Bạn chưa chọn câu trả lời
Biểu quyết thành công
Biểu quyết thất bại

Dấu ấn văn hóa Chămpa ở Kinh thành Thăng Long

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

  Ngày 19/09/2018
  • 127
  • 0

Nhớ lại về những năm đầu tiên (2002-2004) khai quật và nghiên cứu Hoàng Thành Thăng Long, những nhà khảo cổ học với mục đích gìn giữ di sản đã sẵn lòng kể chuyện, giải thích về lịch sử nước nhà, lịch sử Thăng Long, về tầm quan trọng của di tích, của văn hoá Việt của tinh thần dân tộc... và sự cần thiết phải bảo vệ di sản, biến nơi đây thành một bảo tàng gìn giữ truyền thống này cho hậu thế. Đến công trường khai quật thời điểm ấy gần như lúc nào cũng thấy tiếng loa cầm tay do các nhà khảo cổ đang giải thích cho hàng đoàn khách đến thăm di tích Hoàng Thành Thăng Long vừa phát lộ. Mỗi khi dẫn các đoàn khách đi thăm di tích, nhìn lên bức tường ngăn khu di tích với phố Hoàng Diệu, tôi thấy không biết bao nhiêu người dân Hà Nội đã dừng lại trèo lên xe ngó vào và chăm chú nghe, lúc đó trong tôi cảm giác thật khó tả, thật cảm động. Nhiều kỷ niệm về công việc này sẽ không bao giờ tôi quên được. Chúng tôi luôn thuyết minh về di tích và luôn lắng nghe rồi trả lời tất cả các câu hỏi của khách thăm.

Nói về ảnh hưởng văn hoá từ bên ngoài trên kiến trúc Hoàng Thành Thăng Long, tôi muốn nhớ lại một thắc mắc rất hay từ một nữ Việt kiều ở Cộng Hoà Séc. Chị ấy đẹp, trong suốt buổi tôi trình bày về di tích gần 2 giờ đồng hồ, chị ấy cứ im lặng nghe và cuối buổi, rất dịu dàng và hơi ngại ngùng đến gần tôi và hỏi: “ Xin lỗi, tôi thấy anh giải thích rất hay về kiến trúc, về di vật của Hoàng Thành Thăng Long, là một người Việt Nam, tôi rất tự hào nhưng tôi thấy ở đây có rất nhiều hoạ tiết, motif hoa văn trên kiến trúc đặc biệt là thời Lý - Trần có hơi giống tháp Chàm và bảo tàng Chàm Đà Nẵng”. Đây là một câu hỏi rất thú vị và nó đã đến với tôi, một người có nhiều năm nghiên cứu khảo cổ học Champa, đang rất muốn trình bày về sự ảnh hưởng của nền văn hoá này đến văn minh Đại Việt nói chung và trên kinh thành Thăng Long nói riêng.

1.Tiền đề cho sự du nhập văn hóa Chămpa

Ngay từ buổi đầu của nền độc lập, nhà Tiền Lê đã cất quân đi đánh Chămpa, sử cũ chép rằng: Năm Nhâm Ngọ thứ 3 [982]... Vua thân đi đánh nước Chiêm Thành thắng được. Trước đây, vua sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị họ bắt giữ, vua giận, mới đóng thuyền chiến, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém được Phê - mỵ - thuế tại trận; Chiêm thành thua to; bắt sống được binh sĩ không biết bao nhiêu mà kể; bắt được kỹ nữ tong cung trăm người và một thầy tăng người Thiên Trúc... (Ngô Sĩ Liên, 1967, tr.168).

