Bạn chưa chọn câu trả lời
Biểu quyết thành công
Biểu quyết thất bại

Các công trình khai thác nước dùng đá xếp ở Quảng Trị (Phần 1)

  Ngày 15/10/2018
  • 127
  • 0

Phương thức kè đá khai thác nguồn nước ngầm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và trồng trọt với nhiều điểm khác biệt, độc đáo ở vùng Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ đã và đang được nhiều học giả trong – ngoài nước quan tâm với các mức – góc độ khác nhau.

Trong loạt bài chuyên khảo từ những năm 1937- 1940, nữ học giả Pháp M. Colani đã có những khảo cứu công phu và đi đến một số kết luận tổng quát về loại hình di tích này. Linh mục L.Cadiere - người có nhiều nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về tín ngưỡng và văn hoá cổ ở các tỉnh miền Trung cũng tham gia tán đồng. Sau M.Colani, nhiều nhà nghiên cứu Pháp, Liên Xô (cũ), Việt Nam cũng có bàn tới các di tích này. Tuy nhiên, họ chỉ sử dụng lại các tài liệu của M.Colani nên cũng không thể đi xa hơn được những kết luận của bà (A. Masson 1960: 15; G. Coedes 1962: 129; L. Bezacier 1972: 242-243; J.V Chesnov 1976: 61; Bùi Huy Đáp 1985: 11; Đào Hùng 1990: 129; Lê Duy Sơn 1991: 84…). Gần đây, Tạ Chí Đại Trường với cách tiếp cận từ nhiều khía cạnh, cách đặt vấn đề đơn giản mà độc đáo hơn đã đi đến một kết luận mới và khác (Tạ Chí Đại Trường 1991: 48-61).

Những vấn nạn của Tạ Chí Đại Trường, những kết quả của đợt khảo sát tháng 3- 1992 đã gợi ý cho chúng tôi rà soát lại các kết luận đã đương nhiên được chấp nhận và sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu trước kia cũng như gần đây.

Tựu trung, các công trình nghiên cứu đều xoay quanh ba vấn đề lớn:

  1. Khảo sát, khảo tả và phân loại các công trình khai thác nước.

Công đầu trong lĩnh vực này thuộc về M.Colani. Bà đã tập trung khảo sát trên địa bàn khá rộng, gồm các vùng đất thuộc Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ từ năm 1912 đến 1940. Nhờ những nghiên cứu công phu, tỷ mỷ của bà mà ngày nay chúng ta có các sơ đồ, số đo, bản vẽ, ảnh chụp … của những công trình khai thác nước này. Đến hôm nay những nghiên cứu ấy vẫn còn giá trị. Vì do không có điều kiện, hầu như tất cả các tác giả khác đều dùng chúng như tư liệu gốc. Mặt khác, một số công trình đã bị phá huỷ, cải tạo hay bỏ đi không dùng nữa (Vũ Triều Dương 1992: 18-27).

  1. Colani đã dùng thuật ngữ “Système” – (Hệ thống) để chỉ các công trình khai thác nước gồm nhiều thành phần khác nhau, phân bố kiểu bậc thang. Một “Système” hoàn chỉnh nhất – (hệ thống Kình) theo bà bao gồm:

- Trên cùng là một mặt bằng khô ráo.

- Phía dưới là vũng[1] thượng (basin supérieur) nhận nước từ trên cao xuống qua các vòi bằng đá hay gỗ.

- Nước từ trên vũng thượng chảy vào vũng chứa (vũng nước sử dụng) – (basin d’alimentation). Đây là nơi lấy nước ăn, tắm giặt.

- Nước từ vũng chứa chảy xuống vũng tháo rộng, bờ thấp, nước đọng. Trâu bò thường uống nước và đằm ở đó.

- Nước từ các vũng trên theo trọng lực chảy qua các lạch, dòng chảy (ruisseau, defluant) tưới cho các ruộng lúa, vườn tược ở xung quanh.

