Bạn chưa chọn câu trả lời
Biểu quyết thành công
Biểu quyết thất bại

Khảo cổ học và môi trường sinh thái (Phần 2 và hết)

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

  Ngày 20/12/2017
  • 127
  • 0

2.2 Tiểu vùng văn hóa Tây Nam bộ.  Cho đến nay thành tựu chủ yếu là về một nền văn hóa cổ phát triển từ đầu Công nguyên đến TK VII và truyền thống của nó còn kéo dài đến thế kỷ X – XIII, đó là văn hóa Óc Eo với trung tâm là tứ giác Long Xuyên, vùng trũng ngập lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long.

Môi trường của văn hóa Óc Eo là vùng sông rạch, đầm đìa, bưng biền…và đồi núi như Bà Đen, Núi Sam, Núi Sập, Bảy Núi, Ba Thê …những giồng, gò nổi cao giữa vùng thấp trũng ngập nước hàng năm. Đây là vùng chịu ảnh hưởng rất lớn của các đợt biển tiến thời Holocene từ khoảng 5000 năm TCN đến khoảng 1200 năm (TK XII) sau Công nguyên. Thời kỳ Trước Công nguyên biển tiến Holocene đã ngăn chặn sự lan tỏa của văn hóa Đồng Nai xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long, vì vậy ở miền Tây Nam bộ tìm thấy khá ít ỏi di tích khảo cổ thời Tiền sử. Chỉ đến khoảng đầu CN nước biển rút thì các nhóm cư dân bản địa của văn hóa Đồng Nai bắt đầu mở rộng địa bàn cư trú xuống vùng này cùng với một bộ phận cư dân từ hải đảo vào. Liên quan đến thời kỳ văn hóa Óc Eo là biển tiến Holocene IV bắt đầu từ giữa TK IV và đạt dỉnh cao vào giữa TK VII, sau đó rút biển dần trả lại bề mặt đồng bằng vào khoảng TK XII. Đợt biển tiến này được coi là yếu tố quan trọng đã “tàn phá” các di tích của văn hóa Óc Eo: hiện nay ở Nam bộ chỉ còn lại các phế tích kiến trúc đền tháp, di tích cư trú kiểu nhà sàn kéo dài dọc sông rạch, di tích cư trú trên các giồng gò cao giữa đồng bằng…Các cuộc khai quật từ thời L.Malleret (1944) đã tìm thấy dấu tích khoảng 30“đường nước cổ” là các kênh đào ngang dọc ở vùng thấp trũng tứ giác Long xuyên. Đây vừa là hệ thống đường giao thông lợi dụng thủy triều ra vào cảng thị Óc Eo, vừa là hệ thống thủy lợi thoát nước trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long. Trên vùng trung tâm khảo cổ học đã phát hiện những cổ vật qúy giá, nhiều di vật như tượng thờ ngay trong các di tích đền tháp, mộ táng, vật dụng phục vụ sinh hoạt vật chất, sinh họat tinh thần tồn tại khá nhiều tại các di chỉ cư trú (in-situ)… Đợt biển tiến Holoxene IV ở đồng bằng sông Cửu Long đã là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho nền văn hóa Óc Eo rực rỡ “đột ngột biến mất”, vì phần lớn cư dân buộc phải dần dần rời bỏ địa bàn cư trú thấp trũng, tìm các gò giồng cao để ở hay tiến lên vùng cao miền Đông Nam bộ hoặc xa hơn. Vì vậy  di tích văn hóa Óc Eo miền Đông Nam bộ thường có niên đại muộn và sau TK VII trên tòan Nam bộ vẫn tồn tại truyền thống văn hóa Oc Eo đến tận TK XIII, thời điểm mà theo ghi chép của Châu Đạt Quan trong Chân Lạp phong thổ kí  đây vẫn là vùng hoang vu hầu như không có người sinh sống.