Chắc chắn trong những năm tháng ban đầu ấy, với những tiếp xúc với Chămpa, thân thiện hay không thân thiện, hình ảnh con người và đất nước Chămpa đã in dấu ấn vào vị vua đầu triều của nhà Tiền Lê, rồi những tù binh, cung nữ, cùng những đồ quý giá được đưa về Đại Việt. Trong suốt những năm tháng cuối cùng của thế kỷ 10 dưới triều Tiền Lê đã có không ít hơn một lần người Chămpa quấy rối bờ cõi và nhân đó quân Đại Việt lại tiến vào Chămpa, những cuộc tiếp xúc đó ngày càng nhiều hơn, đều đặn hơn và đương nhiên những ảnh hưởng của nền văn minh Chămpa cũng ngày càng rõ nét hơn vào Đại Việt. Chúng ta, sau này còn thấy ở Kinh đô Hoa Lư dấu ấn ấy trên những mặt hổ phù trên kiến trúc, trên những hình chạm trên gạch, những cột kinh khắc chữ Phạn... (Hà Văn Tấn, 1997, tr.786-815). Nhưng, cuộc mở cõi về phương Nam của người Việt phải thực sự quyết liệt vào thời Lý trở về sau, và những yếu tố văn hoá Chămpa cả vật thể và phi vật thể theo bước chân những đoàn quân Nam chinh trở về càng hiển hiện rõ ràng hơn, thậm chí có thể thấy, nền văn minh ấy còn là nguồn cảm hứng vô bờ cho nền nghệ thuật Đại Việt vào thời kỳ sau.

Ngay sau khi lên ngôi vua được một năm, Lý Công Uẩn đã xuống chiếu dời đô về thành Đại La.

Chắc rằng trong những năm đầu của triều đại nhà Lý, việc xây cất kinh thành mới dựa trên những thành tựu của Đại La cũ phải được thực hiện rất ráo riết và những dấu ấn mới, dấu ấn của người Việt, của một quốc gia độc lập phải được xác lập trên kiến trúc, điêu khắc, và phải khác với một nghìn năm Bắc thuộc. Kinh thành Thăng Long được dựng lên bằng tâm hồn Việt, ý chí Việt nhưng rõ ràng những ảnh hưởng từ các nền văn hoá khác là không nhỏ. Quá mệt mỏi với những gì người phương Bắc áp đặt lên con người, lên tâm thức Việt cả ngàn năm qua, Lý Công Uẩn cùng triều đình và người dân nước Việt thấu hiểu cần phải có một diện mạo mới cho kinh thành, một kinh thành của một dân tộc khát khao tự do, khát khao khẳng định mình với tư cách một quốc gia không chỉ độc lập về hành chính mà còn cả về tâm hồn, nghệ thuật đặc biệt là nền kiến trúc. Đến kỷ nguyên của các triều đại sau, đặc biệt là thời Trần việc khẳng định tư cách Đại Việt trước người láng giềng khổng lồ mà sự mô phỏng về nhiều phương diện từ người láng giềng ấy là không tránh khỏi, là tất yếu (Trần Quốc Vượng, 2000: 142).

Tuy vậy, như trên đã nói, một ngàn năm thuộc Bắc với người Việt là quá mệt mỏi và sự kháng cự về văn hoá cũng đã đến kỳ bùng nổ. Bằng tất cả nỗ lực của một nền văn hoá, lòng tự trọng của một dân tộc, thời kỳ Lý - Trần là một cuộc phục hưng mạnh mẽ, đậm bản chất Việt nhất trong lịch sử dân tộc thời trung đại, để lại dấu ấn rõ rệt nhất trong lịch sử ngàn năm Thăng Long. Tuy nhiên những thành tựu đó điều đó không phải ngẫu nhiên mà có. Từ truyền thống văn hoá bản địa, tiếp nối một văn hoá Đông Sơn vẫn ẩn chứa đâu đó trong người dân Việt kết hợp với những yếu tố văn hoá ngoại lai, tiền nhân chúng ta đã tạo nên một nền nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, và một kinh đô rất Việt nhưng cũng ẩn chứa nhiều tinh hoa của văn minh bên ngoài. Trong đó có nguồn cảm hứng từ Chămpa, một nước láng giềng đã có một nền văn minh phát triển rực rỡ với một nền nghệ thuật làm say đắm lòng người. Từ nguồn văn hoá phương Nam này, người Việt đã nhận ra đây chính là một trong những yếu tố làm nhạt nhòa sự mô phỏng từ phương Bắc, hay nói theo cách của cố Giáo sư Trần Quốc Vượng là việc “giải Hoa hóa”.

