Bạn chưa chọn câu trả lời
Biểu quyết thành công
Biểu quyết thất bại

Cuộc tìm kiếm lỵ sở chúa tiên Nguyễn Hoàng

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

  Ngày 24/04/2018
  • 127
  • 0

Người ta biết đến lịch sử Việt Nam thế kỉ 16 như một trang bi tráng. Các cuộc tranh giành quyền lực, cướp ngôi vua, giành ngôi chúa diễn ra căng  thẳng và khốc liệt. Sự mâu thuẫn nội bộ dẫn đến cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa họ Mạc và Nhà Lê diễn ra gần trọn thế kỉ khiến dân chúng lầm than, đất nước chia rẽ. Nhà Lê dựa vào sự trợ giúp, phò rập của họ Trịnh, họ Nguyễn đã đánh bại được nhà Mạc. Song, chính những người đã giúp vua Lê lấy lại sơn hà ấy lại chia rẽ trong một cuộc tranh giành quyền lực còn mãnh liệt và thảm khốc hơn nữa.

Nguyễn Kim, cha của Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng và Nguyễn Thị Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm), người có công lớn trong việc phò giúp nhà Lê bị chính con rể là Trịnh Kiểm hạ độc mà chết (1545), không lâu sau đó người anh ruột của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Uông cũng chung số phận bởi tay người anh rể. Quá lo lắng cho số phận của mình, Nguyễn Hoàng đã tìm đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hỏi đường đi nước bước, thực ra cũng là tìm đường sống cho bản thân và hi vọng gây dựng cơ đồ. Chỉ tay về phương Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm phán rằng “Hoành sơn nhất đới, vạn đại dung thân”. Hiểu ý thầy, Nguyễn Hoàng về nhờ chị ruột xin Trịnh Kiểm cho đi trấn thủ phương Nam. Đang gặp khó trong việc nhổ cái gai Nguyễn Hoàng trong mắt mình, Trịnh Kiểm bèn tâu với vua Lê cho Nguyễn Hoàng đi trấn nhậm vùng Thuận Quảng, lúc đó còn khá hoang sơ và lỏng lẻo về hành chính vì mới sáp nhập vào đất Việt được vài trăm năm.

Vậy là năm 1558, Nguyễn Hoàng cùng gia quyến, một số quan quân thân tín vào Nam. Có nhiều gia thoại về cuộc ra đi này, có tài liệu nói chúa Nguyễn Hoàng và tùy tùng vượt Hoành Sơn bằng đường bộ, song lại có tài liệu cho rằng chúa và thân quyến với quan quân đi thuyền vào Nam. Có một truyền thuyết vừa thực vừa ảo được nhiều người nhắc đế là: khi đoàn thuyền của chúa Tiên Nguyễn Hoàng đến gần cửa Việt (sông Thạch Hãn đổ ra biển trên đất Quảng Trị) thì sóng gió nổi lên, mưa giông kéo đến mù mịt, tàu thuyền ngả nghiêng, chúa tôi 10 phần chết 9. Tàu thuyền vội cặp vào bờ trên dòng Thạch Hãn, địa phận thôn Ái Tử, huyện Triệu Phong bây giờ. Trong lúc đói khát, rũ rượi mệt lả thừa chết thiếu sống như vậy thì thấy một toán dân sở tại, dẫn đầu là các cụ bô lão đến đón, dâng chum nước trong. Ư Tỵ tâu mừng rằng: “Đấy là phúc trời cho đó. Việc trời đất có hình tượng. Nay chúa thượng mới đến mà dân đem “nước” dâng lên, có lẽ là điềm “được nước” đó chăng?. Thái tổ nhận lấy 7 chum nước ấy, bèn cắm doanh trại ở xã Ái Tử” 1.

Năm 1593, chúa Nguyễn Hoàng ra Bắc và lập được nhiều chiến tích trong việc dẹp nhà Mạc, một lần nữa ông trở thành cái gai trong mắt chúa Trịnh. Nhà Trịnh tìm cách hãm hại ông nhưng ông đã về Nam và nguyền không trở lại đất Bắc nữa, quyết “rạch đôi sơn hà” tiếp bước Tiền nhân, cuộc mở cõi của Nhà Nguyễn bắt đầu từ đó.

Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài của lịch sử với gần năm trăm năm trên một vùng đất vốn chịu nhiều biến động, thiên di bởi các cuộc chiến tranh binh lửa, huỷ diệt, tàn khốc, cộng với sự khắc nghiệt của thời tiết, thiên tai, hạn hán, bão lụt... đã xoá nhòa những dấu tích, những di sản văn hoá một thời từng là thủ phủ, là “kinh đô” của một triều đại vốn đã có nhiều đóng góp quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc trên mảnh đất này. Vì thế, những vấn đề cốt lõi về thực chất của mục đích, ý đồ các lần di dời thủ phủ/dinh trấn/dinh cơ trên một địa thế chưa đầy 2 cây số vuông thuộc vùng cát Ái Tử - Trà Bát vẫn còn là những ẩn số chưa có lời đáp thỏa đáng. Vị trí, diện mạo, quy mô, vị thế, vai trò của ba dinh trấn Ái Tử, Trà Bát và Cát Dinh trên thực tế không chỉ là những đồn binh nặng về bố phòng quân sự mà còn là những trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, xã hội sôi động một thời vẫn chưa được làm sáng tỏ. Trong 68 năm tồn tại trên vùng đất Ái Tử - Trà Bát/Quảng Trị, Nguyễn Hoàng đã 2 lần di dời dinh thự. Lần thứ nhất là vào năm 1570, ông cho chuyển dinh thự của mình từ Ái Tử sang Trà Bát và lần thứ hai vào năm 1600, cho chuyển dinh thự/thủ phủ từ Trà Bát sang Cát Dinh/Dinh Cát. Việc di dời dinh thự là quá trình mở rộng lỵ sở chứ không phải thay đổi không gian lỵ sở. Nguyễn Hoàng vẫn lựa chọn vùng đất Ái Tử - Trà Bát thuộc huyện Vũ Xương làm trung tâm đầu não cai quản toàn xứ Thuận - Quảng. Cùng với quá trình thiết lập, mở rộng không gian lỵ sở dinh chúa, Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên còn cho thiết lập các thiết chế liên quan khác: về quân sự - kho tàng (Bãi Trận, Mô Súng, Cồn Kho, Cồn Tập, Tàu Tượng…), về kinh tế (Chợ Hôm, Ghềnh Phủ…), văn hóa, xã hội, tín ngưỡng (Miếu Trảo Trảo, Miếu thờ Thuận nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến…)… nhằm phục vụ đắc lực cho  bộ máy  tổ chức của một trung tâm hành chính, chính trị nhà chúa lúc bấy giờ. Việc tìm ra dấu tích những lỵ sở đó của chúa Nguyễn Hoàng là một trăn trở của giới khoa học cũng như người dân vùng Triệu Phong, Quảng Trị. Nhóm những người đi “tìm kiếm” di tích đó được lập nên bởi các nhà khảo cổ học, nghiên cứu lịch sử - văn hóa từ Hà Nội đến Quảng Trị. Các nhà nghiên cứu ngày đêm tìm tòi trong thư viện, trong lưu trữ những tài liệu quan trong liên quan đến di tích, hàng loạt những tư liệu như:

- “Đại Nam thực lục tiền biên” của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn dưới thời vua Thiệu Trị (1844

- “Đại Nam liệt truyện tiền biên” của Quốc sử quán triều Nguyễn

- “Phủ biên tạp lục” (1776) của Lê Quý Đôn

- “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” của Lê Quang Định biên soạn dưới thời vua Gia Long (1803)

- “Hoàng Việt dư địa chí” của Phan Huy Chú

- L. Cadière  với Tạp chí Hội khảo cổ Đông Dương (B.E.F.E.O, 1914-1916) “Les Residentce Rois de Cochinchine (An Nam) Avant Gia Long (Dinh phủ các chúa Đàng Trong trước Gia Long)”

- A. Laborde trong “La province de Quang Tri” (Tỉnh Quảng Trị) đăng trong Bulletin des amis du vieux Hue (Những người bạn cố đô Huế). B.A.V.H năm 1921.

- “Thành Quảng Trị và vai trò của nó trong lịch sử dân tộc” (2004) của tác giả Nguyễn Bình.

-  Các thủ phủ thời chúa Nguyễn (1558 - 1775) trên đất Quảng Trị và Thừa Thiên Huế” (2008) của tác giả Phan Thanh Hải.

-  Hoàng Đình Hiếu trong tập sách “Chúa Tiên Nguyễn Hoàng” (Grand Prairie, Texas, USA, 2009).

