và phát huy giá trị di tích, làm sao vừa đáp ứng được nhu cầu tâm linh và sự tôn kính của nhân dân đối với Linh Nhân Hoàng Thái hậu, lại vẫn không động chạm, thậm chí phá hủy mất phế tích quan trọng nhất còn lại của thời Lý (vì nếu dựng kiến trúc mới trên vị trí nền cũ sẽ phải hạ giải kiến trúc hiện tồn, đào móng, phá dỡ…) trong khi chưa thể nghiên cứu, khai quật kỹ lưỡng ?. Như vậy, phương án phục dựng ở vị trí chùa và Tam Bảo hiện nay, với việc các phế tích sẽ được làm xuất lộ toàn bộ, chùa được dựng ở trên và chọn vị trí phù hợp làm bảo tàng tại chỗ là không có sức thuyết phục.

Trước yêu cầu đó, lựa chọn phương án tôn tạo lại chùa Linh Nhân Tư Phúc tự tối ưu nhất đó là chùa Linh Nhân Tư Phúc tự sẽ không dựng lại ở khu vực chùa và Tam Bảo hiện nay mà dịch chuyển về phía trước (phía Nam) là khu vực sân chùa, nơi có không gian thoáng, rộng đáp ứng được thiết kế cho ngôi chùa mới. Còn vị trí của ngôi chùa Linh Nhân Tư Phúc tự (khu Tam Bảo hiện nay) được giữ nguyên trạng, sẽ tiến hành nghiên cứu, khai quật khảo cổ học khi điều kiện cho phép. Giải pháp này sẽ là cơ hội để, qua nghiên cứu sẽ tiếp tục làm sáng tỏ nhiều giá trị di sản văn hóa, kiến trúc Phật giáo gắn với nhân vật lịch sử nổi tiếng Nguyên phi Ỷ Lan/Linh Nhân Hoàng Thái hậu trong bối cảnh khi sự đồng hành của tư tưởng Phật giáo đã góp phần cho sự thịnh trị của triều đại nhà Lý với những thành tựu vượt trội, khẳng định những giá trị của văn hóa/văn minh Đại Việt trong tiến trình lịch sử dân tộc.

Quan điểm trùng tù này theo chúng tôi là khả quan nhất, tuân thủ đúng các nguyên tắc bảo tồn và trùng tu di tích đã được khẳng định trong các văn bản, hiến chương quốc tế. Trong Hiến chương quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu di tích và di di chỉ (Hiến chương Venice) năm 1965 và Hiến chương về bảo vệ và quản lý di sản Khảo cổ học được Đại hội đồng ICOMOS thông qua tại Lausanne năm 1990 đã nêu rõ việc nhất thiết phải bảo tồn các di tích và di chỉ tại chỗ. Mọi việc di chuyển các yếu tố của di sản đến một địa điểm mới đều là vi phạm nguyên tắc bảo tồn di sản trong khung cảnh gốc của nó. Điều này cũng khẳng định nguyên tắc là di sản Khảo cổ học cũng không được để phơi lộ thiên dưới mưa gió do khai quật và sau khai quật nếu không có khả năng tài chính để đảm bảo việc bảo quản và quản lý. Việc tái dựng lại di tích cũng cần phải được tiến hành hết sức thận trọng để tránh làm xáo trộn mọi chứng tích khảo cổ học còn tồn tại và phải lưu tâm đến mọi loại chứng tích để đạt được tính xác thực. Các công trình tái dựng không được xây trực tiếp trên các vết tích khảo cổ học và phải được xác định đúng như vậy.

Từ quan điểm và nguyên tắc đó, cho thấy nhiệm vụ chủ yếu của công tác trùng tu là gia cố di tích, bảo đảm cho di tích tồn tại lâu dài ở dạng nguyên trạng, không xê dịch. Tuy nhiên, đối với các di sản văn hóa Phật giáo, nhu cầu thờ tự và sinh hoạt của tăng, ni, phật tử và cộng đồng là rất cần thiết, do vậy việc trùng tu, tôn tạo di tích ngoài việc bảo tồn các yếu tố nguyên gốc cũng phải tạo lập không gian mới để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đó. Do vậy, khi tạo lập không gian mới phải tiến hành nghiên cứu, lựa chọn mẫu thức một cách thận trọng, khoa học để không làm phá vỡ cảnh quan nguyên gốc và những giá trị lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ vốn có của di tích. Để thực hiện được điều đó thì vai trò của công tác khảo sát, nghiên cứu và khai quật khảo cổ học là rất quan trọng.