2.Vài ví dụ của sự du nhập văn hoá Chămpa vào Đại Việt

Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ có thể đưa ra một vài chứng cứ sự hiện diện văn hoá Chămpa chủ yếu trên vùng Thăng Long và phụ cận.

2.1. Điểm qua tư liệu văn hoá Chămpa ở xung quanh Thăng Long

Sau những cuộc tiến quân vào Chămpa, gần như vị vua nào, tướng nào của Đại Việt cũng đều mang về nước rất nhiều quân lính, thợ thủ công, vũ nữ, nhạc công... phục vụ cho một công cuộc xây dựng một nền nghệ thuật mới, kiến trúc mới  của Đại Việt. Những khu định cư của người Chăm được thiết lập xung quanh Thăng Long cả Đông, Nam, Đoài, Bắc. Các nhà nghiên cứu đã biết đến những địa danh như thôn Bà Già bên Hồ Tây (nay thuộc đất làng Phú Gia, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội) là nơi an cư của tù binh Chămpa từ thời Lý Thánh Tông (Nguyễn Vinh Phúc, 1977: 280-281). Qua bên kia sông Hồng, đến làng Võng La, một địa bàn ngay sát sông, các nhà khảo cổ học đã phát hiện trong ngôi chùa làng 2 pho tượng Chămpa chính hiệu, một là tượng thần Shiva, chất liệu sa thạch, một là tượng Bà mẹ Xứ sở (Thiên Yana) tiếc là pho tượng này đã bị đánh tráo từ những năm 60 của thế kỷ trước, tuy nhiên pho tượng đá còn lại và phiên bản của pho tượng bị đánh tráo thì không ai có thể nói là không phải của người Chăm (Nguyễn Tiến Đông, Nguyễn Hữu Thiết, 2005: 806-808).

Tượng thần Shiva (chùa Võng La, Đông Anh, Hà Nội). Chất liệu đá, nguồn: Nguyễn Tiến Đông

Tượng Bà mẹ Xứ sở (Thiên Yana) (chùa Võng La, Đông Anh, Hà Nội). Phục chế, nguồn: Nguyễn Tiến Đông

Bên xứ Bắc, cả một quần thể di tích chùa chiền được khởi dựng từ thời Lý với những chứng cứ về sự có mặt của văn hoá Chămpa như cột đá chùa Dạm, bệ sen chùa Phật tích, hình tượng chim thần Garuda chùa Phật Tích... Điều đó gợi ý rằng làng Võng La cũng có thể là một trong những làng của người Chăm xưa. Chúng ta đều biết ở nhiều ngôi chùa Việt Nam người ta đã thống kê được hàng trăm bệ đá hoa sen mang dấu ấn của văn hoá Chămpa với những nét chạm khắc tinh xảo mà tôi nghĩ có sự tham gia của các nghệ nhân Chăm. Những ngôi tháp cổ như Chương Sơn, Bình Sơn với những đặc trưng về gạch, đất nung và đặc biệt là trang trí rất gần gũi với văn hóa Chămpa từ lâu đã được nhiều người biết tới và Nguyễn Hồng Kiên đã cho rằng nơi đây có sự góp mặt chung tay xây dựng của những người thợ Chămpa mà anh còn nói thẳng ra là tù binh Chămpa (Nguyễn Hồng Kiên, 2000: 744-745). Ở vùng ven sông Đáy thuộc huyện Đan Phượng (Hà Tây cũ, ngoại ô kinh thành Thăng Long xưa) ngoài hệ thống các chùa những bệ đá hoa sen ảnh hưởng từ hình thức bệ thờ Chămpa đã được nhắc đến, người ta còn thấy dấu vết của các công trình dân sinh như những giếng nước được xây bằng kỹ thuật của người Chăm ở xã Song Phương. Điều này cho thấy những người Chăm đến Đại Việt không chỉ mang đến những tác phẩm nghệ thuật mà còn mang theo cả những kiến thức, những kỹ thuật phục vụ cho cuộc sống thường nhật của cộng đồng (Nguyễn Tiến Đông, Ogawa Yako, 2000: 717-718). Có một hình tượng điêu khắc thể hiện cả yếu tố văn hóa vật thể lẫn phi vật thể có nguồn gốc Chăm mà người ta không thể không nhắc đến ở Đại Việt, đó là những pho tượng Phỗng Chàm. Có thể thấy ở bất cứ đâu từ các tỉnh miền núi phía Bắc, đến châu thổ sông Hồng, Thanh Hoá... trong những ngôi chùa, đền, đình đều có sự hiện diện của hình tượng này. Tư liệu văn hóa dân gian cho thấy: “Ở làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân,Thanh Hoá trước kia còn có một trò diễn trong lễ hội làng gọi là trò Chiêm Thành, với 14 người  tham gia (1 chúa, 1 nàng, 2 phỗng, 10 quân). Hai phỗng này làm động tác quỳ dâng hương và động tác quỳ bái rất giống với các pho tượng phỗng Chàm” (Nguyễn Xuân Diện, 2000: 727).