Và nhiều tài liệu khác đều được nghiên cứu kỹ càng cho thấy sự đồng nhất về sử liệu khi xác định khu vực mà Nguyễn Hoàng xây dựng những lỵ sở đầu tiên đều thuộc khu vực Ái Tử - Trà Bát - Dinh Cát (với phạm vi 2 cây số vuông) thuộc huyện Vũ Xương, phủ Triệu Phong, Quảng Trị. Nay là xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong. Sử liệu thì như vậy, nhưng còn một nguồn tài liệu khác rất quan trọng và rất chính xác là tài liệu khảo cổ học thì sao? Vậy là một cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành giữa những ngày hè nắng cháy da của Quảng Trị. Dưới trời nắng nóng tháng 7, tháng 8, trên những cồn cát vùng Trà Bát - Dinh Cát - Phủ Thờ, những địa danh ẩn chứa dấu tích của lỵ sở chúa Tiên Nguyễn Hoàng thấp thoáng bóng dáng những nhà khảo cổ học và sử học đi điền dã, thám sát, nghiên cứu và khai quật khảo cổ.

 

Với tổng diện tích khai quật và thám sát 108,13 mét vuông với 3 khu vực Cồn Dinh 1, Cồn Dinh 2 và Cồn Dinh 3, cách nhau chưa đầy 1km, các nhà khảo cổ học đã mở 7 hố khai quật và thám sát.

Tại di tích Cồn Dinh 1 có 3 hố khai quật với diện tích 67,63 mét vuông, là nơi có diện tích khai quật và thám sát lớn nhất. Tại đây các nhà khoa học đã tìm thấy dấu tích quan trọng nhất của cuộc tìm kiếm. Trên một quả gò cát lẫn phù sa nằm ngay bên con đường liên xã của thôn Trà Liên, các nhà khảo cổ học phải rất vất vả tìm ra những khoảng đất trống còn lại để xác định được hố khai quật bởi ở đây chi chít dày đặc lăng mộ hiện đại, mà chúng ta đều biết những lăng mộ ở bắc Trung Bộ, nhất là vùng Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế thì to lớn và xây dựng rất cầu kì. Ở phía Tây Nam của gò cát này, tại hố khai quật 1 và 2 (H1; H2) đã xuất lộ một đoạn tường thành xây theo kiểu 2 vách và nhồi gạch, ngói cùng đất đầm chặt ở giữa. Đây là một kĩ thuật xây thành khá phổ biến, tuy nhiên ở di tích này, ngoài việc xây tường hai bên, nhồi đất đá gạch ngói vụn ở giữa người xưa còn cây nối giữa hai vách tường một hàng gạch (câu gạch) để làm tăng độ kéo giữ của tường thành, tăng độ bền vững, chống xô trượt. Cứ khoảng 3 đến 5 mét tường người ta lại xây một hàng gạch như vậy. Mặc dù dấu tích tường thành này chỉ còn quan sát được 3 đến 4 hàng gạch phần chân móng, xong nó lại là dấu tích rất qun trọng trong việc xác định di tích thành lỵ sở của chúa Nguyễn xưa. Gạch và ngói ở khu vực này rất nhiều và đồng nhất với gạch xây tường, đều là gạch thời Nguyễn. Tất nhiên để xác định đây chắc chắn là công trình thuộc thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng còn phải dựa vào nhiều chứng cứ khoa học khác như đồ gốm nằm trong hố khai quật. May thay, những đồ gốm khai quật được cùng lớp với dấu tích kiến trúc tường thành đều là những đồ gốm có nguồn gốc bản địa như sành Phước Mỹ, Thạch Hà, đồ đất nung… đặc biệt, những đồ gốm men có xuất xứ từ Trung Hoa, chủ yếu là từ Phúc Kiến, bao gồm cả gốm thương mại và gốm gia dụng, thờ cúng đều có niên đại thế kỉ 16 đầu thế kỉ 17. Điều này cho thấy, những bức tường thành ở đây không vượt quá nửa đầu thế kỉ 17 và nó trùng hợp với niên đại của các công trình mà chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã cho xây dựng vào thời kì mới vào Nam. Tại H3, các nhà khảo cổ học hi vọng tìm thấy đoạn tường phía Bắc, sau khi đã tính toán sự quay góc của bức tường phía Tây. Quả nhiên, dấu tích của đoạn tường này cũng đã xuất lộ, tuy chỉ còn quan sát thấy phần chân móng nhưng phát hiện này cũng rất quan trọng để xác định chắc chắn dấu vết của một la thành trên di tích Cồn Dinh. Căn cứ vào nững tư liệu gốm sứ, đặc biệt là những hiện vật gốm sứ cao cấp Trung Hoa có thể thấy nơi đây đã từng có một cuộc sống của tầng lớp cao trong xã hội nếu như không nói là cộc sống vương giả.