3.2. Thực tế đã chứng minh vai trò to lớn của công tác nghiên cứu và khai quật khảo cổ đối với công tác bảo tồn, tôn tạo và trùng tu di sản văn hóa Phật giáo trong nhiều năm qua, như trường hợp ở di tích chùa Long Đọi  Sơn và chùa Đậu - là 2 trong số khá nhiều các di tích kiến trúc Phật giáo Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã tiến hành nghiên cứu, khai quật và đưa ra những kiến nghị trùng tu, tôn tạo hiệu quả .

- Chùa Long Đọi, nằm trên đỉnh núi Đọi, thôn Đọi Nhất, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Chùa có tên chữ là Diên Linh tự, do vua Lý Thánh Tông và Nguyên phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054. Đến năm 1118, sau một năm ngày mất của Nguyên phi Hoàng Thái hậu Ỷ Lan, vua Lý Nhân Tông đã cho dựng tháp Sùng Thiên Diên Linh 13 tầng tại đây, năm 1121 mới khánh thành và cho dựng bia đá. Chùa và tháp đã bị giặc Minh phá hủy, bia bị lật đổ xuống chân núi. Đến năm 1591, đời Mạc Mậu Hợp, nhân dân địa phương mới dựng lại bia đổ, trùng tu lại chùa. Từ thời Tự Đức, triều Nguyễn (khoảng từ 1854 - 1864) cho đến sau này, chùa Long Đọi đã được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Đầu những năm 2000, do tình trạng nhiều kiến trúc trong chùa đã bị xuống cấp nghiêm trọng, chính quyền, nhân dân và nhà chùa đã có dự án tu bổ, tôn tạo và trùng tu lại di tích này. Trước nhu cầu thực tiễn đó, năm 2001, Bảo tàng Lịch sử quốc gia và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nam đã phối hợp tiến hành khai quật để tìm kiếm tư liệu, cứ liệu khoa học để phục vụ vông tác trùng tu, tôn tạo. Kết quả khai quật đã xác định được vị trí, quy mô và dấu tích nền móng của kiến trúc tháp Sùng Thiện Diên Linh ngay dưới chân móng tòa Tam Bảo và Nhà Tổ, hành lang ở phía sau. Vấn đề đặt ra với các nhà thiết kế trùng tu là nên di dời Tam Bảo để làm lộ rõ nền móng tháp thời Lý và di dời chùa ra vị trí mới hay lấp cát bảo tồn nền móng tháp và tu bổ Tam Bảo, Nhà Tổ và hành lang ngay tại vị trí hiện tại?. Điều này đã làm đau đầu các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và trùng tu, nhiều cuộc Hội thảo đã được mở ra để tìm giải pháp hữu hiệu. Cuối cùng phương án bảo tồn nguyên trạng cả kiến trúc chùa hiện tại và nền móng tháp Sùng Thiện Diên Linh đã được lựa chọn. Theo đó, ngôi chùa hiện tại đã được tiến hành tu bổ, tôn tạo theo thức kiến trúc thời Nguyễn (vì còn đầy đủ cứ liệu khoa học nhất) và đồng thời thiết kế mái che và gia cố lại nền móng kiến trúc tháp Sùng Thiện Diên Linh để làm điểm trưng bày, giới thiệu. Như vậy, giờ đây khi đến với chùa Long Đọi, ngoài quy mô kiến trúc chùa đã được tu bổ, cùng với các di vật hiện tồn như bia đá, tượng Kim Cương, chúng ta còn có thể tham quan, diện kiến những dấu vết nền móng kiến trúc của tòa tháp Sùng Thiện Diên Linh thời Lý - một di sản văn hóa Phật giáo quý giá rất đáng trân trọng.