Phải nói rằng trên khắp Đại Việt xưa, sự có mặt của văn hoá phi vật thể Chămpa cũng khá phổ biến mà ngày nay dấu ấn còn thấy rất rõ. Tôi có liên tưởng rằng: Những làn điệu quan họ nổi tiếng của đất Kinh Bắc thoảng đâu đó giai điệu của nhạc Chăm. Điệu múa dân gian “Con đĩ đánh bồng” thường được thấy trong các hội làng ở châu thổ Bắc bộ, nhất là bên Kinh Bắc và Phú Thọ khá giống với điệu Múa bóng ở xóm Bóng, thành phố Nha Trang, một lưu dấu rõ nét của điệu múa Chămpa (Ngô Văn Doanh, 2006: 48-53). Tài liệu cũng cho biết vua Lý rất mê khúc nhạc Tây Thiên của Chămpa. “Tháng 8, ban ra khúc nhạc và điệu đánh trống của Chiêm Thành khiến nhạc công hát” (Ngô Sĩ Liên, 1967: 231) Hình ảnh trên cho thấy sự đồng điệu về các nét chạm vũ công trên bệ thờ Mĩ Sơn E1 với hoạ tiết vũ công trên đồ gốm ở Hoàng thành Thăng Long.

Vũ nữ trên mô hình tháp bằng gốm men trắng (18 Hoàng Diệu, Hà Nội)

2.2. Thử góp bàn về dấu ấn văn hoá Chămpa ở Hoàng Thành Thăng Long

Mặc dầu người ta nói nhiều đến sự ảnh hưởng văn hoá từ Chămpa qua nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc, tuy nhiên tư liệu vật chất, đặc biệt là vào thời kì Lý - Trần còn lại không nhiều, hơn nữa rất tản mát, chưa đủ để đưa ra những nhận định xác thực. Trong những năm gần đây, với cuộc khai quật di tích Hoàng Thành Thăng Long ở 18 Hoàng Diệu (Ba Đình, Hà Nội), một hệ thống di tích kiến trúc và các loại hình di vật từ gốm sứ, đồ kim loại, mộ táng, đồ gỗ... đặc biệt là vật liệu và trang trí kiến trúc bằng đất nung, gạch, ngói, các cấu kiện kiến trúc bằng đá có trang trí rồng, phượng...  của Hoàng Thành Thăng Long xưa đã được các nhà khảo cổ học làm xuất lộ.

Với khối tư liệu này có thể thấy ở trên kinh thành Thăng Long xưa, sự hiện diện của văn hoá Chămpa là rất rõ thể hiện qua  vật liệu kiến trúc và nghệ thuật tạo hình thời kỳ Lý - Trần.

2.2.1. Vật liệu gạch

Viên gạch khắc chữ Chăm tại 18 Hoàng Diệu.