Trong thời kỳ hình thành và phát triển của văn hóa Óc Eo từ TK I đến TK VII, khu vực Oc Eo – Ba Thê được nhìn nhận là một cảng biển – đô thị của vương quốc cổ Phù Nam, trạm dừng chân quan trọng trên tuyến đường biển nối liền Nam Á và Bắc Á với hai trung tâm văn minh lớn của nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa. Để có thể tồn tại và phát triển, cư dân Óc Eo đã tạo ra những điều kiện sống thích hợp, chấp nhận và khai thác những mùa nước nổi theo chu kỳ hàng năm. (Khái niệm “sống chung với lũ” chỉ mới xuất hiện từ khoảng năm 1996 với những ám ảnh tiêu cực, thiệt hại vật chất và sinh mạng. Vì vậy, chúng ta thường ứng xử một cách lúng túng và bi thảm hóa một hiện tượng bình thường của tự nhiên mà ông cha ta trước đây đã bình tĩnh khai thác làm lợi cho mình). Đặc điểm nổi bật của lối sống cư dân văn hóa Óc Eo là tiếp tục cuộc sống trên nhà sàn ven hệ thống sông rạch tự nhiên và nhân tạo, chọn các vùng đất cao như đồi, gò, giồng…để cư trú và canh tác. Điều thú vị nhất  là dù ở môi trường địa hình nào thì cư dân cổ toàn Nam bộ vẫn chung một loại hình di vật độc đáo: bếp gốm – cà ràng, vật dụng của cư dân sống trên nhà sàn và trên ghe xuồng. Từ đó hình thành hai phương thức kinh tế chủ yếu là làm ruộng ở vùng thấp miền Tây sông Hậu – miệt ruộng và làm vườn ở vùng cao ven hạ lưu sông Tiền – văn minh miệt vườn. Cảnh quan làng Nam bộ theo đó cũng có nét độc đáo riêng: phân bố trải dài theo sông rạch, nhà cửa quay mặt ra sông rạch đón gió mát khi nước lớn. Phương tiện giao thông chủ yếu là ghe xuồng nương theo con nước thủy triều lên xuống, chờ con nước lớn  nước ròng các bến neo đậu ghe xuồng dần trở thành thị tứchợ búa. Tính chất cởi mở, giao lưu rộng rãi là đặc điểm xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế – văn hóa Nam bộ ít nhất là từ thời văn hóa Óc Eo đến nay.

3Bước vào thế kỷ 21, cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội và sự gia tăng các nhu cầu văn hóa, vai trò của các thiết chế văn hóa-giáo dục, trong đó có bảo tàng ngày càng được khẳng định trong đời sống xã hội. Đặc biệt trong xu thế “toàn cầu hóa” thì bảo tàng lại càng có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, gìn giữ sự đa dạng và bản sắc văn hóa của các cộng đồng người trong những môi trường sinh thái khác nhau và ở những giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử lòai người.

Theo ICOM (Hội đồng Bảo tàng Quốc tế thuộc UNESCO), “Bảo tàng là một thiết chế phi vụ lợi, họat động lâu dài phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội, mở cửa đón công chúng đến xem, có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, tuyên truyền và trưng bày các bằng chứng vật chất về con người và môi trường sống của con người, vì mục đích nghiên cứu, gíao dục và thưởng thức.” Theo định nghĩa trên bảo tàng có 3 chức năng quan trọng là nghiên cứu khoa học, sưu tầm và bảo quản di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cùng các mẫu vật thiên nhiên. Như vậy, nếu căn cứ vào các bộ sưu tập hiện vật và nội dung trưng bày thì sẽ có 2 lọai hình bảo tàng chính là bảo tàng lịch sử xã hội và bảo tàng lịch sử tự nhiên. Ở Việt Nam những bảo tàng đầu tiên do người Pháp thành lập vào khoảng  đầu thế kỷ 20 cũng gồm 2 lọai hình trên, đó là Bảo tàng Hải dương học (Nha Trang), Bảo tàng Địa chất (1914, Hà Nội), Bảo tàng Điêu khắc Chăm (BT H.Parmentier, 1918, Đà Nẵng), Bảo tàng Blanchard De la Brosse (1929, Sài Gòn), Bảo tàng L. Finot (1932, Hà Nội). Ngoài ra, Vườn bách thảo Hà Nội và Thảo cầm viên Sào Gòn cũng được coi là hai công viên - bảo tàng tự nhiên của Đông Dương lúc bấy giờ. Trải qua một thế kỷ phát triển, đến nay Việt Nam đã có một hệ thống 115 bảo tàng với 7 bảo tàng Quốc gia, 6 bảo tàng chuyên ngành, 78 bảo tàng thuộc tỉnh, thành phố, 24 bảo tàng thuộc Lực lượng vũ trang…Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là với kho tàng di sản văn hóa và thiên nhiên phong phú, hệ thống bảo tàng Việt Nam còn chưa khai thác được tiềm năng của di sản thiên nhiên đa dạng và độc đáo để phát triển lọai hình bảo tàng tự nhiên, bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của lọai hình bảo tàng lịch sử xã hội dưới hình thức là các bảo tàng khảo cứu địa phương. Vì vậy, dịnh hướng Quy họach Bảo tàng Việt Nam đến năm 2020  của Bộ Văn hóa – Thông tin đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt có nội dung thành lập và xây mới Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam tại Hà Nội cùng với các chi nhánh là những bảo tàng chuyên ngành về Lịch sử tự nhiên và các khu bảo tồn thiên nhiên trong cả nước, trong đó có Bảo tàng về thiên nhiên Nam Bộ đặt tại Thủ Đức – TP.Hồ Chí Minh. Đây là một trong những định hướng nhằm đón đầu khả năng phát triển và nâng cao năng lực bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, di sản thiên nhiên của ngành bảo tàng Việt Nam.