Các mặt bằng ở trên cao, các bể, lạch và dòng chảy đều được kè đá với chủ đích định hướng và giữ nước dùng cho sinh hoạt và tưới tiêu. Ở một số hệ thống, còn có các đường kè đá thành bậc dẫn lối từ làng xuống.

Bà đã dùng thuật ngữ “puits” – (giếng) chỉ những hố hình tròn hay vuông lấy và chứa nước ngầm, thành giếng được kè đá.

Theo M. Colani “puits” đơn giản hơn “système” song không phải là giếng đơn mà là giếng đôi kế tiếp nhau, nằm trên mặt bằng dốc, theo nguyên tắc bình thông nhau có lạch hay dòng chảy dẫn nước ra ruộng.

“Système” và “puits” được bà phân loại theo số lượng của vòi chảy hay không vòi chảy [2] (M. Colaini 1940: 15- 31; 43- 56).

Tháng 7- 1937, M. Colaini đã đào một số hố thám sát ở các mặt bằng trên cao, mặt bằng quanh một số vũng, trên các con đường bậc thang dẫn xuống các giếng[3] Đào, Kình, Đìa, Ông. Độ sâu các hố từ -0,4m tới -1,25m, tính từ bề mặt hố đào. Giếng Kình: 4 hố; giếng Đào: 5 hố; giếng Đìa: 2 hố; giếng Ông: 4 hố.

Hiện vật thu được qua các hố trên ít, đơn giản và khá đồng nhất, chủ yếu là mảnh gốm, sành vỡ. Trong báo cáo kết quả M. Colani đề cập tới những mảnh gốm cổ, gốm hiện đại song không cho biết cụ thể. Tại một hố giám sát ở giếng Kình, bà tìm thấy trên bề mặt một số đồng tiền niên hiệu Gia Long, Tự Đức, Thiệu Trị; ở độ sâu -0,60m tìm thấy một mảnh tiền đồng khác không rõ niên hiệu. Trong hố thám sát 5 của giếng Đào, tìm thấy một vật hình nón trụ bằng đá, đáy là khối hình chữ nhật mà theo M. Colani là dùng để dẫn nước vào ruộng. Kết quả từ hố đào số 5 tại giếng Kình phần nào cho biết những người xây dựng nó đã dùng các khối đá chèn nền, củng cố bờ tường (M. Colani, 1940: 29)[4].

  1. Về nguồn gốc và chủ nhân

Có ba ý kiến lớn:

  1. Ngoại lai

Dùng các dấu vết tín ngưỡng (tục thờ đá, thờ cây, thuật phong thuỷ, mồ mả cũ), đối sánh cách khai thác nước vùng này với các phương thức thuỷ lợi của người Việt và người Chăm, dẫn các chứng cớ dân tộc học của các tập đoàn thiểu số vùng Assam ở đông bắc Ấn và Indonexia, M. Colani kết luận: Hệ thống thuỷ lợi Quảng Trị “là thuộc về một dân tộc lạ (ngoại lai), chắc đã để lại hậu duệ ở Quảng Trị, nhưng là một số rất nhỏ, đã bị chìm vào trong tổng thể” (M. Colani, 1940: 39).

Theo M. Colani, cả ba nơi Assam, Indonexia và một phần Đông Dương vào một lúc nào đó thuộc vùng khai thác của tập đoàn nhân chủng giống nhau. (M. Colani, 1940: 20). Tuy nhiên, chính bà cũng không biết rõ hướng thiên di của các tộc người đó, “Từ Đông Dương tới Indonexia hay ngược lại”. (M. Colani, 1940: 214).

Linh mục P. Cadière đưa ra các dấu vết còn lại của một thương điếm (emporium) có tên Phường Hàng ở làng Mai Xá, bên cạnh trạm thuế quan Cửa Tùng. “Emporium” này đã bị ngập nước và còn thấy chất đống các mảnh gốm. Nhà truyền giáo này cho rằng những nhóm người đi biển đã tới đây từ thời xa xưa và thâm nhập vào các vùng đất bên trong, chủ yếu theo hướng tây nam. Ông còn cho biết ở Cửa Việt cũng có một “Emporium” tương tự, xong lại không cho biết nhóm người đi biển nói trên có qua đây không và đi về hướng nào?