Nếu như những viên gạch của thời kỳ Đại La chủ yếu có màu xám với độ nung khá cao, cứng và khó chạm khắc thì gạch của Hoàng Thành Thăng Long thời kỳ này đại bộ phận là có màu đỏ tươi, chất liệu mịn, độ nung không cao và dễ gọt cắt, chạm khắc. Những đặc trưng kỹ thuật này cho thấy đã có sự thay đổi lớn trong kỹ thuật làm gạch để phục vụ cho một ý đồ tạo hình và xây dựng khác với thời trước đó. Kỹ thuật này có thể đã được tham khảo từ kỹ thuật làm gạch của Chămpa, một dân tộc sản xuất và sử dụng gạch bậc thầy ở khu vực. Ý nghĩ này càng được củng cố khi một viên gạch có viết những dòng chữ Chăm trên cả hai mặt được phát hiện. Quan sát thật kỹ có thể nhận ra những dòng chữ này được viết lên gạch khi còn ở dạng mộc và chưa khô, dứt khoát không phải được viết khi đã nung. Sự xuất hiện của viên gạch này có ý nghĩa to lớn cho việc nghiên cứu. Trước hết nó khẳng định sự có mặt của người thợ Chăm trên Hoàng Thành Thăng Long là sự thật như sử đã chép. Thứ hai, điều này quan trọng hơn, nó chứng tỏ người thợ Chăm ở Thăng Long không chỉ là người thợ xây mà còn là người làm ra những viên gạch đó, và chính họ đã mang đến Thăng Long kỹ thuật làm ra những viên gạch đỏ tươi, tạo hình đẹp, cùng với màu đỏ của bộ mái tuyệt vời và rất Việt xây cất lên những kiến trúc, lộng lẫy của Thăng Long khác xa những viên gạch xám đậm chất phương Bắc trước đó.  

2.2.2. Vật liệu đá

Chân tảng đá hoa sen tại 18 Hoàng Diệu

Trang trí kiến trúc bằng đá mô típ hoa dây  tại 18 Hoàng Diệu

Trang trí kiến trúc bằng đá mô típ hoa dây tại tháp Dương Long

Trên kinh thành Thăng Long người ta có thể nhận thấy có rất nhiều cấu kiện kiến trúc bằng đá, chủ đạo là sa thạch, một loại đá rất gần gũi với người thợ Chămpa, loại đá không có thớ, dễ đục đẽo, tạo hình.

Gần như toàn bộ các tảng kê cột của kiến trúc Hoàng Thành Thăng Long đều bằng đá và được chạm hoa sen rất đẹp, nhất là những tảng kê cột thời Lý. Những bệ tượng tạo hình rồng, đặc biệt là những bậc lan can trang trí rồng, phượng, sóng nước, vân mây cực kỳ tinh xảo của thời Lý chắc sẽ có sự góp công của người thợ đá Chămpa, thực hiện những ý tưởng Việt để tạo nên những tác phẩm tuyệt vời đến vậy. Minh hoạ ảnh cho thấy sự tương đồng và ảnh hưởng qua 2 bức chạm hoạ tiết hoa dây bệ đá Hoàng Thành Thăng Long và đá ốp chân tường tháp Chăm Dương Long (Bình Định).  

2.2.3. Nghệ thuật tạo hình

Lá đề cân trang trí hình chim phượng tại 18 Hoàng Diệu

Lá nhĩ, hay gọi là tympan theo các học giả phương Tây trên trán các ngôi đền thờ Chămpa

Trước hết về biểu tượng lá đề ở Hoàng Thành Thăng Long, rõ ràng đó là vật trang trí kiến trúc, tuy nhiên nó còn mang tính quyền uy của vương triều. Hình tượng lá đề lớn, có tạo hình rồng hoặc phượng được đặt ở chính giữa bờ nóc của kiến trúc (vị trí của mặt nhật, nguyệt, hồ lô... trên các kiến trúc Trung Hoa hay ảnh hưởng Trung Hoa) là một sáng tạo tuyệt vời của tiền nhân. Điều chắc chắn là trong nghệ thuật Trung Hoa không có motif này. Nhưng tại sao lại là motif lá đề? Tôi mạnh dạn cho rằng nguồn cảm hứng của sự sáng tạo ấy đến từ cái lá nhĩ, hay gọi là tympan theo các học giả phương Tây trên trán các ngôi đền thờ Chămpa. Ở Chămpa, lá nhĩ trang trí các vị thần, đặt ở trên cửa chính của ngôi đền thờ, còn ở Đại Việt lá đề trang trí linh thú như rồng, phượng, đem đặt chính giữa bờ nóc. Với ý nghĩa, nội dung và hình thức như vậy, người Chăm không thấy đó là của mình và người phương Bắc cũng không thể bảo là của họ và đó chính là Đại Việt.