Tại khu vực Cồn Dinh 2, các nhà khảo cổ đã mở 01 hố khai quật. Đây là một cồn cát khá lớn nơi gần với những dòng chảy cũ của dòng Thạch Hãn và các chi lưu của nó và cũng rất gần một di tích thời kì Chăm Pa là phế tích tháp Trà Liên. Hiện vật khai quật ở đây gồm nhiều các mảnh vỡ từ những đồ gốm, chủ yếu là gốm thương mại có nguồn gốc từ các lò gốm ở Phúc Kiến, Trung Hoa, nơi buôn bán rất nhiều gốm xuống vùng Đông Nam Á. Sự xuất hiện nhiều gốm thương mại thế kỉ 16, 17 ở đây cho thấy đây rất có thể là di tích của một khu vực chợ bến, nơi buôn bán trao đổi hàng hóa như một trung tâm thương mại thời kì đầu chúa Nguyễn.

 

Tại khu vực Cồn Dinh 3, các hố H1, 2, 3 đều đưa lên những đồ gốm sứ có niên đại từ thế kỉ 16 đến thế kỉ 18, đặc biệt có những đồ gốm men ngọc cao cấp của Trung Hoa, đồ gốm hoa lam Phúc Kiến khá phổ biến. Ở đây trong các hố thám sát còn nhận thấy hai bờ lũy, chạy song song theo hướng Bắc - Nam cách nhau chừng 200 mét mà dân vẫn cứ quen gọi là “đường tàu” và “đường điện”. Hai lũy này hiện vẫn dễ nhận thấy trên động cát, chúng được đắp bằng hợp chất bùn, đất gạch ngói vụn, trong đó có lẫn một số mảnh gốm có niên đại thế kỉ 18, 19. Những kết quả này cho thấy đây là khu vực không liên quan đến các dấu tích lỵ sở chúa Tiên Nguyễn Hoàng và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên Thời kì 1558 - 1626.

 

Qua kết quả nghiên cứu và kết quả khai quật khảo cổ học Cồn Dinh tháng 7 năm 2016, nhóm nghiên cứu khảo cổ dinh phủ chúa Nguyễn ở Ái Tử - Trà Bát (1558 - 1626) đi đến 2 nhận định theo hướng tiệm cận về các địa điểm dinh phủ chúa Nguyễn ở Ái Tử - Trà Bát từ năm 1558 đến năm 1626 như sau:

- Thời kỳ đầu, trong vòng 12 năm, từ năm 1558 đến năm 1570, chúa Tiên Nguyễn Hoàng khi mới vào trấn đã cho lập doanh trại (le camp, le camp militaire)  của mình tại một địa điểm trên cồn cát làng Ái Tử. Sách Đại Nam liệt truyện tiền biên dùng cụm từ “cắm doanh trại ở xã Ái Tử1; còn Phủ biên tạp lục thì chép “đóng dinh ở gò Phù Sa xã Ái Tử2. Cồn cát này gọi là gò Phù Sa (Sa Khư/Sa Khưu) về sau gọi là Cồn Cờ, nằm phía tây sông Thạch Hãn thuộc làng Ái Tử, huyện Vũ Xương, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa. Các di tích này đã bị xóa dấu vết kể từ khi người Mỹ cho san bằng khu vực để thiết lập sân bay Ái Tử vào năm 1967 hoặc đã bị mất do sự xói lỡ và chuyển dịch dòng chảy của sông Thạch Hãn vào thời kỳ trước đó.

   

- Thời kỳ thứ hai, trong vòng 56 năm tiếp theo từ năm 1570 đến năm 1626, dinh phủ nhà chúa được thiết lập trên cồn cát làng Trà Bát (nay là Trà Liên), tiếp giáp với làng Ái Tử về phía bắc - nơi có địa thế chiến lược hơn nhờ hệ thống sông bao bọc gần như là cả 4 mặt: Thạch Hãn (phía đông), Ái Tử (phía nam và phía tây) và Vĩnh Phước (phía bắc). Tại cồn cát làng Trà Bát (về sau gọi là Cồn Dinh), 30 năm đầu từ 1570 đến 1600, dinh phủ của chúa Tiên Nguyễn Hoàng được dựng đặt tại khu vực phía đông, gần kề với sông Thạch Hãn và cũng sát nách với một thương điếm/thương cảng/bến thuyền - một điểm giao thương buôn bán quan trọng và tấp nập của lỵ sở ven sông Thạch Hãn về phía bắc mà về sau được gọi là Ghềnh Phủ.