Ông cho rằng “những người xây dựng (những hệ thống) ở Gio Linh là những người đi biển tới từ Indonexia (?) hay hậu duệ của họ” (?). Song sau đó ông lại phân vân “Những Emporium này có thể là của những thương nhân khác nhau, mà chắc chắn (hay có thể) có niên đại muộn hơn” (M. Colani 1940: 41)[5].

  1. Chămpa:

Quảng Trị xưa là đất của vương quốc Chămpa. Thư tịch cổ cho biết đây từng là Ô Châu, Ma Linh châu của Chiêm Thành. Đó là gợi ý cho nhiều nhà nghiên cứu đương nhiên coi người Chăm là chủ nhân của các hệ thống khai thác nước này, song cũng không có những giải thích hợp lý và chứng cớ cụ thể (Bùi Huy Đáp, 1985: 11; Phan Ngọc Chiêu, 1989: 34; Đào Hùng 1990: 129; Lê Duy Sơn 1991: 84…).

  1. Việt:

Tạ Chí Đại Trường đã đưa ra một loạt những phản biện xác đáng và hợp lý về những giả thiết và kết luận của M. Colani và những người khác về nguồn gốc Indonexia và sự thiên di. Đồng thời trên một số kết quả đào thám sát 3- 1937, và đặc biệt sự kiện 1572 Nguyễn Hoàng đày tù binh nhà Mạc lên vùng Cồn Tiên, ông đã đi tới một giải đáp mà theo ông “khá giản dị”: “Hệ thống thuỷ lợi dùng cho sinh hoạt và nông nghiệp ở Gio Linh là của những chiến tù 1572” (Tạ Chí Đại Trường, 1991: 57).

  1. Niên đại
  2. Colani không nói rõ thời điểm cụ thể, theo bà có thể là sau nền văn minh cự thạch, vào những thế kỷ sau công nguyên (M. Colani 1940: 41).
  3. Cadière cho rằng thời gian kết thúc của các hệ thống này là vào năm 1572, khi Nguyễn Hoàng đày đám tù binh nhà Mạc lên Cồn Tiên (M. Colani 1940: 209). Theo ông, dân Gio Linh lúc đó không phải là dân Việt và giải thích sự tách biệt dân tộc của hai thời đại trước và sau 1572 bằng những dấu vết thờ cúng ông Tiền (khai khẩn) là của dân tộc trước và ông Hậu (khai canh) là của người Việt đến sau (M. Colani 1940: 210)[6].
  4. Coedès đưa ra khung thời gian từ trước Công nguyên (Coedès 1962: 26). E. Bezacier thì cho rằng thuộc sơ sử, trước Bắc thuộc (Bezacier 1972: 252- 253). J.V. Chesnov lại đưa về phạm vi văn hóa Đông Sơn (Chesnov, 1967: 61).
  5. Cấu trúc

Vùng đất nơi phân bố các công trình khai thác nước thuộc cùng đồi bazan Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ phía Bắc tỉnh Quảng Trị, có độ cao chừng 100m, diện tích tổng cộng khoảng 235 km2. Đá bazan ở đây bị phong hóa thành đất đỏ, nâu đỏ, xám rất phì nhiêu. Khắp nơi là vườn cau, dứa, chè, hồ tiêu… Hiện nay, còn trồng nhiều cây cao su. Dưới chân đồi, ven sườn đồi là các ruộng lúa bậc thang và phẳng. Đặc điểm của đất ở đây là tính chất giữ ẩm lớn. Đá bazan nằm rải rác khắp nơi.

Chúng tôi đã đi khảo sát được 21 địa điểm, nơi có các công trình khai thác nước tại các làng xung quanh quanh núi Cồn Tiên- xã Gio Linh, Gio An, khu vực các làng Liêm Công Đông, Liêm Công Tây – xã Vĩnh Thành, Vĩnh Linh; xã Cam Thành, huyện Cam Lộ và khu vực cồn cát thuộc xã Gio Mỹ, Gio Linh (Vũ Triều Dương 1992: 18- 27).