Lý thuyết bảo tàng học hiện đại những năm gần đây xuất hiện khái niệm “bảo tàng hóa” di sản văn hóa. Theo nghĩa rộng đó là bảo tồn và phát huy tất cả các di sản văn hóa (động sản và bất động sản) đã bị/ được đưa ra khỏi môi trường tồn tại ban đầu và đặt trong một môi trường nhân tạo do con người tổ chức ra - đó là các bảo tàng. Còn theo nghĩa hẹp là một phương án tối ưu và hiện đại nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trực tiếp ngay trong môi trường sinh thái nhân văn, nơi di sản văn hóa được sáng tạo ra và hiện đang tồn tại gắn bó với cộng đồng cư dân là chủ thể của những di sản văn hóa ấy: một “bảo tàng sống – tại chỗ” bao gồm trong đó có tự nhiên, con người  và di sản văn hóa vật thể – phi vật thể do con người sáng tạo lên trong một môi trường và ở một trình độ nhất định. Chính vì vậy mà các văn hóa khảo cổ học thời tiền sử – vốn có vị trí quan trọng trong loại hình bảo tàng lịch sử xã hội – cũng đã trở thành một nội dung trưng bày của loại hình bảo tàng lịch sử tự nhiên với ý nghĩa: thông qua di vật mà các cộng đồng dân cư cổ đại để lại (công cụ lao động sản xuất, vật dụng sinh hoạt, tàn tích thức ăn, di cốt người, động vật…) ta có thể nhận biết điều kiện sống qua mức độ khai thác môi trường tự nhiên, tức là mức độ thích nghi với tự nhiên của người xưa. Nói một cách khác, di vật khảo cổ chính là bằng chứng, là sự phản ánh gián tiếp của môi trường sinh thái và những biến đổi của tự nhiên. Có thể lấy thành tựu nghiên cứu về khảo cổ học Thời đại đồ đá Việt Nam minh chứng cho điều này. Khi nghiên cứu tiền sử Việt Nam cũng như Đông Nam Á, khảo cổ học hết sức chú ý đến Hệ sinh thái  ở khu vực này được phản ánh qua lối sống, cụ thể trong hoạt động săn bắt hái lượm của cư dân tiền sử ở đây. Căn cứ vào tàn tích thức ăn động thực vật, khảo cổ học nhận thấy người cổ đã sử dụng nhiều loại thức ăn nhưng mỗi loại một ít, lại tùy theo mùa và thức ăn thực vật khá phong phú. Trong khi đó thức ăn động vật có được do hoạt động săn bắt không nhiều, phổ biến các loại động vật thủy sinh nhất là các loài nhuyễn thể nước ngọt, nước lợ… Khảo cổ học gọi đây là lối hái lượm theo phổ rộng. Từ đặc điểm này có thể nhận dạng hệ sinh thái ĐNA – Việt Nam là hệ sinh thái Phổ tạp với đặc trưng chỉ số đa dạng cao, số loài nhiều nhưng số cá thể ít, thực vật nổi trội hơn động vật về giống loài và số lượng, động vật thủy sinh chiếm ưu thế. Hệ sinh thái Phổ tạp phân bố ở khu vực nhiệt đới khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, môi trường sông nước phổ biến…Trong môi trường sinh thái này, từ lối sống hái lượm theo phổ rộng và trội vượt hơn săn bắt, khi tiến lên nền kinh tế sản xuất thì cư dân ở đây sẽ phát triển một nền nông nghiệp đa canh, tức là thuần hóa nhiều loại thực vật một lúc và trồng trọt sẽ trội vượt hơn chăn nuôi. Quá trình phát triển các nền văn hóa cổ Việt Nam từ thời đồ đá như văn hoá Sơn Vi, Hoà Bình, Bắc Sơn, Hạ Long, Quỳnh Văn, Đa Bút, Hoa Lộc, Bàu Tró…đến các nền văn hóa thời kim khí như Đông Sơn, Sa Huỳnh, Đồng Nai là sự thể hiện sinh động cho quá trình này.