Cũng trên cồn cát làng Trà Bát, 26 năm sau, từ  năm 1600 đến năm 1626, dinh phủ của chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1600 - 1613) và chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1626) được dựng đặt tại khu vực phía tây cồn cát làng Trà Bát (về sau gọi là Cồn Dinh), gần tiếp giáp với làng Phước Toàn (nay là làng Phước Mỹ, xã Triệu Giang), gần kề với sông Ái Tử, đúng hơn là nằm về phía đông sông Ái Tử đoạn ôm vòng lại. Kết quả nghiên cứu khảo cổ tháng 7 năm 2016 trên khu vực phía tây Cồn Dinh (Cồn Dinh trên) bước đầu đã phát lộ các dấu tích đáng tin cậy về một hệ thống la thành hình chữ nhật được xây bằng gạch có kích thước ước định gần 6.500m2 (dài gần 120m, rộng hơn 55m) chạy theo hướng chính bắc - nam (lệch nam 300) với kích thước nền móng tường thành dày 2,05m tại vị trí mà trước đây có sự tồn tại của chùa Liễu Ba/Bông và nhất là trên bề mặt của bên trong vòng thành này có nhiều vị trí ken dày gạch, ngói vỡ cho thấy đó chính là dấu vết còn lại của những công trình kiến trúc kiên cố bị sụp đổ trùng hợp với sự mô tả của L. Cadière đầu thế kỷ 20: “Ở phía tây, trong một chỗ chảy vòng nhỏ của con sông Ái Tử, có một vòng thành rộng khoảng 50m và dài hơn thế một ít, xưa kia vây quanh bằng một vòng thành rộng mà nay chỉ còn lại một lớp đá xây ngang với mặt đất. Hiện nay vòng tường thành này chứa bên trong một ngôi chùa gọi là chùa Liễu Bông và các nền móng của một vài công trình cổ2. Đây chính là Cung Phúc Châu/Dinh Cát (1600 - 1626).

Về tên gọi của dinh, cả hai lần đóng dinh phủ trên cồn cát làng Trà Bát đều gọi là Dinh Cát (Dinh đóng trên cồn/xứ cát). Nhưng lần 1 do chuyển từ cồn cát làng Ái Tử sang phía đông cồn cát làng Trà Bát nên về sau gọi là Dinh Trà Bát - tên người đời sau đặt cho - còn lần 2, thì chính thức gọi là Dinh Cát.

Cuộc nghiên cứu về lỵ sở dinh chúa Nguyễn, nhất là cuộc khai quật khảo cổ tháng 7 năm 2016 đã phát hiện được một số dấu tích liên quan đến các công trình của các chúa Nguyễn ở Ái Tử và Trà Liên. Tuy nhiên để làm sáng tỏ diện mạo khu vực lỵ sở dinh chúa Nguyễn trong vòng 68 năm (1558 - 1626) tại Ái Tử - Trà Bát của huyện Vũ Xương cần phải tiếp tục thực hiện công tác khai quật khảo cổ có quy mô lớn hơn nữa để xác định và định vị cũng như làm sáng tỏ cấu trúc, kỹ thuật xây dựng tường thành thời chúa Nguyễn ở Dinh Trà Bát/Dinh Cát cũng như các công trình liên quan ở khu vực Cồn Dinh làng Trà Liên.

(Hình ảnh trong bài viết: Hiện trường khai quật 3 khu vực: Cồn Dinh 1, Cồn Dinh 2 và Cồn Dinh 3)

TS.Nguyễn Tiến Đông (Viện Khảo cổ học)

 

1 Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam liệt truyện tiền biên. Viện Sử học dịch. Nxb Thuận Hoá, Huế, 1993, tr 83.

1 Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam liệt truyện tiền biên. Viện Sử học dịch. Nxb Thuận Hoá, Huế, 1993, tr 83.

2 Lê Quý Đôn. Toàn tập, tập 1. Phủ biên tạp lục. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 63.

2 L. Cadière. Les Residentce Rois de Cochinchine (An Nam) Avant Gia Long (Dinh phủ các chúa Đàng Trong trước Gia Long). B.E.F.E.O (Tạp chí Hội khảo cổ Đông Dương), 1914-1916. Tlđd, tr. 118.

Liên kết website

Số lượng truy cập

Cơ quan chủ quản: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đơn vị quản lý: Bảo tàng Lịch sử quốc gia - Giấy phép số: 164/GP-TTĐT cấp ngày: 31/10/2012

Chịu trách nhiệm: TS. Nguyễn Văn Cường - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Địa chỉ: Số 1, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Số 216, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Email: banbientap@baotanglichsu.vn - Tel/Fax: 84.4.38252853