Trước hết, để phân loại các công trình khai thác nước này, chúng tôi xin làm rõ một số khái niệm sau:

- Hệ thống bể lấy nước và dẫn nước: gồm một hay nhiều bể kè đá, lấy và chứa nước mạch. Nước từ đó qua các mương (rãnh) chảy tưới cho các ruộng lúa xung quanh.

Bể: xung quanh có kè đá (không phải đào) để hứng, lấy nước của mạch nổi hay ngầm từ sườn hay chân đồi.

- Hệ thống giếng lấy và dẫn nước: gồm hai giếng (giếng kép) kè đá, được đào sâu xuống đất để lấy nước mạch chìm trong lớp đất bazan. Giếng kép này hoạt động trên nguyên tắc bình thông nhau. Các mương (rãnh) dẫn nước tưới cho ruộng lúa.

Thực tế khảo sát cho thấy các hệ thống giếng, bể có những điểm chung giống nhau và một số nét riêng khác nhau:

+ Đặc điểm chung:

  1. Đều được xếp bằng đá, chúng tôi nhấn mạnh: xếp chứ không xây, không có hợp chất liên kết (chủ yếu là đá bazan) và hệ thống các bể hay các giếng nối với nhau chặt chẽ theo chênh lệch về độ cao lấy nước mạch. Hệ thống bể lấy và dẫn nước đầy đủ nhất bao gồm (tính từ cao xuống thấp):
  2. Trên cao là một mặt bằng xếp đá, rộng hẹp khác nhau. Trung bình rộng khoảng 0,40- 0,50m.
  3. Tiếp đến là một bể nhận nước (có nơi là một lạch nước nhỏ). Bể này hứng nước từ trong nguồn đổ ra. Mực nước ở đây thường không quá 0,20m. Theo nhân dân địa phương không ai được phép lấy nước ở đây. Chức năng của bể này là lắng các tạp chất. Nước từ đây chảy trực tiếp hay qua vòi xuống bể dưới.
  4. Bể lấy nước sinh hoạt. Giữa bể lắng và bể này thường có bức tường ngăn bằng đất hay kè đá. Bức tường này có thể coi là đập chắn nước có tác dụng ngăn giữ nước ngầm để có thời gian lắng đọng các tạp chất. Nước từ bể lắng xuống bể lấy nước trực tiếp rỉ qua bức tường chắn hoặc qua các vòi dẫn nước bằng đá, gỗ, thân cây cau. Có hệ thống có một vòi, có hệ thống có 2, 3 vòi. Các vòi bằng đá có hình bán trụ, chiều dài trung bình là 1,30m. Trên bề mặt có rãnh chảy dọc thân và chiều ngang của rãnh là 1,10m. Các vòi phần lớn đã bị vỡ, gẫy, ít cái còn nguyên.
  5. Một bậc thấp hơn nữa là bể chứa, nơi dân địa phương tắm rửa, giặt giũ… Bể này cũng được kè đá, thường có kích thước lớn hơn bể trên, ở giữa thường có các tảng đá làm nơi giặt, rửa.
  6. Bể tràn hay bể tháo, có kích thước lớn. Nước đọng lại như ao. Đây là nơi trâu bò ra tắm, uống nước. Hiện nay phần lớn chúng đã bị phá.
  7. Hệ thống rãnh (lạch, mương) dẫn nước chảy từ bể tràn ra ruộng lúa. Hệ thống này cũng được xếp đá hai bên để tạo thành dòng chảy. Xung quanh khu vực này hiện trồng rất nhiều rau “liệt” (còn gọi là xà lách xoong).
  8. Đều thực hiện hai chức năng: Cung cấp nước cho sinh hoạt và tưới tiêu.
  9. Đều cùng mục đích khai thác nguồn nước ngầm. Kết cấu của chúng phụ thuộc vào từng loại mạch cụ thể (ngầm hay nổi/phun).
  10. Đều lợi dụng đặc điểm của dòng chảy tự nhiên theo chênh lệch về độ cao. Thành phần cấu thành các hệ thống nhiều hay ít là do độ dốc và trữ lượng nước mạch quyết định.