Còn lá đề lệch, nhìn qua ta thấy đâu đó phảng phất hình bóng của vật trang trí góc tháp Chăm (người Pháp gọi là pierre d’accent). Tuy nhiên, cũng không hoàn toàn là vậy, chỉ phảng phất thôi và ở Chămpa nó được đặt ở các góc tháp, đền để tạo nên sự bay bổng, nhẹ nhõm cho một khối gạch đá khổng lồ. Còn ở đây, nó chạy dọc hai bên bờ nóc, chạy xuống bờ dải cùng với tàu mái lượn lên, với những hàng ngói ống có đầu ngói trang trí phong phú và cái lá đề tinh xảo trên lưng tạo nên một bộ mái mỹ miều và thanh thoát. Đó là nét đặc trưng không ai phủ nhận được của một bộ mái cung đình Đại Việt.

Lá đề lệch trang trí hình rồng tại 18 Hoàng Diệu

Tượng Makara (Chămpa) tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng

Tượng đầu rồng tại 18 Hoàng Diệu

Rồng Tháp Mẫm, Bảo tàng Điêu khắc Chăm, Đà Nẵng

Mặt hổ phù đất nung tại 18 Hoàng Diệu

Mặt Kala trên tường tháp Mĩ Sơn F1

Tượng Kinari chùa Phật Tích, Bắc Ninh

Lại bàn thêm về một số hình tượng khác như đầu rồng, chúng ta dễ nhận thấy rồng thời kỳ này có cái vòi, cái nanh, cái lưỡi mang dáng dấp của makara Chămpa (Hà Bích Liên, 1998: 75-80). Tuy nhiên rồng của Đại Việt ngậm ngọc và có một cái bờm vút cao nhẹ nhàng bay bổng phía sau gáy. Những chi tiết này trong nghệ thuật Chămpa không có được. Còn cái thân uốn lượn của con rồng thời Lý - Trần, đặc biệt là thời Lý thì đúng là một tuyệt tác của nghệ thuật tạo hình Đại Việt. Những mặt hổ phù, dường như cũng mang cảm hứng từ mặt Kala của Chămpa chăng?

Và còn Garuda, Kinari của Chămpa thì mọi người đều thấy xuất hiện khá nhiều trên các kiến trúc Lý - Trần. Ở đây chúng ta dễ dàng nhận thấy một minh chứng tượng Kinari ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh).

3.Tạm kết

Sau một ngàn năm thuộc Bắc, nước Đại Việt ra đời và bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập. Những gì người phương Bắc mang đến và để lại trong nền văn hoá Việt quả thật không nhỏ và nó cũng phần nào, cùng với các yếu tố văn hoá nội sinh của xứ này tạo nên một bản sắc riêng của phương Nam. Ở đây tôi muốn viện dẫn cố Giáo sư Trần Quốc Vượng về sự “mô phỏng” Trung Hoa là một sự tất yếu, bởi các nguyên do:

a.Do sự dính líu với Trung Hoa hàng chục thế kỷ Bắc thuộc.

b.Do áp lực thường xuyên của Trung Quốc - dù ẩn tàng hay hiển minh suốt từ sau thế kỷ 10 trở lại đây, ngăn cản sự phát triển của đời sống xứ sở này

c.Bởi vậy Việt Nam làm bất cứ một cái gì cũng phải để một con mắt về phía Bắc. Trung Hoa thì To, Việt Nam thì Nhỏ: Bắt chước Trung Hoa cũng để tỏ ra “không kém” và “không khác” Trung Hoa, cũng “văn hiến” như Trung Hoa và do đó không cần Trung Hoa cai trị...