- Chùa Đậu là một ví dụ khác. Chùa nằm ở xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội. Chùa có tên chữ là Thành Đạo tự hay Pháp Vũ tự. Theo truyền thuyết, chùa được xây dựng từ thời Bắc thuộc, văn bia lại cho biết chùa xây từ thời Lý, được tu bổ thời Trần, thời Mạc trùng tu lại, thời Lê Trung Hưng được các chúa Trịnh đầu tư tu bổ, tôn tạo, sang thời Tây Sơn thì được trùng tu có quy mô. Hiện nay ở chùa còn nhiều di vật quý như thành bậc thời Trần, bia đá thời Mạc, Lê, chuông thời Tây Sơn…, đáng chú ý là còn 02 nhục thân của 02 vị sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường thời Lê Trung Hưng. Theo thời gian, ngôi chùa dần bị xuống cấp, trong đó khu vực Tam Bảo đã bị hạ giải, rất cần được trùng tu, tôn tạo. Với phương châm “khảo cổ học luôn đi trước một bước”, vào nửa cuối năm 2006, Bảo tàng Lịch sử quốc gia và Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây (nay là Sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội) tiến hành khai quật và đã tìm thấy dấu vết kiến trúc thời Trần, đặc biệt đã làm rõ quy mô, kết cấu nền móng hình chữ Công (I) của tòa kiến trúc Tam Bảo thời Mạc, Lê Trung Hưng và lớp kiến trúc hiện trạng của thời Tây Sơn, trong đó, lớp kiến trúc thời Tây Sơn đã ôm, phủ lên toàn bộ hai lớp kiến trúc thời Mạc và Lê Trung Hưng. Từ kết quả nghiên cứu khảo cổ học (qua dấu vết nền móng, qua vật liệu và trang trí kiến trúc tìm thấy), kết hợp với tư liệu lịch sử, hình ảnh lưu trữ từ thời Pháp thuộc, người ta đã chọn giải pháp khôi phục lại kiến trúc Tam Bảo chùa Đậu theo lớp kiến trúc thời Tây Sơn, đồng thời bảo quản nguyên trạng toàn bộ vết tích thời Mạc và Lê Trung Hưng trong lòng nền. Ngoài ra, căn cứ theo mẫu thức trang trí trên gạch thời Mạc, người ta đã cho tái dựng những họa tiết trang trí rồng, lân, hoa sen, chuột của thời Mạc lên bề mặt gạch bó nền của công trình kiến trúc.

Có thể nói, dù chưa thực sự thuyết phục nhưng với mong muốn tái dựng lại đầy đủ cảnh quan, kiến trúc chùa Đậu trong lịch sử, phương án trùng tu, tôn tạo lại kiến trúc Tam Bảo của chùa Đậu như vậy cũng đã đem lại cho tổng thể ngôi chùa một diện mạo khang trang và hai hòa với những công trình hiện tồn, đồng thời vẫn bảo quản được các vết tích nền móng cổ xưa trong lòng đất để có thể quảng bá, giới thiệu và phát huy được giá trị lịch sử, văn hóa lâu đời của ngôi chùa được mệnh danh là Danh lam cổ tự của đất kinh kỳ.

3.3. Qua thực tiễn nghiên cứu và khai quật tại di tích đền chùa Bà Tấm (Linh Nhân Tư Phúc tự) cùng so sánh với một vài di tích tiêu biểu khác đã cho thấy, khảo cổ học với công tác bảo tồn, trùng tu và phát huy giá trị di tích nói chung, di sản Phật giáo nói riêng là hai lĩnh vực có mối quan hệ khăng khít, liên quan trực tiếp với nhau. Khảo cổ học đã đi tiên phong và là chìa khóa cho các giải pháp bảo tồn, tôn tạo và trùng tu di tích một cách hiệu quả nhất. Mặc dù từ nghiên cứu ban đầu đến ứng dụng vào thực tiễn còn có những độ chênh nhất định, song, rõ ràng đã có những tiếng nói chung trong xây dựng những phương án, giải pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ và phát huy hiệu quả giá trị các di sản văn hóa, trong đó, chiếm số lượng đáng kể là di sản văn hóa Phật giáo.

TS.Nguyễn Văn Đoàn

 

Liên kết website

Số lượng truy cập

Cơ quan chủ quản: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đơn vị quản lý: Bảo tàng Lịch sử quốc gia - Giấy phép số: 164/GP-TTĐT cấp ngày: 31/10/2012

Chịu trách nhiệm: TS. Nguyễn Văn Cường - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Địa chỉ: Số 1, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Số 216, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Email: banbientap@baotanglichsu.vn - Tel/Fax: 84.4.38252853