đ. Các hệ thống, bể giếng tham gia điều tiết nước bằng kỹ thuật gia cố đá để giữ nước theo kiểu tự động dâng, tạo các rãnh dẫn nước bằng đá. Đá sử dụng đều là đá có nguồn gốc tại chỗ, phần lớn không có dấu vết chế tác. Kỹ thuật xếp đá, kè đá phù hợp với những vùng có độ dốc để không bị xói mòn và cuốn trôi.

Như vậy, phải chăng môi trường tự nhiên (đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu…) đã buộc cư dân ở đây phải tìm cho mình cách lấy nước hợp lý, sáng tạo này?

- Những điểm khác biệt:

  1. Có loại lấy nước mạch nổi, phun và do đó bể lấy nước được kè đá hoặc đắp đất trên bề mặt; có loại lấy nước mạch chìm chảy ngầm và do vậy giếng lấy nước phải đào sâu xuống đất.
  2. Có loại có, có loại không có vòi dẫn nước.
  3. Có loại có cấu trúc phức tạp, nhiều thành phần, có loại có cấu trúc đơn giản (cấu trúc một bể, một kênh dẫn nước; cấu trúc bể đôi và kênh dẫn nước).

Việc phân loại các công trình khai thác nước ngầm ở vùng phía bắc tỉnh Quảng Trị theo chúng tôi không thể dựa vào số lượng vòi chảy như M. Colani đã làm. Tiêu chí đó không nêu rõ được đặc trưng kỹ thuật và cơ cấu xây dựng. Các hệ thống bể có hay không có vòi chảy đều được xây dựng theo cùng một nguyên tắc và chúng đều thuộc một kiểu.

Chúng tôi thấy rằng tùy theo nguồn mà những công trình này thuộc về hai loại:

  1. Hệ thống bể xếp đá lấy nước mạch ngang phun từ sườn, chân đồi. Loại này có hai kiểu:
  2. Có bể lắng trước khi nước ra vòi chảy vào bể nhận nước, rồi xuống bể chứa, qua bể tràn và từ đây chảy ra ruộng qua các kênh rạch. Điển hình là các “giếng” Kình, “giếng” Đào[7].
  3. Nước nguồn từ vách đồi luồn qua các khe đá, tấm đá chảy thẳng vào bể nhận nước (không có bể lắng) xuống bể chứa, bể tràn hay từ bể nhận nước qua hệ thống kênh rãnh chảy luôn ra ruộng, ví dụ: “giếng” Ông, “giếng” Cái, “giếng” Tép…

Như vậy, có thể thấy rằng trong loại bể thứ nhất này thì kiểu 1 là kiểu phức hợp, kiểu 2 là kiểu đơn giản.

  1. Hệ thống giếng được đào sâu xuống đất, được kè đá bao quanh với mục đích lấy nước mạch ngầm. Đây là loại bể kép, theo nguyên tắc bình thông nhau và có kênh, rãnh dẫn nước tưới cho các ruộng lúa xung quanh. Loại này thấy có ở Gio Linh, Cam Lộ, song chủ yếu phân bố ở Vĩnh Linh.

Các hệ thống bể, giếng thường phân bố ở vùng sườn hay chân đồi đất đỏ. Khu vực xung quanh không có sông, suối, ao, hồ,… Toàn bộ trữ lượng nước vùng Cồn Tiên nằm ngầm dưới lớp đất đỏ (M. Colani 1940: 84). Trong khi đó, hệ thống giếng ở Vĩnh Linh lại bám theo một dòng chảy mà người Pháp gọi là sông Liêm Công Tây (M. Colani 1940: 43).