Sau thế kỷ 10, thời kỳ phục hồi dân tộc và phục hưng văn hoá dân tộc... Những ảnh hưởng cũ của văn hóa Ấn Độ (Phật giáo và cả Bà La Môn) qua việc thờ Đế Thích và Nhị Thiên Vương (hai thần Nhật Nguyệt đời Lý) cũng như ảnh hưởng mới từ văn hóa Chiêm Thành, Chân Lạp - những nền văn hóa cao và không Trung Hoa, trở thành “đối trọng”(contre - poids) của văn hoá Việt Nam có tác dụng trung hòa ảnh hưởng của văn minh Trung Quốc, tăng cường cái căn cước riêng biệt của Việt Nam... (Trần Quốc Vượng, 2000: 142).

Với ý tưởng trên tôi cũng cho rằng, việc Đại Việt lấy nguồn cảm hứng từ phương Nam, từ Chămpa để tạo nên một đối trọng với phương Bắc, một diện mạo mới cố gắng tách khỏi sự ràng buộc trong văn hóa từ phương Bắc cũng là điều hoàn toàn tự nhiên. Người xưa không sao chép nguyên xi các nguyên mẫu của văn hóa Chămpa, mà học hỏi tiếp nhận và sáng tạo những nét tinh túy nhất dựa trên một nền tảng văn hóa bản địa. Nguồn lửa từ mặt trời Đông Sơn tưởng chừng như đã tắt nhưng đã cháy bùng trở lại sau ngàn năm thuộc Bắc, để thắp sáng một ngọn lửa Việt không chỉ trên kinh đô Thăng Long mà còn trên cả xứ sở này. Những gì chúng ta thấy ngày hôm nay trên Hoàng Thành Thăng Long là chứng minh hùng hồn sức sống mãnh liệt của dân tộc, của một đất nước độc lập.

TS.Nguyễn Tiến Đông

 

Tài liệu tham khảo:

Hà Bích Liên 1998: Nghệ thuật cổ Chămpa - Những dấu ấn của giao lưu văn hoá khu vực, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2: 75-80.

Hà Văn Tấn 1997: Từ cột kinh Phật năm 973 vừa phát hiện ở Hoa Lư, Theo dấu các văn hoá cổ. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội: 786-815.

Ngô Văn Doanh 2006: Lễ vía Bà Thiên Yana với tục thờ Mẫu của người Chăm và người Việt. Nghiên cứu Đông Nam Á số 2: 48-53.

Nguyễn Xuân Diện 2000: Những phát hiện mới về loại các tượng phỗng Chàm trong các di tích. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1999: 727-728.

Nguyễn Tiến Đông, Ogawa Yako 2000: Hai giếng nước có kỹ thuật Chămpa ở xã Song Phương (Đan Phượng, Hà Tây). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1999: 717-718.

Nguyễn Tiến Đông, Nguyễn Hữu Thiết 2005: Hai bức tượng Chăm tại chùa Bạch Sam (Hà Nội). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2004: 806-808.

Nguyễn Hồng Kiên 2000: Có hay không nghệ nhân - tù binh Chămpa trong việc xây dựng tháp Then - Bình Sơn. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1999: 744-745.

Nguyễn Vinh Phúc 1987: Tìm ra thôn Bà Già Hà Nội. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1986: 280-281.

Trần Quốc Vượng 2000: Xuân lửa Đống Đa trong bối cảnh văn hóa xã hội đương thời. Trên mảnh đất ngàn năm văn vật. NXB Hà Nội.

Liên kết website

Số lượng truy cập

Cơ quan chủ quản: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đơn vị quản lý: Bảo tàng Lịch sử quốc gia - Giấy phép số: 164/GP-TTĐT cấp ngày: 31/10/2012

Chịu trách nhiệm: TS. Nguyễn Văn Cường - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Địa chỉ: Số 1, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Số 216, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Email: banbientap@baotanglichsu.vn - Tel/Fax: 84.4.38252853