Hiện nay trong nhiều bảo tàng khi trưng bày về Thời Tiền sử, di vật khảo cổ luôn được đặt trong bối cảnh môi trường sinh thái vì chỉ có như vậy người xem mới hiểu được chức năng, công dụng và ý nghĩa của di vật, nhất là công cụ lao động, đồng thời cũng để tăng cường sự hấp dẫn của hình thức trưng bày.

Như vậy với những thành tựu trên, bước đầu Khảo cổ học Nam bộ đã được các nhà khảo cổ nghiên cứu di tích – văn hóa khảo cổ gắn liền với môi trường, địa hình sinh thái. Qua đó cho thấy môi trường tự nhiên và sự thay đổi của nó (nếu có) hết sức quan trọng vì ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của những cộng đồng cư dân cổ. Dấu ấn để lại không chỉ là sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên mà còn là sự tác động và biến đổi môi trường tự nhiên vì lợi ích của con người. Trong xu hướng phát triển của bảo tàng Việt Nam hiện nay, việc xây dựng Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Nam bộ đã trở thành nhu cầu cấp thiết, không chỉ để nghiên cứu và bảo tồn kịp thời những mẫu vật tự nhiên, hệ sinh thái tự nhiên mà còn nhằm nghiên cứu để nâng cao nhận thức và hiểu biết một cách đúng đắn về phương thức sinh sống của các tộc người cổ xưa trong môi trường sinh thái đặc thù của Nam bộ. Văn hóa khảo cổ trong bối cảnh môi trường sinh thái nhân văn, vì thế, cần được thể hiện trong một phần nội dung của Bảo tàng lịch sử tự nhiên Nam bộ khi bảo tàng này được xây dựng.  Có như vậy, bảo tàng mới thực hiện được vai trò chức năng tuyên truyền giáo dục trong đó có việc giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường sinh thái nhân văn trong cộng đồng cư dân, vì  đây là một tiền đề quan trọng đảm bảo cho sự phát triển bền vững của tất cả các quốc gia khi mà môi trường sinh thái trên trái đất hiện nay đang trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu.

TS.Nguyễn Thị Hậu

 THAM KHẢO:

 - Trần Quốc Vượng chủ biên. Cơ sở văn hóa Việt NamNXB Giáo dục, 2000.

- Viện Bảo tàng lịch sử VN và Bảo tàng lịch sử VN.TPHCM. Khảo cổ học Tiền sử và sơ sử TPHCM. NXB Trẻ, 1998.

- Lê Xuân Diệm – Đào Linh Côn – Võ Sĩ Khải. Văn hoá Oc Eo những khám phá mới. NXB KHXH, 1996.

- Hà Văn Thùy. Từ sự tiêu diệt của Phù Nam nhìn lại đồng bằng sông Cửu LongTạp chí Xưa và nay, số 246 tháng 10 – 2005.

- Nguyễn Minh Nhị. Mùa nước nổi nay mai sẽ là mùa sản xuất chính ở An Giang. Báo Sài Gòn giải phóng thứ bảy, số 648 ngày 16.8.2003.

Liên kết website

Số lượng truy cập

Cơ quan chủ quản: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đơn vị quản lý: Bảo tàng Lịch sử quốc gia - Giấy phép số: 164/GP-TTĐT cấp ngày: 31/10/2012

Chịu trách nhiệm: TS. Nguyễn Văn Cường - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Địa chỉ: Số 1, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Số 216, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Email: banbientap@baotanglichsu.vn - Tel/Fax: 84.4.38252853