Những hệ thống bể, giếng trước hết cung cấp nước phục vụ đời sống hàng ngày (đáng chú ý là có những quy định cụ thể, nghiêm ngặt: lắng bể, lấy nước sinh hoạt, bể chứa nước tắm giạt, bể súc vật uống nước…). Nước dư thừa chảy qua hệ thống kênh rãnh tưới cho các ruộng lúa, vườn rau. Chính đặc điểm đa chức năng này tạo nên tính khu biệt và độc đáo của chúng. Thông thường những kênh rãnh từ các hệ thống dẫn nước chảy thẳng ra các ruộng (ruộng bậc thang, ruộng trũng, phẳng quanh khu vực. Song, trong một số trường hợp, nước của vài hệ thống chảy dồn vào một khe, khe này có tác dụng điều hóa nước tưới. Ví dụ: Khe Cừ nhận nước của các “giếng” Ông, Bà, Voi, Cái, Diềm. Ở một vài chỗ còn có các ao hồ với những đập bằng đất, đá, cây tập trung lưu lượng nước như hồ Sen, ao Sara… Nước từ những giếng quanh vùng Cồn Tiên còn chảy tưới cho một số ruộng ở vùng cồn cát ven biển. (M. Colani 1940: 28, bản vẽ LXVIII- trên).

Hiện nay một số giếng đã bị phá những vẫn còn khá nhiều giếng vẫn đang được người dân sử dụng, nước giếng vẫn trong và nhiều. Di sản văn hoá này cần được giữ gìn theo một quy hoạch dài hơi và khoa học (Ảnh chụp năm 2015)

[1] Chúng tôi sử dụng chữ vũng dịch từ chữ “basin” của Tạ Chí Đại Trường. Dân địa phương gọi tất cả các công trình này giếng.

[2] Theo chúng tôi không thể dùng số lượng vòi chảy làm tiêu chuẩn kỹ thuật để phân loại các công trình khai thác nước này. Chúng tôi sẽ làm rõ thêm vấn đề đó ở phần phân loại của mình.

[3] Để tiện theo dõi, chúng tôi sử dụng từ giếng theo dân địa phương đang dùng để gọi tất cả các công trình khai thác nước trong vùng.

[4] Thực ra không thấy có lớp gốm hiện đại, được rải ra khỏi làm đục nước, chắc bờ như Tạ Chí Đại Trường nhận xét (Tạ Chí Đại Trường 1991: 49).

[5] Rõ ràng là những chỉ dẫn của P. Cadière mỏng manh và không nhất quán. Kết quả khảo sát của chúng tôi ở Tùng Luật (gần Cửa Tùng); Phố Hội (gần Cửa Việt). Những địa điểm ở các vị trí thuận lợi cửa sông, ven biển cho thấy: có lẽ P. Cadière đề cập tới những bến thuyền (cảng thị), mà dọc cửa biển miền Trung có không ít. Ở những bến thuyền trên thấy tập trung nhiều mảnh gốm, sành sứ Trung Hoa, Đại Việt, Chăm, niên đại khác nhau.

[6] Việc thờ cúng ông Tiền khai khẩn, ông Hậu khai canh không hề mang dấu vết phân biệt chủng tộc, đây là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chung của người Việt.

[7] Như phần trên đã nói, hiện nay dân địa phương gọi tất cả các công trình này là Giếng, để tiện theo dõi chúng tôi vẫn dùng tên gọi đó đặt trong ngoặc kép; còn nếu không trong ngoặc kép thì hiểu là loại đào sâu xuống dưới đất.

GS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung

  • 127
  • 0

Liên kết website

Số lượng truy cập

Cơ quan chủ quản: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đơn vị quản lý: Bảo tàng Lịch sử quốc gia - Giấy phép số: 164/GP-TTĐT cấp ngày: 31/10/2012

Chịu trách nhiệm: TS. Nguyễn Văn Cường - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Địa chỉ: Số 1, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Số 216, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Email: banbientap@baotanglichsu.vn - Tel/Fax: 84.4.38252853